sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Sài Gòn Ngày Trở Lại

1978 ….

Những năm sau này, thỉnh thoảng, tôi vẫn hát nho nhỏ một bản nhạc quần hành mà ngày xưa tôi rất là … không thích:

Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương vừa chiếm lại đêm qua bằng máu . Cờ bay, cờ bay oai hùng ta về với quê hương vừa chiếm lại, quân ta kéo về . Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quỳ hôn đất quê hương, Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng . Hồi sinh rồi, này mẹ, này em, vui đêm nay, qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời . Ði lên, đi lên, trên hoang tàn, ta xây dựng ngày mai …

Có thời gian bản nhạc đã làm tôi khó chịu vì tôi vốn không ưa những bài hát đồng ca, không khoái cái cảnh cầm súng đi trong hàng, vừa hát vừa đếm nhịp, và vì tôi đâu đã biết thế nào là cái thân phận của một người chiến bại, cái tâm cảm của một kẻ mất quê hương ! Tôi nghe tin tái chiếm được Quảng Trị với một vẻ thờ ơ và hờ hững cũng thờ ơ và hờ hững y như lúc được tin thất thủ Phước Long .(Chao ơi, tôi thực lấy làm tiếc vì một phần đời ti tiểu, khốn nạn của mình) . Mãi cho đến khi nửa phần quê hương còn lại mất luôn vào tay của một lũ người khát máu, tôi mới ngẩn mặt ra, mới thất thía nỗi đau đớn sót xa của đồng bào mình ở Phước Long, Quảng Trị vào những thời điểm cũ . Quảng Trị ơi, Phước Long ơi, quê hương yêu dấu ơi, xin nhận nơi đây một lời tạ tội chân thành và niềm thống hối vô biên của một kẻ – đã có lần – sống như một tên vô loại !

Tôi vừa ngồi nắn nót viết lại cả bản nhạc ngày xưa mình ghét mà bùi ngùi xúc cảm, mà thấy ngẩn ngơ thương sót cho từng con sâu, ngọn cỏ đang bị dày xéo trên đất nước của mình; và thấy nhớ Sài Gòn đớn đau, quay quắt . Nhiều đêm, tôi cứ nghĩ đến những gót chân thô bạo đang dẫm nát Sài Gòn mà thấy se lòng . Nhiều chiều, tôi cứ đứng chống cuốc nơi một trại tù heo hút, nhìn về hướng Sài Gòn mà thương tiếc đến đứt ruột một buổi chiều nào khác đã xa xăm – nơi thành phố cũ .

Sài Gòn, đã bao lâu rồi tôi không trở lại nơi đó ? Dẫu biết rằng Sài Gòn đang rên xiết, đang quằn quại, rẫy rụa; tôi vẫn thiết tha mong mỏi nhìn lại được Thủ Đô trong những giây phúr kinh hoàng và bi thảm ấy .

*

*     *

Niềm mơ ước thê thiết của tôi rồi cũng có lúc trở thành sự thực . Tôi được tạm tha . Chuyến xe đưa tôi trở lại Sài Gòn khởi hành từ Bảo Lộc, một tỉnh lỵ cao nguyên, nơi tôi đã bị giam giữ nhiều năm . Tôi quá mệt và quá đói nên cứ gục người mà ngủ, trên một chiếc xe đò bẩn thỉu và chật chội .

Khi tôi tỉnh giấc, xe đã vào đến Hố Nai . Ngay từ khi còn bé, trên những chuyến xe đi từ Đà Lạt xuống Sài Gòn . Vẫn những hình ảnh quen thuộc lại hiện ra trước mắt . Từng căn nhà nho nhỏ nối tiếp nhau, với vài ba cây ăn trái và khoảng sân rào dậu chung quanh . Qua một con đường lỗ chỗ ổ gà, xe chạy thật chậm . Tôi nhìn kỹ hơn vào từng căn nhà và suýt kêu lên vì thảng thốt . Trên mọi bức tường chính diện đều có vẽ một lá cờ đỏ sao vàng nho nhỏ . Bên trong, cạnh ảnh Chúa lồng khung kính còn có thêm tấm ảnh chân dung của Hồ Chí Minh . 1954-1975: hai mươi mốt năm, thời gian tuy có dài nhưng vẫn chưa đủ an toàn cho một lần chạy chết . Hố Nai, Gia Kiệm, Giốc Mơ, Phước Tỉnh …và bao nhiêu địa danh nữa không còn là nơi nương náu an bình cho những người dân miền Bắc di cư . Họ đã bị cộng sản bắt lại ngay giữa miền Nam . Tôi chưa kịp tìm hiểu về những đòn thù mà họ đã và sẽ phải chịu đựng, nhưng chỉ cần nhìn cảnh tượng những giáo dân ngoan đạo phải treo cờ và chưng hình của kẻ thù không đội trời chung bên ảnh Chúa, cũng đủ cho tôi cảm nhận được thấm thía nỗi uất hận trong lòng những người không may đó .

Từng ngôi nhà thờ xưa cũ vẫn còn nằm cách quãng dọc theo quốc lộ . Tháp chuông rêu phong, buồn tủi . Sân cỏ vắng vẻ đìu hiu . Hình tượng Chúa trông vẫn nhân từ nhưng không dấu được nỗi ưu phiền, trên thập tự . Lậy Chúa con là người ngoại đạo nhưng tin có Chúa ở trên Trời . Kính xin ngài sót thương cho hàng chục triệu tín đồ đang bị vùi dập khốn đốn trên  phần đất quê hương tù ngục này, cũng xin ngài đoái thương cho cả dân tộc bất hạnh của con . Nếu thực đây là thánh ý thì nhiều năm qua đã là một thời gian thử thách đủ dài cho một kiếp nhân sinh ngắn ngủi rồi !

Đức Tu vắng lặng, thưa người . Đường phố chỉ phơi bày một nếp sống cầm hơi . Tôi chạnh nhớ đến những ngày cả tỉnh Biên Hoà đông vui náo nhiệt mà thấy não lòng . Rồi xe bắt đầu đi vào xa lộ . Đường rộng thênh thang . Không còn những đoàn xe vận tải, du lịch ngược xuôi tấp nập . Cũng hết rồi hình ảnh của những cô cậu choai choai chở nhau bằng xe Honda chạy những đường lả lướt: ghé Thủ Đức ăn nem, lên Biên Hòa ăn bưởi, rồi về hồ tắm Thiên Nga ngồi nhìn đùi nhìn ngực nhau chơi . Hết giờ chơi lâu rồi thì phải ?

Thảng hoặc, cũng có vài cái xe đò chạy ngược chạy xuôi chiều, chất chứa đầy nhóc khách hàng, quang gánh và khoai củ . Những chiếc xe cũ nát, ì ạch, nặng nề chuyển bánh được nhờ vào thùng nhiên liệu tròn, cao hai ba mét. gắn ở phía sau .

–         Đi mấy cái xe chạy bằng than kiểu này đỡ hao tốn xăng dầu cho Nhà Nước và …ấm lắm đó nha !

Có hành khách buột miệng thốt lên một nhận xét mỉa mai . Nhiều nụ cười nửa miệng, nở vội trên những gương mặt xanh xao, mệt mỏi . Mùa Đông ở một nơi có tuyết mà được chen chúc nhau trên xe đò với hùng than rực lửa như vậy thì ấm cúng và hạnh phúc thật . Tiếc thay, Sài Gòn không có mùa đông !

Cách Mạng Về, thật sự, đã có lúc là niềm ước mơ làm ấm lòng không ít những người dân miền Nam cùng khổ . Bây giờ thì Cách Mạng Về đến nơi lâu rồi . Chắc chắn đâu có ai viễn vông đến độ nghĩ rằng Đảng sẽ gắn máy lạnh trên xe đò quốc doanh, nhưng cũng chả người nào ngờ được rằng Nhà Nước lại nỡ đặt nguyên cả cái thùng than rực lửa vào sau những chiếc xe  luôn luôn chật ních người như thế . Đến nông nỗi này thì e rằng ấm quá . Giá Cách Mạng đừng về thì hay hơn .

Xe đến Thủ Đức . Thủ Đức – Sài Gòn 12 KM . Cái bảng xanh nho nhỏ với giòng chữ trắng đã úa màu vẫn còn nằm nguyên ở vị trí cũ . Tôi cúi mặt tránh ánh mắt soi mói của một tên công an lưu thông đang đứng ở ngã tư . Không dưng mà thấy nhớ và thương quá một thằngquân cảnh !

Bên phải là đường dẫn vào chợ Thủ Đức, bên trái là đường dẫn vào trường Bộ Binh . Tôi nhìn mãi vào con đường nhỏ vắng lặng đó và tưởng như tim mình đập hụt liền mấy nhịp . Khi còn là sinh viên sĩ quan, tôi rất sợ và chán ngán những ngày tháng sống ở quân trường . Trời ơi, lúc hớn hỡ vác ba lô về đơn vị làm sao tôi ngờ được rằng lại có một buổi trưa mình cúi mặt đi qua trường cũ với cái tâm cảm bùi ngùi đến thế !

Đã có lúc tôi vô cùng thành thực khi nghĩ rằng: Chiến tranh là một hình thức sinh hoạt tồi tệ nhất của loài người ! Sự hà khắc, bạo ngược của chủ nghĩa cộng sản đã dậy cho tôi một quan niệm mới: trong nhiều trường hợp người ta bắt buộc phải cầm súng để chiến đấu đến giọt máu cuối cùng: nếu đây không phải là điều vinh dự thì vẫn là bổn phận cần thiết . Chao ôi, có phải tôi đã biết đến điều này muộn màng quá rồi không ? Bây giờ tôi mới thấy khát khao được cầm súng chiến đấu chống cộng sản dưới một lá cờ !

Xe chầm chậm chạy qua cầu Rạch Chiếc . Giòng sông đục vẫn hiền hòa chuyển mình dưới nắng . Hai bên bờ ô rô, dừa nước vẫn xanh um . Tôi đã có lần ngâm mình dưới giòng nước đó khi thực tập bài học Đại Đội Vượt Sông . Tự nhiên mà nhớ đến ông già Heraclite: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong cùng một giòng sông” . Thời gian qua đã bao nhiêu là nước chảy qua cầu rồi ? Như mới hôm nào tôi còn là một cậu sinh viên sĩ quan vừa tròn hai mươi tuổi . Bây giờ tôi đã sắp ba mươi . Gần ba mươi năm cằn cỗi, tang thương, thảm hại dù chỉ mới sau ba năm phải cắn răng để chịu lãnh những trận đòn thù .

Có cái cảm giác hoa mắt và choáng váng đến bất chợt . Tôi nhắm vội và gục đầu vào ghế xe . Thời gian gần đây – thỉnh thoảng – tôi vẫn phải đứng gục đầu vào cán cuốc vài giây khi bị choáng váng và hoa mắt như vậy . Rồi tôi lại vội ngẩng đầu lên, tiếp tục mở lớn mắt

Nhìn cảnh vật hai bên đường . Bỗng dưng tôi sợ rằng mình gục xuống thình lình rồi không bao giờ còn trỗi dậy được nữa . Tôi không thể và không có quyền gục ngã vào lúc này, khi mà quê hương còn đầy bón giặc . Bằng mọi giá tôi phải sống chứ . Mạng sống bây giờ là vũ khi duy nhất mà tôi còn có được để đối phó với kẻ thù . Dù thế nào chăng nữa tôi nhất định không câm nín, chấp nhận thân phận của một kẻ chiến bại cho đến hết đời .

Xa đến Nghĩa Trang Quân Đội . Pho tượng Tiếc Thương không còn đặt ngay trước cổng . Điều này làm tôi hài lòng . Chỉ mong kiệt tác này đã được vùi chôn ở một nơi nào đó . Nghệ thuật là sản phẩm của con người . Ngợm không thể và không có quyền thưởng thức . Hai chữ tiếc thương cũng không còn đủ ý nghĩa trước mộ phần của những chiến hữu đã hy sinh . Bây giờ ngoài sự tiếc thương, những người sống sót còn có bổn phận phải căm thù, và hận thù này phải được trả bằng máu mới cam lòng những người đã khuất .

Tôi nhìn sâu vào phía trong . Khoảng cách khá xa nên tôi không thấy gì được rõ ràng, ngoài một vùng um tùm cỏ dại . Chắc tất cả các mộ bia rồi cũng đều phải ngả nghiêng dưới những gót chân dầy xéo . Trời ơi, làm sao em biết bia đá không đau . Tôi thốt nhớ đến lời nhạc của Trịnh Công Sơn mà muốn rơi nước mắt . Tôi thương cho những kẻ đã thẳng lưng chiến đấu cho đến chết, và xót cho người nhạc sĩ tài hoa đã phải gập lưng để còn sống sót dưới một chế độ bạo tàn, mọi rợ !

Cuối cùng xe đi vào trung tâm thành phố . Đường Đinh Tiên Hoàng, rạp chiếu bóng Đakao – may quá – vẫn còn . Chỉ mất đi những khung vải quảng cáo quen mắt thật to và đẹp . Thay vào đó là những khung hình nhỏ xíu, sơn phết lem nhem, trông bẩn thỉu và bần tiện, với những tên tài tử vô danh, xa lạ: A-li-cốp, Bô-nhi-sô-lốp và gì gì đó …. Không dưng mà tôi thèm được nhìn lại những khuôn mặt mà đã có lúc mình vốn không ưa : Lý Tiểu Long, Vương Vũ, AlaiDelon, Hùng Cường, Út Bạch Lan hoặc bất cứ ai !

Tiếp đến là đường Hiền Vương . Những tiệm phở đều đóng cửa dù bảng hiệu vẫn còn nguyên hình những con gà vàng với chấm mắt đen . Trông chúng cũng có vẻ ngơ ngác như chưa kịp hiểu hết cái cảnh đời tang thương dâu bể .

Xe dừng lại ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ . Tôi chợt để ý có sự thay đổi . Đường Hiền Vương đã trở thành Võ Thị Sáu; và Pasteur có tên mới là Nguyễn Thị Minh Khai . Dẫy xe phở bò ở cuối con đư ờng này cũng không còn nữa . Có lẽ chị Sáu không thích ăn phở gà và chị Khai thì kiêng cữ thịt gà; hoặc giả, phở – nói chung – là một món ăn có quá nhiều thịt mỡ và thiếu mùi vị cách mạng nên cả hai chị đều không ưa . Vì vậy tôi đoán từ ngày mang tên hai chị thì tất cả những hàng phở trên hai con đường này đều sụp tiệm !

Cái gọi là cách mạng tháng 04 năm 1975 kể ra cũng mang lại cho nhân dân lao động ít nhiều bình đẳng . Lịch sử bây giờ không còn là nơi dành riêng cho vua chúa hay một giai cấp đặc quyền, đặc lợi nào nữa . Hiền Vương, Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực …. đều đã bị đẩy xê ra chỗ khác cho anh Trổi, anh Phong, chị Khai, chị Thối …. nào đó nhào vào lịch sử !

Sau khi chống Pháp, chống Mỹ, chống Nước Bạn Trung Quốc Vĩ Đại và bè lũ phản động quốc tế, chương trình được tiếp nối bởi những công cuộc xâm lăng những nước xã hội chủ nghĩa anh em nho nhỏ nằm kề . Đảng và Nhà Nước đã và đang luôn luôn tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân đi vào lịch sử . Chả biết bao giờ thì trên mới quyết định cho mọi người được nghỉ xả hơi để hưởng Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc ? Và nếu thực sự có một lúc như vậy thì e rằng số liệt sĩ xếp hàng đi vào lịch sử sẽ đông hơn thường dân . Thế mà chả có cảnh xô đẩy, chen lấn, dành giật đánh nhau đến vỡ đầu chảy máu, hoặc lại xẩy ra chuyện chợ đen, chợ đỏ, rất có phương hại đến tinh thần và đạo đức cách mạng . Nếu nhờ vào hên mà Đảng chưa đẩy toàn dân đến bước đường diệt chủng, thì rồi lại cũng đến tội cho lũ sử gia con cháu – sau này . Tụi nhỏ – chắc chắn – chả thế nào viết lại được những trang sử dễ coi .

Xe vẫn vào bến Pétrus Ký, với cái tên mới là Lê Hồng Phong . Sự hỗn loạn xẩy ra trước khi xe kịp ngừng bánh . Chừng hai mươi người đàn bà, lôi thôi, lam lũ vừa chạy theo xe vừa nhao nhao hỏi:

–         Có cái gì bán không ? Có mang trà, cà phê, gạo hay lê-ghim không cậu ?

Tôi lắc đầu, cười bối rối khi phải đối diện với những khuôn mặt đỏ gay đang thò sát vào thành xe . Tôi chưa hiểu ra câu hỏi của họ . Những hành khách khác cũng lắc đầu cười; họ cười mà như mếu:

–         Không, không có gì đâu . Ở nhà mãi sốt ruột không chịu được thì đi thử, vậy thôi . Chúng nó làm kinh bỏ mẹ, còn ai mà dám bán mua gì nữa . Có mà sạch vốn và rũ tù ấy chứ, chả chơi đâu .

Chiếc xe gần như đứng khựng lại giữa một hàng rào xích lô đạp, xích lô máy, Honda ôm ở vòng ngoài; và một vòng những người đàn bà lếch thếch, nhễ nhại sát xung quanh . Sau một hồi xoay trở khó khăn, vô hiệu; người tài xế bất lực, đưa tay quệt mồ hôi trán, thở dài:

–         Trời, đã nói là không có trà, cà phê, gạo bắp gì đâu mà . Tụi nó xét đột  xuất ghê thấy mẹ cả tuần nay rồi, bộ mấy bà không biết sao mà hỏi hoài vậy ? Buôn bán cái con khỉ gì nữa ở cái thời buổi chó má này !

Câu nói có vẻ thấm . Những bà bán hàng dãn dần ra . Giữa cái vẻ im lặng bất chợt của họ, tôi thấy rõ trong ánh mắt từng người nỗi chán chường và tuyệt vọng . Tôi mủi lòng nghĩ đến những người thân yêu: mẹ và chị của mình . Ôi, những người mẹ và người chị Việt Nam một đời tảo tần, đôn đáo, chịu thương chịu khó trăm chiều để giữ cho dân tộc tôi khỏi bị diệt vong . Họ đã âm thầm chịu đựng hy sinh qua biết bao nhiêu là biến cố đau thương dồn dập xảy ra trên cái phần quê hương bất hạnh này rồi ? Lịch sử khang trang vẫn thường không có chỗ để dành cho những người đàn bà Việt Nam anh dũng và vô danh đó .

Rồi đến lượt những khuôn mặt đàn ông đen đủi, gầy gò thò hẳn vào khung cửa, ngay khi xe dừng bánh:

–         Xích lô đạp, xích lô máy, xe ôm …. Nè thầy Hai ơi . Xe tui chạy bằng xăng đàng hoàng, không có chết máy giữa đường đâu …. Có cái gì trên mui không ? Tui đỡ xuống nha ?

Sau cái biến cố nghiệt ngã tháng tư năm 1975, chả hiểu Đảng đã bố trí cho bao nhiêu đồng chí công nhân lao động xe xích lô và xe ba gác nhẩy bổ vào guồng máy lãnh đạo để …mị dân ? Nhưng riêng ở bến xe Sài Gòn chiều hôm ấy thì số lượng những người phu xe muôn đời khốn khổ có vẻ đông gấp ba lần ngày chưa cách mạng . Và giai cấp công nhân vô sản bây giờ trông rách rưới, gầy ốm hơn xưa nhiều quá . Cách họ chào đón khách hàng nghe cũng ân cần và khẩn thiết hơn . Đời sống hiển nhiên là khó khăn và vô vọng cho mọi giới người . Vậy mà hiện tại ở nhiều nơi, ngoài Việt Nam, vẫn có người cứ tưởng đây là cuộc cách mạng của giai cấp công nông !

Xích lô, xe ôm bây giờ không còn là những phương tiện vận chuyển phổ thông nữa . Chả mấy ai còn đủ khả năng tài chính để phiêu lưu trên một chiếc xích lô đạp từ bến xe về đến tận nhà . Hầu hết hành khách đều khệ nệ ôm hành lý đi bộ vài trăm mét ra ngã Bảy hoặc đường Trần Quốc Toản để đón xe lam hay xe buýt .

*

*     *

Và đây là Sài Gòn . Sài Gòn là Sài Gòn chứ hoàn toàn và tuyệt đối không có dính dáng đến cái tên Hồ Chí Minh thối tha chết tiệt nào cả . Sài Gòn trong một thời gian ngắn tôi đ ược cho phép tạm để chờ ngày đi Kinh Tế Mới .

Tôi đạp xa đi loanh quanh giữa trung tâm của Thủ Đô . Tôi đi, nhìn, và sống trong nỗi bàng hoàng đau đớn của một kẻ chỉ còn quyền tạm trú trên quê hương đang rẫy chết của mình .

Dưới mắt tôi mấy năm đốt đuốc soi rừng, Sài Gòn vẫn còn phồn thịnh lắm . Tôi ghé vào cà phê Mai Hương . Cà phê pha vợi lạt lẽo vô duyên . Tôi “cắn răng” mua thêm hai điếu thuốc Lucky . Qua khói thuốc tôi chợt có cảm tưởng rằng bây giờ rất có thể là một buổi chiều nào đó của những năm 1973, hay 74 … Mấy năm tù đầy chỉ tựa như là một giấc ngủ trưa ngắn ngủi . Tôi chỉ vừa thức giấc, sau một cơn … ác mộng !

Ở mặt tiền của những con phố chính, không có gì đổi thay rõ nét lắm . Đường phố chỉ thiếu đi những loại xe có động cơ, và thiếu những người lính với đủ mọi quân phục, sắc phục khác nhau . Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy những tà áo dài thướt tha, một vài cái jupe ngắn, hai ống quần jean bó sát một cặp đùi thon . Vẫn có những chiếc sơ mi soie Pháp, quần serge-Anglais cắt khéo, và những bộ mặt nhởn nhơ, vô tư y như những con cá đang bơi lội trong chậu kính .

Chả hiểu bây giờ ở Đài Bắc, ở Vọng Các, ở Hồng Kông …các cô các cậu choai choai ăn diện ra sao ? Riêng ở Sài Gòn thời trang không có gì thay đổi . Cách ăn mặc của người dân Sài Gòn (một-số-rất-ít-những-người-dân-Sài-Gòn), sau 1975 không bao giờ có thể bị coi như là old-fashion hoặc out-of-date . Trong bức màn sắt, thời gian và thời trang đều có khuynh hứng chuyển động lùi . Nhờ Đảng vận dụng sáng tạo ra nền kinh tế quà biếu nên đã đổi bức màn sắt thành bức màn tre, và giữ cho thời trang đứng mãi được một chỗ . Thường, người ta đi theo thời trang y như là người mù đi theo con chó . Vì vậy, khi chó cũng đã bị cột chân bởi những thứ xiềng xích cách mạng, như sổ đi lại, giấy thông hành …thì thời trang – tất nhiên – cũng phải đứng yên một chỗ !

Và trong khi toàn quốc đang rẫy chết dưới sức đè nặng của búa liềm cộng sản thì một số rất ít những con người may mắn vừa kể đã mang lại cho đường phố ở trung tâm Sài Gòn một chút sinh khí . Cái sinh khí tuy thảm thương nhưng cuồng nhiệt của những con người đang sống vội . Họ sống như sợ rằng ngày mai sẽ không còn được sống . Ngày mai có thể họ sẽ vào tù . Ngày mai sẽ phải có lệnh đổi tiền và kiểm kê tài sản . Ngày mai sẽ ngưng chế độ gửi quà . Họ sống như không có ngày mai !

Mặc dù đã rơi xuống gần đến đáy của sự tuyệt vọng và khốn khổ người dân Việt còn nỗi lo sợ và ám ảnh khủng khiếp: họ vẫn cứ sợ rằng đường lối và chính sách của cộng sản còn nhiều thay đổi, và mỗi lúc sẽ một thêm hà khắc, tàn độc hơn . Tất nhiên những kẻ cư ngụ ở Sài Gòn đeo nặng nỗi ám ảnh và lo sợ này hơn bất cứ ai . So sánh một cách tương đối, Sài Gòn vẫn được coi như là … thiên đường của Việt Nam; hay nói đúng hơn trong cái ngục tù bao la có tên gọi là Đông Dương . Sài Gòn mới chỉ là tầng đầu địa ngục !

Bây giờ thì tôi hiểu, hiểu thấm thía bốn chữ phồn vinh giả tạo mà cộng sản Hà Nội vẫn thường dùng để mai mỉa nền kinh tế của miền Nam, Việt Nam trước ngày họ đến được đây . Còn gì giả tạo hơn cái sinh khí mong manh mà người cộng sản bắt buộc phải hà hơi tiếp sức để Sài Gòn chưa lăn đùng ra chết ?  Đúng là Sài Gòn của tôi vẫn sống . Cái vẻ tươi sáng của một con cá nằm trong tủ lạnh . Cái vẻ giả sống như khuôn mặt ướp của con cáo Hồ Chí Minh đặt trong lồng kính .

Sài Gòn chỉ còn là biểu hiệu cho cái nền kinh tế chưa kịp tàn lụi của cả miền Nam . Sài Gòn vẫn thoi thóp với những điểm sống hổn hển hội tụ nơi những con phố chính, để che đậy cho số phận của mấy chục triệu người dân đang ngoắc ngoải chết dần mòn ở những công trường hay nông trường heo hút . Dầu vậy, cái vẻ hào nhoáng bề ngoài của Sài Gòn vẫn đủ sức để lòa mắt được những ký giả ngoại quốc mới vào nghề, ít kinh nghiệm nhưng lại nhiều thiên kiến !

Dù sao hai lần đổi tiền và mấy lượt kiểm kê tài sản, người cộng sản chưa vét được ráo nạo hầu bao của người dân Sài Gòn . Đảng và Nhà Nước vội vàng cho lệnh hồi sinh Thanh Thế, Givral, Majestic … dưới hình thức những cửa hàng ăn uống quốc doanh, với mục đích tạo cho Sài Gòn còn có vẻ là một nơi sống được, và để móc túi những kẻ có tiền .

Một bữa ăn đàng hoàng, gần đủ no, tính theo giá chính thức khoảng chừng nửa số tiền lãnh được hàng tháng của một công nhân viên có tiền lương trung bình, và gấp năm lần tiền phụ cấp mà một anh bộ đội được phục vụ hàng tháng . Đối tượng phục vụ của nhà nước chuyên chính vô sản vẫn chỉ là những kẻ có hay còn tài sản . Cái định luật khắt khe này – dù ở thiên đường vô sản – cũng miễn có loại trừ !

Tôi tiếp tục đạp xe đi chỗ này, chỗ nọ ….

Công trường Quách Thị Trang, bây giờ mới đúng là ghế đá công viên dời ra đường phố, người già ho hen nằm thiu thiu ngủ và em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi . So sánh với những lời nhạc “tiên tri” đó, chỉ có điều khác là còn thêm cái cảnh của ba ông công an áo vàng, tay lăm lăm tiểu liên Tiệp Khắc, lui tới đi tuần; dù vậy, trên tất cả mọi băng ghế đều chật người nằm hay ngồi ngiêng ngửa . Mặt họ hốc hác, tóc cháy vàng hoe, mắt lờ đờ mệt mỏi . Quần họ mặc trên người thì rách tả tơi và hôi hám .

Cuộc thi đua để tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa – coi bộ – có nhiều người bỏ cuộc hoặc cương quyết không tham dự . Chắc chắn những phần tử chống đối tiêu cực, lừng khừng, lười biếng này rồi sẽ có lúc bị “nhân dân” trừng trị đích đáng . Nhưng bây giờ thì …. chưa . Bởi lẽ, họ đông quá . Hơn nữa Nhà Nước cũng chưa rảnh để triệu tập những toà án nhân dân lên án giới người này .

Đảng đang còn bận thanh toán cho kỳ hết tụi tàn dư ngoan cố của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và thanh trừng nội bộ, cùng với hàng ngàn thứ chuyện rắc rối nhức đầu khó gỡ khác ở miền Nam .

Lãn vào giữa những khuôn mặt chẩy dài của người dân miền Nam là những khuôn mặt tỉnh táo đến độ ngơ ngác của người dân miền Bắc, mà phần lớn là bộ đội . Họ đến miền Nam bằng nhà ga Sài Gòn; xuống khỏi xe lửa họ đi thẳng ra công trường Quách Thị Trang . Có thể là họ phân vân không biết là sẽ phải đi đâu và về đâu ? Cũng có thể là họ còn quá bỡ ngỡ và nhức đầu bởi cái sinh hoạt náo nhiệt của một rừng xe … đạp hay xe gắn máy ở Sài Gòn . Mới có ba năm, chứ không phải là ba chục năm Đảng trị nên Sài Gòn vẫn còn vui vẻphồn thịnh hơn Hà Nội nhiều lắm .

Đầu đường Hàm Nghi: Chợ trời quần áo . Không hàng quán, không kiosque, chỉ có những chiếc poncho trải vội với đủ thứ y phục của nam, phụ, lão, ấu … Tất nhiên, toàn là đồ cũ ! Bảnh nhất là những chiếc áo chemise hay quần tây được treo trên móc và cầm chắc trên tay người bán . Dù chắc chắn là đã trải qua hai ba đời chủ, những bộ quần áo này sau khi được giặt ủi lại vẫn còn có giá và được coi như bộ đồ ăn nói của nhiều người dân Sài Gòn .

Huyền thoại về nhà máy dệt Nam Định, sau bao nhiêu năm được đài phát thanh Hà Nội, báo Nhân Dân và nhiều tờ báo phản chiến khác ở miền Nam thêu dệt đã khiến cho người dân Sài Gòn ngỡ ngàng khi nhìn thấy y phục rách rưới, và vá víu của người dân Hà Nội . Và cái huyền thoại này chết không kịp ngáp ngay trên một hè phố, bầy bán quần áo cũ, ở miền Nam . Nhân dân cả hai miền, có thể vẫn còn bất đồng ý kiến với nhau về vài chuyện lẩm cẩm, nhưng tất cả đều cùng nhau lùng sục tìm mua cho bằng được áo quần cũ may bằng vải  … ngụy !

Giữa đường Hàm Nghi: Chợ trời đồ sắt và đồ điện . Người ta bầy bán mọi thứ vật dụng cần thiết: từ cái căm xe đạp cũ cho đến piston của máy chạy dầu, có khả năng dùng để …. vượt biên ! Mỏ lết, kềm bấm, bạc đạn, bù lon …đủ  kiểu đủ cỡ được bầy biện nơi đây đều phải theo tiêu chuẩn kỳ lạ là tuyệt đối cũ . Vật liệu do những công ty quốc doanh sản xuất là coi như miễn có khách hàng . Người ta mua dụng cụ về để dùng chứ không phải để …vứt đi !

Nếu không tìm được những phụ tùng origin của Nhật hay của Mỹ thì đành sài đồ made in Cholon . Còn cái gì làm tại Hà Nội hay Hồ Chí Minh City thì xin để nhà nước xuất khẩu cho nhân dân tiến bộ thế giới mua sài . Con dân Việt Nam “chúng em” thì chả dại . Đã ở mấy năm trong chăn, chả lẽ lại chưa biết rằng chăn có rận ! Có một hiện tượng cần phải được ghi nhận: vài tháng sau khi vồ được miền Nam thì báo chí và đài phát thanh Hà Nội bớt hẳn cái chuyện ba lô, khoe khoang khoát lác về những hoạt động rầm rộ của nhà máy thép Thái Nguyên . Chả hiểu rằng cũng có lúc vẹm biết ngượng mồm hay vì trước một thực tế quá phũ phàng như vừa mô tả thì ngay cả những con vẹt cũng biết rằng tốt hơn là nên khép mỏ lại .

Sôi nổi, hồi hộp và bi đát nhất là cảnh những chợ trời thuốc tây, ở cuối đường Nguyễn Huệ hay đầu đường Trương Công Định . Không đâu mà chuyện mua bán lại diễn ra với nhiều gian nguy và bất trắc như ở nơi đây . Chỉ cần một chút sơ xẩy, hoặc thiếu may mắn khi có chiến dịch bố ráp là cả người bán lẫn người mua đều có thể bị bắt đi cải tạo, với tội danh là: mua và bán hàng quốc cấm !

Xin đừng ai hiểu lầm rằng Đảng và Nhà Nước ngăn cấm nhân dân uống thuốc . Không hề có chuyện vô lý đó . Trên chỉ muốn rằng tất cả mọi chuyện – kể cả chuyện đau bệnh thuốc thang – phải được diễn ra trong vòng trật tự và kiểm soát được, thế thôi . Nếu ai mắc bệnh thì cứ mang sổ gia đình (có tên mình trong đó) đến phường khóm để ủy viên y tế định bệnh rồi bán thuốc . Vì tiêu chuẩn lương thực giống nhau nên sau khi ăn vào người dân chả có lý do gì phát bệnh khác nhau được . Bởi thế, bệnh gì rồi cũng được phát chung một vài loại thuốc giống y như nhau thôi . Sau chừng mười lần như vậy mà bệnh không thuyên giảm và nếu bệnh nhần vẫn còn sống, họ sẽ được cấp giấy giới thiệu để khám bệnh tại nhà thương . Nơi đây, sau nửa ngày chờ đợi bệnh nhân sẽ được gặp bác sĩ . May thì gặp một ông bác sĩ tốt nghiệp ở đại học y khoa Sài Gòn, không may thì gặp phải một ông bác sĩ tốt nghiệp ở đại học y khoa Mát-Cơ-Va hay Hà Nội . Vô phước hơn nữa thì có thể vồ nhầm một ông bác sĩ tốt nghiệp ở  …cục R . Họ cũng chẩn bệnh, cho toa và muốn sống thì khôn hồn cầm ngay toa thuốc chạy ra  … chợ trời ! Những tiệm thuốc tây quốc doanh, nếu có mở cửa thì cũng để cho vui, chứ ít khi có thuốc bán lắm . Và lỡ mà có bán thiệt thì chưa chắc đã có người dám mua . Nước ngọt do Nhà Nước làm đã khiến cho vô số người vong mạng . Bệnh chứ bộ điên sao mà đi uống thuốc tây quốc doanh !

Suy tính hơn thiệt chán rồi cũng phải đưa ra chợ trời thôi . Tất nhiên là tốn bộn tiền . Trong trường hợp không có tiền thì chắc chết, chết chắc ! Có ở nơi đâu trên cuộc đời này mà những kẻ không tiền vẫn còn sống được ?

Và đây là chợ sách . Cả kho tàng văn hoá miền Nam bây giờ còn được xếp nằm thoi thóp ở hai bên lề đường Bùi Quang Chiêu, dài đâu chừng trăm mét . Bán sách cũ ở đây có môn bài và phải nộp thuế đàng hoàng . Đảng và Nhà Nước có giao trước là chỉ được bán những loại sách khoa học, kỹ thuật, thể dục thể thao hay thuần túy nội trợ đó nha . Sách khoa học – tất nhiên – là có khách, kể cả khách ngoại quốc như Nga Sô, Hung, Bảo, Ba Lan …. Ai mà không biết khoa học của khối cộng đi sau tụi tư bản đâu cỡ  chừng hơn một thập niên ! Chỉ cần lật vài trang cuốn sách Đường Vào Khoa Học, hay xem qua tuần báo Khoa Học Phổ Thông của “thầy” Phạm Hoàng Hộ là người ta có ngay một khái niệm rõ ràng về hai chữ … lạc hậu !

Chỉ thị của Nhà Nước về việc buôn bán sách cũ – tất nhiên – là không được chấp hành . Đảng bảo sao mà nghe vậy thì có mà chết đói . Bên cạnh những cuốn sách giáo khoa vớ vẩn, những tác phẩm vô thưởng vô phạt; người ta vẫn dễ dàng tìm được Arthur Koesler, Solzhenitsin, Remarque, Georghiu …. Nguyên bản hay bản dịch . Những nhà văn chống cộng của miền Nam như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Phan Nhật Nam …rõ ràng được ái mộ và tìm đọc một cách cẩn thận hơn xưa . Nhà Nước càng chi tiền nhiều cho bộ Thông Tin thì tinh thần kháng cộng của nhân dân càng mãnh liệt . Đã đến lúc mà mọi công tác thông tin, tuyên truyền của người cộng sản đều đã mang lại những tác dụng rất phản tuyên truyền . Người dân miền Nam không ngu dốt và dễ gạt như Đảng mong đợi . Sự bịp bợm, khoác lác của Nhà Nước chỉ làm cho lòng người thêm uất hận và căm thù mà thôi .

Loại sách Học Làm Ng ời đã dần mất khách vào những năm cuối của Nền Đệ II Cộng Hòa, nay lại được phục hưng . Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần và Hoàng Xuân Việt lại tiếp tục là những soạn giả được giới trẻ yêu chuộng . Cái mệnh danh là “Đạo Đức Cách Mạng” chỉ làm lóa mắt được một thiểu số người trong một thời gian ngắn, những ngày sau đó thì người ta nhờm tởm . Không có một chủ thuyết nào cảm được lòng người và đủ sức biện minh cho những hành động dã man, tàn độc diễn ra hàng ngày dưới mắt dân chúng . Thế hệ trẻ Việt Nam, dầu sinh ra trong thời gian ly loạn, và trưởng thành trong thời buổi nhiễu nhương, khi còn điều kiện lựa chọn, họ phân biệt được ngay đâu là chân và đâu là ngụy ! Thà là phải dành dụm tiền bạc hàng nửa tháng, phải tìm kiếm cả tuần lễ mới mua được một bản dịch của André Maurois, Luiser Rinser hay Lâm Ngữ Đường …., viết về một nghệ thuật sống nhân bản, chứ không ai chịu nổi cái lối sống theo “Năm Điều Bác Dạy” hoặc bước vào tiệm quốc doanh để mua những “tác phẩm” của nhà xuất bản Thanh Niên hay Phụ Nữ bán với giá rẻ mạt là vài chục xu .

Thêm một hiện tượng nữa về sách vở cần được ghi nhận là tất cả những sách viết về phép Tân Dưỡng Sinh của Ohsawa đều trở nên hiếm hoi và cao giá . Lý do thì vô cùng giản dị . Sống ở một xã hội mà vài tháng người ta mới có dịp nhìn thấy thịt cá một lần, và gạo thóc là một loại thực phẩm xa xỉ thì ăn cơm với gạo lức muối mè, hay tuyệt thực đúng là một phương cách dinh dưỡng rất đáng được mọi người lưu tâm .

Điều vô cùng an ủi là chợ sách Bùi Quang Chiêu – Calmette đông đúc hơn bất cứ loại chợ trời nào khác . Cái thứ tình cảm ngược xu ôi theo đúng luật đi đ ờng của Nhà Nước phơi bầy ở những tiệm sách quốc doanh bị khinh bỉ, coi thường một cách không dấu diếm . Khách hàng của loại này chỉ là những ngư ời buôn bán hàng rong . Họ cần giấy tờ gói xôi hay gói bánh mì . Sách vở của người cộng sản dùng để đọc chơi vài phút cho biết, trong cầu tiêu, rồi dùng luôn vào việc chùi đít thì còn khả dĩ, chứ đọc hoài cũng bị buồn nôn hay táo bón .

Dù vậy, có một sự thực mà không ai có thể phủ nhận được: dưới chiêu bài “Bài Trừ Văn Hoá Mỹ Ngụy”, người cộng sản đang tận dụng bạo lực để cố bóp cho chết văn học và văn hoá Việt . Những cuốn sách cũ – dù được trân trọng cất dấu, giữ gìn bởi một số người – vẫn cứ rách nát và thất lạc dần dần theo ngày tháng ! Trong vòng vây khốn của bạo quyền, tính mạng con người cũng hoá mỏng manh . Ước vọng cố bảo vệ văn hoá dân tộc qua sách vở – gần như – đã trở thành một điều không tưởng . Có trông mong vư ợt thoát khỏi vòng tù ngục . Chắc chắn là dù ở chân trời góc bể nào đi nữa, những kẻ ra đi thế nào cũng có cái quyền tự do tối thiểu để có thể tiếp tục nuôi dưỡng và khai mở một nguồn mạch cho cái giòng sinh mệnh của nền văn hoá Việt đang bị bóp nghẹt, nơi chính quê hương của nó . Cầu mong cho những kẻ ra đi sẽ làm được công việc cần thiết tối thiểu này . Thì cũng cứ cầu mong vậy, chứ sao tự thâm tâm tôi vẫn cứ thấy  …lo lo !

*

*    *

Tôi rời bỏ những con phố chật chội đông người . Tôi thèm nhìn lại được một mảng trời có lãng đãng mây trắng, qua những tàn lá me xanh . Tôi đạp xe ngược đường Trương Công Định, qua Nguyễn Du rồi đi mãi đến tận Tú Xương . Có những ngôi biệt thự mở tan hoang cửa . Ở cổng vào, người ta đọc được trên một cái bảng nhỏ vài giòng phấn trắng, nắn nót những chữ đại khái như: Cà phê, Chè, Thạch, Trà đá … giá bình dân ! Bên trong kê bầy mấy chiếc bàn con cùng vài chiếc ghế cọc cạch . Khi nhìn vào bên trong, thỉnh thoảng tôi bắt gặp một vài tiểu thư đang ngồi  …ngáp gió !

Trong những ngày niên thiếu hoa mộng, tôi vẫn có những buổi chiều đạp xe qua những con đường vắng lặng này . Tôi nhớ rõ là lúc dó mình đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư, luôn luôn khuất rất vội sau cổng cao, tường kín . Bây giờ cách mạng đã phá đổ tường, mở bung cửa sắt; tuy vậy, tôi vẫn chỉ đạp xe ngang qua chứ không hề có ý dừng lại để bước vào bên trong . Tôi sợ, sợ phải nhìn thấy cảnh những tiểu thư khuê các …chạy bàn ! Sự thực là lòng tôi cũng còn đôi chút bâng khuâng, vương vấn; nhưng thôi, xin đành hẹn nhau một kiếp xa xôi nào khác vậy . Còn trong kiếp này thì nhìn lại nhau làm chi cho nó thêm đau . Sau chuyện đổi thay tang thương dâu bể này thì cuộc đời của mấy nàng, cũng như cuộc đời của chính tôi, kể như là … chấm hết !

Thảm thương hơn nữa là những cái biệt thự người vào kẻ ra tấp nập . Soong chảo móc đầy tường chính diện . Áo thun, quần lót giăng mắc khắp mọi nơi . Nhìn qua là một thằng điên cũng phải hiểu rằng ngôi nhà đã được tập thể hiện quyền làm chủ tập thể mất rồi . Cứ bỏ chừng năm sáu ông bà cán bộ cộng sản vào bất cứ nơi đâu chừng hai tuần lễ, nơi đó sẽ biến thành một cái  …nhà thổ ngay tức khắc !

Tôi lại băn khoăn tự hỏi, chả hiểu là những tiểu thư khuê các chủ nhà giờ đã phiêu bạt nơi nào ? Có thể là nàng đã trở thành tổ viên của một cái hợp tác xã nào đó ở những vùng kinh tế mới; có thể là nàng đã vùi thây trong lòng biển trên đường đào thoát khỏi thiên đường; cũng có thể là nàng đã trở thành một “waitress”, hoặc đang lo nhuộm tóc và đổi tên cho hợp với phong tục và thủy thổ nơi những vùng xa lạ !

Thảng hoặc, trên những đại lộ quí phái đó tôi lại bắt gặp một giàn hoa giấy đỏ tươi màu xác pháo . Màu hoa thắm quá nên dù không phải là thi sĩ, tôi vẫn không tránh được cái thương cảm bâng khuâng:

Đình thụ bất tri nhân tận khứ
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa

Thương ơi:

Cây có biết đâu người đã vắng
Xuân về vẫn nở cánh hoa xưa .

Gió đã gây gây lạnh . Tôi thốt nhớ bây giờ đã là tháng Mười Hai . Thảo nào, hoa giấy nở . Lại thêm một mùa Giáng Sinh nữa đến, ở một nơi mà Chúa đã khước từ . Tôi thấy đói nên theo đường Công Lý về lại trung tâm thành phố . Chiều đã xuống chạng vạng . Phải nhìn thấy “Saigon by Night” mới hiểu được thấm thía thế nào là đổi đời thế nào là tàn tạ !

Quốc Tế, Bồng Lai đều đóng cửa . Queen Bee , Đêm Màu Hồng, Hòa Bình, Paramount, Tour D’Ivoire đều cũng chả còn . Sao bỗng nhớ cái màu ánh đèn vàng ấm của phòng trà, tỏa nhẹ trên một tấm khăn bàn thật trắng, trên đó khép nép một bình hoa tươi nho nhã, và sóng sánh một ly rượu màu hổ phách . Tôi công nhận là mình khá ham chơi và hơi phù phiếm . Đã vậy, có lúc tôi còn thành thực tin rằng đời sống – đôi lúc – cũng cần có những giây phút phù phiếm cần thiết chứ ? Khổ ỗi, quê hương tôi nghèo khốn quá . Người cộng sản đã dẹp bỏ những nơi giải trí tốn kém này . Tôi cũng đành đồng ý vì họ có lý khi làm như vậy . Nhưng sau đó thì chuyện gì xảy ra và Sài Gòn về đêm còn gì ?

Xin thưa, chả còn gì cả ngoại trừ vô số những kẻ ngủ đường . Bên cạnh những ông anh bà chị ngủ đường chuyên nghiệp, còn có vô số những người “bụi đời bất đắc dĩ” . Họ vừa mới bị nhà nước mượn nhà với cả trăm lý do khác nhau . Những người này sống bằng cách nào – đối với tôi – thực là một chuyện khó hiểu . Tôi hài lòng khi thấy họ nằm chờ chết ở lề đường . Như vậy vẫn còn hơn là đi tìm những cái chết chóng vánh ở vùng kinh tế mới !

Một hình ảnh lạ đập vào mắt khiến tôi thắng vội xe . Dưới gầm một chiếc Molotovav, hai ba chú bộ đội đang lui cui chụm lửa nấu cơm . Dù bây giờ . Dù bây giờ Sài Gòn đã tối tăm u buồn đi nhiều lắm, nhưng hình ảnh một đống lửa lập lòe, soi sáng một nồi cơm độn bắp vẫn là điều coi rất là không ổn . Tưởng sau Đại Thắng Mùa Xuân 1975 thì cuộc đời của các đồng chí bộ đội có gì thay đổi chứ ? Còn nếu vẫn cứ lui cui với củi lửa ngô khoai ngay giữa phố Sài Gòn thì thà là ở luôn trong rừng Trường Sơn, mặc cho muỗi đốt, mà đời lính – may ra – còn có đôi chút ảo tưởng về lý tưởng hay chính nghĩa !

Sau khi kiếm chuyện để đổi tiền và kiểm kê tài sản năm bẩy lượt ở miền Nam, một thằng đui cũng thấy rằng cái được người cộng sản mệnh danh là cách mạng – thực chất – cũng chỉ là một vụ kinh doanh mà Đảng đã mượn vốn là máu xương của mọi tầng lớp nhân dân . Tưởng đâu là sau khi làm ăn trót lọt rồi thì những kẻ sống sốt cũng phải được chia chác chút đỉnh cả vốn lẫn lời chứ . Đâu có ai ngờ sự thể lại thê thảm đến là như vậy . Từ bé đến giờ tôi đã xem ít nhất là một trăm chuyện và phim ăn cướp . Tôi chưa hề thấy cái đảng cướp nào ăn dơ ở bẩn và đối xử với đàn em khốn nạn như Đảng Lao Động Việt Nam .

Tôi tiếp tục chầm chậm đạp xe về . Lòng mỗi lúc một thêm não nề và uất hận . Lại thấy nhớ, thương và phục cụ Nguyễn Du quá sức . Thảm cảnh của Sài Gòn hôm nay, chỉ có hai câu Kiều này là diễn tả được trọn vẹn và chính xác:

Lạ gì một thói sai nha
Làm cho khốc hại chả qua vì tiền


Tưởng Năng Tiến


Mời nghe: Saigon ngày trở lại – Tưởng Năng Tiến – Cát Bụi đọc


25/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Mì Quảng

Rồi ngày California ngắn lạị Nắng dịu vàng và sáng hẳn ra. Và vào lúc ngày đi dần vào tối, gió chiều đã bắt đầu có pha lẫn một chút hơi lạnh làm se se da thịt. Sáng có hôm dậy muộn vẫn chưa thấy nắng, bầu trời thoáng vẻ âm u và thành phố lãng đãng sương mù. Thế là mùa Thu đến. Mùa hè bỏ đi bất chợt vội vã như một người tình hối hả vượt biên. Mùa Thu xuất hiện bất ngờ như một mối tình muộn màng, vào lúc mà người ta đã tưởng chuyện tình là chuyện không còn… cách nào xảy ra đuợc nữa.

Từ đó mặt trời bắt đầu dậy muộn. Chiều mỗi lúc một ngắn thêm. Lá phong vàng xanh – vàng nhạt, vàng thẫm, rồi hóa đỏ au – rơi bơ vơ trên những thảm cỏ nhạt xanh, chưa kịp đổi màu. Cảnh vật hoá hơi buồn nhưng đẹp. Sáng trời mưa. Mưa mà loay hoay với món điểm tâm quen thuộc như mì gói hay bánh mì với trứng thì cuộc đời quả là không đáng sống. Sao không dưng mà thấy nhớ một tô mì quảng đến muốn rơi nước mắt. Mì quảng, Trời ơi, biết tìm nó ở đâu bây giờ?

Trưa, trời vẫn cứ mưa, vội vã, co ro chạy từ lớp học đến phòng ăn đứng xếp hàng để chờ mua một cái… “cheese sandwiche” ! Bất chợt bắt gặp một khuôn mặt quen quen, một “gã” đồng hương. Bèn gật đầu chào thật nhẹ với một nụ cười mím chi dè dặt.

– Chào cô.
– Dạ, chào anh.
– Năm nay mưa sớm.
– Dạ, hơi quá sớm.
– Trời như thế này được nằm nhà thì thích hơn.
– Dạ.

Lại “dạ” cho lịch sự chứ trời như thế nào thì nằm nhà mà không thích, cha nội?

– Cô thích mưa?
– Cũng không thích lắm.
– Tôi cũng vậỵ Đúng ra thì có thích nhưng hơi sợ. Mưa dịu dàng hơn là nắng nhưng sao thấy nhớ nhà…

“Ý trời, có nhớ nhà nữa sao – tình cảm dữ há”? Sau một giây im lặng ngắn ngủi bỗng người ta cảm thấy bị thôi thúc bởi nhu cầu tâm sự. Cái tâm sự mãi từ sáng tới giờ chưa trút được cho ai vì chưa gặp ai cùng là người Việt.

– Vâng, vừa nhớ nhà vừa thèm ăn mì quảng.
– Cô nói sao?
– Tôi nói mì quảng.
– Xin lỗi cô, tôi nghe chưa rõ.
– Mì quảng, loại mì sợi vàng…

Người đối thoại bỗng im lặng, đăm chiêu như thể vừa nghe đề cập đến một món ăn lạ lùng và đặc biệt của … thổ dân Samoa! Còn mình thì nín thở hồi hộp chờ đợi tha nhân lục lọi trí nhớ.

– Ô, cô thích ăn mì hả? Mì thì người Tàu ở San Francisco nấu ăn cũng được. Cô có bao giờ thử mì ở tiệm Golden Dragon Restaurant chưa?

Cố lắm mới nén được một tiếng thở dài, với cái tâm cảm chua xót đắng cay của một thiếu nữ chợt biết mình đã… trao duyên lầm tướng cướp! Câu chuyện chấm dứt vĩnh viễn ở đó nhưng sự tấm tức, ấm ức thì kéo dài suốt cả ngày. Mẹ ơi, sao lại có một người đàn ông Việt Nam không biết đến mì quảng, và còn lầm lẫn giữa mì quảng và mì hoành thánh nữa? Điều bất công khó chịu là từ lâu rồi mì quảng vẫn bị chịu thiệt thòi. Nó chưa bao giờ được chào đón nhìn nhận cho đúng với giá trị của mình.

Tệ hơn nữa là nơi nó xuất xứ – Quảng Nam, Việt Nam – người dân địa phương vốn được coi là thích chuyện tranh luận và họ có thể tranh cãi về hàng trăm thứ chuyện bà rằn không cần thiết nhưng riêng với sự bất công mà mì quảng phải chịu đựng thì dường như chưa thấy ai lên tiếng?

Phở, chả hạn, thì có gì là xuất sắc đâu mà luôn luôn được đề cập đến một cách ồn ào quá đáng. Sợi phở trắng nhách trông thấy ghê. Nước phở trong veo coi thấy chán. Thịt để ăn với phở thì đòi hỏi điệu hạnh đủ thứ như nạm, gầu, gân, sách…; mà chỉ cần vụng tay một chút là cả tô phở coi như là bỏ! Bún bò Huế thì (chao ơi) cay quá. Nó cay như thể là trên đời này không còn có một thứ thức ăn nào cay hơn được nữa. Mà đã là bún bò sao còn có giò heo. Bò và heo không mấy khi đi chung với nhau một cách ổn thỏa. Đã thế, miếng giò heo vẫn thường làm cho tô bún bò bớt phần thanh nhã và khiến cho người đang nhồm nhoàm nó mất đi rất nhiều cái “phong thái tị nạn chính trị” của mình.

Tô bún riêu thì coi đỡ thấy ghét hơn một chút. Điều phiền là nó giản dị quá, giản dị tới mức… gần như là đạm bạc. Một chút cà chua và riêu cua thôi thì làm sao tô bún trông không lõng bõng cho được? Hơn nữa, ăn bún riêu vào một buổi sáng trời mưa thì đến trưa chắc chết (chết chắc) vì đói.

Hủ tíu, mì sợi, hoành thánh, sủi cảo… thì kể như là hết thuốc! Vậy chứ những thứ thức ăn “ngoại nhập” và vô duyên đến như thế vẫn được chấp nhận dễ dàng và phổ biến ở khắp mọi nơi. Chỉ có mì quảng là mãi mãi bị bỏ quên hoặc chưa bao giờ được đón chào đúng mức.

Mà mì quảng ngon tuyệt vời nhạ Sợi mì làm bằng bột gạo rồi đem nhuộm vàng. Không phải cái màu vàng “đồng bóng” của nghệ, hay màu vàng thổ nhà quê đâu. Sợi mì quảng thường vàng tươi và chỉ đủ vàng để dung hợp với màu xanh của rau đi kèm với nó. Rau sống ăn với mì quảng không bị đặt nằm một cách trơ vơ như một dĩa giá hay xà lách để ăn chung với phở. Nó cũng không bị thu vén một cách bần tiện trong những cái đĩa con con như rau để ăn chung với bún riêu hoặc bún bò. Tất cả những loại rau thơm để ăn chung với mì quảng, kể cả rau xà lách, đều đuợc thái nhỏ mịn và bỏ chung gọn gàng trong tô mì. Nước mì quảng không lênh láng như nước phở, không thừa thãi như nước bún bò, không nhạt nhẽo như nước mì hay hủ tíụ Nó hơi sền sệt với thịt heo xắt vụn, với tôm khô giã nhuyễn nấu nhừ, và luôn luôn chỉ được chan vào tô ở mức hơi săm sắp. Mà đừng tưởng như vậy sẽ khiến cho tô mì không đủ nóng nha. Nghĩ như vậy là lầm à. Độ nóng của tô mì quảng không hoàn toàn do nước mà còn tùy thuộc phần nào vào số luợng ớt bằm mà thực khách múc bỏ vào tô. Nhiều ớt quá tô mì hóa cay chát. Hỏng. Mà ít ớt thì nó sẽ thiếu cái độ nóng và độ cay cần thiết. Hư. Mà nhớ là ớt bằm à nhạ Mì quảng dứt khoát và quyết liệt không dung thứ những loại ớt khác như ớt xanh, ớt xắt, ớt khô, ớt ngâm dấm… hay bất cứ một loại ớt nào khác trên cuộc đời này.

Mô tả như vậy dễ gây ngộ nhận rằng mì quảng là một món ăn cầu kỳ, truởng giả. Nghĩ như vậy là kể như trật thêm một lần nữạ Ráng chịụ Mì quảng không kiểu cách, lộn xộn, rườm rà như bún thang; không xuề xoà như bún ốc; không vô duyên như bún mọc. Mì quảng giản dị mà đậm đà và vô cùng đằm thắm. Và mì quảng cứ ở miệt Quảng Nam. Nó không di cư ồ ạt rộn ràng như phở, không chen chân nơi những đô thị xa lạ như bún bò, không tỏ thái độ vô tình bạc bẽo theo kiểu “một đi không trở lại” như mì sợi hay hủ tíu. Thản hoặc, người ta mới bắt gặp một tô mì quảng mon men đến một vài thành phố phụ cận như Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Bình, Bình Định… Nơi xa xôi nhất mà mì quảng trôi dạt đến nhưng vẫn giữ nguyên được bản sắc của mình có lẽ là Đà Lạt. Nơi đây mì quảng vẫn còn nguyên cái dáng vẻ trầm lặng và khép kín của mình. Mì quảng không trưng bảng hiệu, không ưa phố xá ồn ào. Nó thích hợp với không khí gia đình hơn bất cứ một thứ thức ăn nào khác. Có quá lắm thì mì quảng cũng chỉ hiện diện (với đôi chút ngỡ ngàng tội nghiệp) nơi một quán ăn nhỏ hẹp, nghèo nàn. Nơi bán mì quảng ở Đà Lạt không nhiều và thường nằm ẩn trong một con hẻm nhỏ. Thực khách, nếu không phải là khách quen, còn lâu mới tìm ra nhà. Cái nhà không phải là cái quán. Chủ nhà không phải là chủ quán. Đó thường là một bà mẹ Quảng Nam hay Đà Nẵng. Chủ khách chào nhau tương kính trang trọng. Không ai đề giá hay hỏi giá một tô mì quảng. Nó vô giá mà. Cũng không ai phân chia mì quảng thành tô lớn, tô nhỏ, tô đặc biệt… Mọi tô mì quảng đều đặc biệt. Cũng rất ít người chỉ ăn một tô mì quảng. Thường người ta gọi một “tô ăn thêm.” Phải ăn thêm, dù no, cho khỏi phụ lòng người nấu và cho bõ công mình lặn lội đi ăn vào một buổi chiều Đà Lạt mưa dầm. Nhân loại có thể đổ đi ba tỉ tô phở, hai tỉ tô bún, và một trăm tỉ tô mì hay hủ tíu nhưng không ai có thể bỏ dở một “tô mì quảng ăn thêm.” Mì quảng không làm ai ngán. Ăn nhiều thì nó bớt ngon chút xíu thôi hà. Ăn xong người ta tráng miệng bằng nước trà. Trong lúc khách nhỏ nhẹ kín đáo xỉa răng thì chủ thế nào cũng tìm dịp thỏ thẻ:

– Mì bữa ni nấu được không cô?
– Dạ…ngon.

Trả lời như vậy là không được. “Ngon” là một hình dung từ mơ hồ, nếu không muốn nói là hàm hồ, không thể nào diễn tả được cái đặc sắc tuyệt vời của một tô mì quảng. Có vụng về lắm thì người ta cũng phải đưa ra được vài ba nhận xét “bâng quơ” như sau:

– Dạ thưa bác mì ngon lắm. Tôm dã vừa nhỏ và nấu vừa nhừ. Rau chuối tươi mà không chát. Nước đậm đà vừa miệng. Củ sắn tuơi mà ngọt đậm.

Sau đó mới đến màn cảm ơn và từ tạ… Coi, một thứ thức ăn nặng tình gia đình và văn hóa dân tộc như mì quảng mà bị bỏ vô “cửa hàng ăn uống quốc doanh” thì chịu đời sao thấu. Cỡ khoai mì, khoai lang mà đụng chuyện với người cộng sản còn bị te tua bầm dập nữa mà. Càng khó chịu hơn nữa khi người ta gặp lại mì quảng trên bước đường lưu lạc. “Tha hương ngộ cố tri” không thiếu cảnh bẽ bàng. Nhưng đụng đầu mì quảng trong tiệm ăn ở thành phố San Francisco, Hoa kỳ thì quả là một chuyện bẽ bàng chết được. Dù biết rằng tô mì quảng không thể nào được đặt trên bàn ăn trải khăn trắng, dưới ánh đèn màu, và bên cạnh một bình hoa daisy; mì quảng lại càng trông khổ sở ngượng ngịu trên tay người bồi bàn mặc áo “chemise” trắng, cổ thắt nơ đen… nhưng vẫn phải thử chứ, vẫn náo nức trông đợi coi sao chứ?

Đến khi nhìn thấy mì quảng được đặt trong tô sứ, đĩa hoa, và đi chung với đũa ngà thì người ta lại bắt gặp nơi mình một cảm giác đau đớn và chua xót khác – cái tâm cảm của một người bất chợt nhìn thấy “cố nhân” lái Mercedes với một vợ và tám đứa con trên xe. Người ta xêu nhẹ vài sợi mì vào muỗm, gắp thêm một chút rau, ấn nhẹ muỗm xuống tô để lấy thêm chút nước… rồi e ngại, rụt rè đưa vào mồm. Và rồi sẽ hiểu thế nào là nỗi thất vọng đắng cay của kẻ “yêu lại một người yêu thất tiết”.

Mì quảng ơi, thôi vĩnh biệt!

Tưởng năng Tiến.

25/01/2010 Posted by | Truyện | 2 phản hồi

Cuối Năm Nghe Chơi Một Băng Nhạc Tết

Xuân về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn …

Nếu thực sự có mùa xuân êm đềm và tươi thắm quá cỡ như vậy mà bạn vẫn chưa hài lòng thì xin nghe thêm vài câu nhạc nữa:

Có một chàng thi sĩ miền quê
Hái bông hoa trao người xuân thì
Có một bầy em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón xuân về …

Tôi dám cá là suốt Thời Trung Cổ, không nơi nào trên trái đất này, có một mùa xuân tươi thắm và êm đềm hơn là Phạm Duy vừa mô tả – qua bản nhạc Hoa Xuân, như vừa dẫn. Nhưng Phạm Duy không phải là người thuộc Thời Trung Cổ. Ổng cùng thời với tôi và bạn. Vậy chớ ông ta viết về mùa xuân nào ( vào thời đại chúng ta ) mà thái hòa an lạc dữ vậy kìa ?

Thiệt nó đẹp như mơ vậy đó nha. Và sao tui nghi là ổng đã nằm mơ quá hà. Chớ giữa chúng ta, nhất là những kẻ sinh trưởng ở miền Nam Việt Nam, có mấy ai đã từng nhìn thấy một bờ đê. Cái đê trần trụi vắng hoe cũng khỏi có luôn, nói chi đến ” một bầy em bé … hát câu i tờ đón xuân về “, vào một buổi chiều xuân nào đó, đã xa lắc xa lơ, trên bờ đê lộng gió.

Còn chuyện ” có một chàng thi sĩ miền quê, ngắt bông hoa trao người xuân thì ” ( thì … ôi thôi ) nhắc làm chi cho nó thêm buồn. Tui nói vậy bạn dám cãi lắm à nha, dám bạn sẽ đưa Nguyễn Bính ra làm bia đỡ đạn, với lý do ” ổng là thi sĩ miền quê cuối cùng ” của thời đại chúng ta. Tệ hơn nữa, bạn còn dám mang Nguyễn Duy ra để hù tui, bằng những bài thơ lục bát làm ” phóng ảnh treo tường ” ( để bán ) của ổng.

Xin lỗi bạn chớ, cỡ Tú Xương đây mà cũng đã có lúc phải ứa lệ – rấm rứt khóc thầm ( dám bằng tiếng Pháp ) vì nạn đô thị hóa, đây nè :

Sông kia giờ đã nên đồng
Chỗ lam nhà cửa, chỗ giồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng ai gọi đò …

Xá gì Nguyễn Bính, nói chi đến cỡ Nguyễn Duy. Nói gọn lại, tui tin rằng chỉ có Nguyễn Khuyến mới là nhà thơ cuối cùng của dân tộc Việt Nam :

Tháng Giêng hai mươi mốt chợ Đồng
Năm nay chợ họp có đông không
giở giời mưa bụi còn hơi rét …

Chớ còn mấy trự thi sĩ lóc nhóc sau này đều đã bị đô thị hóa và đã ” phong sương mấy độ qua đường phố ” hết trơn rồi – theo như cách nói của Sơn Nam. Và tôi ngại nhất là cái kiểu bụi đời ướt át của ông Thế Lữ :

Rũ áo phong sương trên gác trọ
Ngắm nhìn thiên hạ đón xuân sang

Cái gác trọ này – tôi bảo đảm – nằm ở Hà Thành, vào cuối thập niên ba mươi hay đầu bốn mươi gì đó. Thêm cái kiểu cách ” rũ áo phong sương ” đủ khiến chúng ta hình dung ra được cả đám Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Xuân Diệu, Huy Cận … đã sống cải lương chết mẹ đi rồi. Đâu còn ” thi sĩ miền quê ” nào nữa.

Đô thị hóa, tất nhiên, không phải chỉ xảy ra ở Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Không tin, cứ đọc Nguyễn Bính mà xem :

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Đã mấy mùa xuân én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa phượng nở
Riêng ta với người buồn lắm thay

Bạn thấy chưa : lại thêm hai ông nhô con bỏ nhà ” dzô ” Nam, thuê gác trọ, sống giữa Sài Thành Hoa Lệ. Mà đi giang hồ chút đỉnh vậy là phải chớ. Chính quê hương của Nguyễn Bính cũng đã nhiễm bụi thị thành từ lâu rồi, còn nấn ná ở đó làm chi cho mụ người ra :

Hoa chanh mọc ở vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình dân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hoa đồng cỏ nội bay đi ít nhiều …

Coi : nàng mới ra tỉnh có chút xíu hà mà hoa đồng cỏ nội đã bay đi mất liền một mớ. Lỡ mà ” ẻm ” ghé chơi Hà Nội hay Hải Phòng ( chậm lắm ) ba đêm kể như rồi, còn gì là ” người xuân thì ” theo tiêu chuẩn ” chân quê ” nữa ?

Bạn hết cãi chưa ? Dù bạn đã tắt đài, tôi biết bạn vẫn còn ấm ức vì cái giọng điệu hoài cổ cực đoan và quá khích của tui từ khi đặt bút xuống cho tới bây giờ – đúng không ?

Đừng có nghĩ bậy bạ như vậy, mang tội chết à nha. Coi : cuộc tình dấm dớ của một anh thi sĩ miền quê với một người con gái xuân thì, hay một hình ảnh bờ đê lộng gió – với một bầy em bé tung tăng, hát câu i tờ, vào một chiều xuân mà nắng vàng hanh … – hoàn toàn và tuyệt đối có liên quan, dính dáng gì tới tui đâu. Cớ sao tôi lại hoài cổ chớ ? Đây là chuyện riêng của … Bà Huyện Thanh Quan hay ( cùng lắm ) là của ông nội hay của ông già tôi thôi à.

Mà hoài cổ, theo tôi, là thứ tình cảm hơi khó hiểu. Làm sao chúng ta có thể yêu mến hay ngưỡng mộ một thời đại mà mình tuyệt đối không có dính dáng gì tới nó ? Hoài vọng hay hoài cảm, có lẽ, dễ hiểu và phổ biến hơn. Mọi người, khi bắt đầu luống tuổi, hẳn đều thấy tiếc nuối ít nhiều khoảng ấu thơ hay niên thiếu của mình – dù chúng ta sinh ra và trưởng thành ở bất cứ đâu.

Dù vậy, tôi vẫn lậy Trời cho bạn đừng xui tới cỡ là sinh ra ở miền Bắc – vào khoảng thập niên 1940, 50 hay 60 … – và cứ phải sống mãi ở nơi đó cho đến bây giờ. Tuổi thơ và tuổi trẻ của bạn – tất nhiên – cũng đẹp, cũng thơ mộng vậy ; tuy nhhiên, tôi tin là nó sẽ đẹp hơn, mộng mơ hơn chút đỉnh nếu Bác và Đảng đừng xía vô cuộc đời bạn quá nhiều – như họ đã và vẫn thuờng làm, từ nửa thế kỷ qua.

Còn nếu bạn sinh trưởng ở miền Nam thì đỡ mệt biết chừng nào. Sẽ không ai bắt bạn phải đeo khăn quàng đỏ và đi nhặt rác để hoàn thành kế hoạch nhỏ. Bạn cũng được miễn cái vụ ” thay trời làm mưa ” hay ” nghiêng đồng cho nước chảy ra ngoài “, và bạn được tự do đi biểu tình ” đả đảo ” bất cứ thằnng cha hay con mẹ nào mình không thích.

Trong một hoàn cảnh sống tương đối dễ thở như thế ( và nếu bạn lại sinh trưởng ở một thành phố cao nguyên ) thì nhìn thấy mùa ” xuân về trên bãi cỏ non ” là chuyện thường thôi. Điều đáng tiếc là những ngày tháng an lành, phẳng lặng đó không kéo dài lâu. Đến khoảng cuối thập niên năm mươi, theo trí nhớ của tôi, trong không khí an bình của miền Nam thoang thoảng có mùi vị chiến tranh – qua những bản nhạc tâm lý chiến ( thường được hát ở phòng trà và nghe hơi diễu cợt ), của những ông nhạc sĩ quân đội, như bản Phiên Gác Đêm Xuân của Nguyễn Văn Đông :

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chờ xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Nào ngờ đâu hoa lá rơi …

Trời đất, đơn vị bạn đụng địch, ” súng xa vang rền ” mà đại tá Nguyễn văn Đông vẫn đang mơ ngủ. Không hề nghe ổng ban lệnh ứng chiến hay kế hoạch cứu viện gì hết trơn hết trọi ; đã vậy, sau khi tỉnh giấc, ổng bắt đầu … mơ mộng :

Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Và ước chiếc bánh ngày xuân

Thiệt tình, ổng làm đảo ngược binh pháp hết trơn. Người ta thì cư an tư nguy còn ổng thì cư nguy tư an. Những sĩ quan cao cấp trong quân đôi miền Nam, như đại tá Nguyễn văn Đông, chắc có hơi nhiều ; bởi vậy – chỉ chừng mười năm sau – năm 1968 thì súng AK của Trung Cộng và Tiệp Khắc nổ thiệt, và nổ khắp bốn mươi tỉnh lị và thành phố của miền Nam ( kể luôn thủ đô Sài Gòn ).

Cũng từ đây, chiến tranh lan vô thành phố. Nay, ” plastic ” đặt nổ chỗ này ; mai, hỏa tiễn 122 ly rơi ” lộn ” vô chỗ khác. Và dù vậy, xã hội miền Nam vẫn cứ vui như tết – khi Tết đến. Nếu so với miền Bắc – nơi mà vì ” hoàn cảnh đất nước khó khăn ” nên chỉ có quí vị ủy viên trung ương đảng CSVN uống rượu mừng xuân thay cho cả nước – người dân miền Nam hoàn toàn bình đẳng trong chuyện đón xuân. Cứ nghe bản Ly rượu mừng của Phạm Đình Chương là đủ biết :

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Á … a … a … a
Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Á … a … a … a
Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Á … a … a … a
Muôn lòng xao xuyến duyên đời
Rót thêm tràn đây chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đường
Chiến đấu công thành
Sống cuộc đời lành
Mừng người vì nước quên thân mình

Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương
Á … a … a …
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính
Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Nào cạn ly mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca chấm phá tô nên đời mới
Bạn hỡi vang lên lời hứa thiêng liêng
Chúc non sông hào bình hòa bình
Ngày máu sương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
Đợi anh về trong chén tình đầy vơi
Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hòa

Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình dâng phơi phới

Nẫy giờ đâu mới chừng mười phút mà mỗi người đâu đã uống cỡ chục ly : ly tặng anh nông phu, ly chào anh công nhân, ly mừng ông thương gia, ly mừng người nghệ sĩ … Chưa đã, còn thêm vài ” chén quan san ” để ” chúc người binh sĩ lên đường ” nữa. Vui còn hơn tết và cả nước, chắc chắn, ” xỉn ” thấy mẹ luôn !

Cũng có những chiến sĩ, say mê chiến đấu ( hay đãng trí ) đến độ quên luôn cả nhậu :

Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở
Anh đâu biết xuân về hay chưa

Nghe thiệt khó tin. Lính miền Nam tháng tháng được lãnh lương đàng hoàng mà, nhìn sổ lương là biết năm cùng tháng tận chớ cần gì tới hoa mai với hoa đào – như ông nhạc sĩ lính kiểng Trần Thiện Thanh, qua bản Đồn Vắng Chiều Xuân.

Lâu lâu mới thấy những người lính nhất định Xuân Này Con Không Về :

Con biết không về mẹ chờ em trông
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lớp trai hùng chào xuân chiến trường
Không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này không về …

Những chàng trai hùng cỡ này, tiếc thay, thường không giữ những chức vụ cao trong quân đội. Điều đáng tiếc hơn nữa, trong cuộc chiến tự vệ vừa qua, quân dân miền Nam đã áp dụng một chiến lược sai lầm. Thay vì ” vui nhiệm vụ không quên xuân ” thì họ đã làm ngược lại là ” vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ “. Nói cách khác ” vui xuân ” mới là chuyện chính, còn ” nhiệm vụ ” chỉ là chuyện phụ ( và là chuyện nhỏ thôi ) !

Cùng lúc – ở miền Bắc Việt Nam – khi Tết đến ( sau khi nghe bác Hồ, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, tổng bí thư, thủ trưởng ban ngành, đơn vị … chúc tết xong ) là mọi người đâm bổ đi ” tranh thủ làm việc gấp hai ” để ” thi đua lập chiến công dân đảng “. ( Đ … mẹ chơi vậy ai chơi cho lại ! )

Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt ra sao, vào mùa Xuân năm 1975, mọi người đều biết ( và đều tiên đoán được ). Từ đó, nhân dân hai miền đều chỉ còn được nghe một bản nhạc xuân duy nhất : Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh, ôi đẹp biết bao, biết mấy tự hào. Sài Gòn ơi cả nước vẫy tay chào …

Cũng như bạn, tôi chịu không nổi cái loại nhạc thổ tả này nên đã vẫy tay chào ” thành phố Hồ Chí Minh quang vinh ” để … ra đi – và đi hơi sớm. Từ đó đến nay đã gần một phần tư thế kỷ. Hai mươi lăm năm qua – Trời đất ( thiên địa, quỉ thần, mèn đét ) ơi – biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước mương, nước rãnh … đã ào ào chảy qua cầu ( và qua cống ) ?

Chiều nay, chiều cuối năm, ở một góc trời xa, tôi ngồi ghi lại những ý nghĩ lan man vụn vặt để gửi bạn đọc chơi -sau khi nghe hết một băng nhạc trong quán vắng, bắt đầu từ bản Hoa Xuân của Phạm Duy, đến bản cuối cùng ( Xuân Này Con Không Về ) của Trịnh Lâm Ngân.

Nhạc xuân gì nghe buồn quá má ơi !

Tưởng Năng Tiến

25/01/2010 Posted by | Tùy bút | %(count) bình luận

Nhà Có Hoa Anh Đào

Khi mở cửa bước ra sân sau, cả hai bố con tôi đều đứng sững, mở lớn mắt nhìn.

– Có cây hoa đào con ơi! Bố tôi kêu khẽ ngạc nhiên.

– Dạ, hoa đào.

Tôi đáp nhỏ rồi đứng lặng ngắm bầy ong bé tí đang lượn quanh những bông hoa vừa hé nở. Dạo ấy vào khoảng tháng Hai, đúng lúc mận đào ở Mỹ đang độ khai hoa.. Những cánh hoa hồng thắm mong manh rung nhẹ trong nắng sớm gây trong tôi một niềm xúc cảm thật êm đềm nhẹ nhàng nhưng sâu đậm. Lâu lắm tôi mới lại nhìn thấy hoa đào.

Trí tưởng của tôi bỗng quay nhanh về một thành phố cũ, nơi mà tôi đã lớn lên và đã ướp đẫm tuổi thơ của mình bằng hàng trăm loại hương hoa: hoa hồng, hoa ngũ sắc, hoa rẽ quạt, hoa bìm bìm, hoa dạ lý, hoa mận…; và tất nhiên là phải có hoa đàọ Nói một cách hơi quá ướt át, người ta vẫn gọi đó là “xứ hoa đào” mà.

Tôi thấy rõ ràng là mình đang lơn tơn hớn hở trên đường đến trường vào một buổi sáng tinh mơ. Con đường Thủ Khoa Huân nhỏ hẹp, thoai thoải dốc, cần cận những viên đá bạc đầu dưới mỗi bước chân đị Hai bên đường, chen lẫn giữa những bụi hoa quỳ man dại, là những cành mai mềm mại ẻo lả vươn cao lấm tấm điểm những cánh hoa còn ướt đẫm sương đêm.

Cùng lúc, bố tôi – không chừng – cũng đang đi lại trên một con đường nào đó của riêng ông. Có thể đó là một con đường rừng rực rỡ mai vàng, giữa vùng biên giới Hoa – Việt, khi mà ông chưa gặp mẹ tôi, và vào lúc mà chuyện đánh đuổi thực dân còn là điều làm say lòng cả một thế hệ người.

Mẹ tôi, không hiểu đã lặng lẽ đến đứng sau lưng chúng tôi tự lúc nào, bà cũng kêu lên thích thú:

– Có cả cây hoa đào và cây chanh nữa hả con!

– Vâng…

Tôi nói “vâng” lí nhí mà lòng thì sung sướng hãnh diện như thể chính mình là kẻ đã gieo trồng vun sới hai cây đào và cây chanh đó vậỵ Sự thực, trước đó một tuần, khi đi xem nhà vào ban đêm tôi không hề biết rằng vườn sau có cây trái gì cả. Tìm được một căn nhà ở khu yên tĩnh, giá thuê vừa phải, và người ta không để ý đến sự dị biệt màu da hay màu tóc đã đủ làm tôi mừng quýnh đi rồi.

Bữa cơm đầu tiên nơi căn nhà mới chúng tôi ăn với thịt gà luộc chấm muối tiêu và lá chanh thái chỉ. Mẹ tôi xuýt xoa khen ngon và quên bẵng đi cái tội “mềm nhũn” của những con gà Mỹ. Như thường lệ, bố tôi vẫn giữ im lặng nhưng chỉ cần nhìn ánh mắt của ông là tôi đã nhận thấy có sự hài lòng. Cả ngày hôm ấy, và nhiều ngày tháng kế tiếp nữa, chúng tôi đều rất bận và vui – sự vui thích mà đã có lúc tôi ngỡ rằng sẽ không bao giờ còn tìm lại được trên nét mặt của bố mẹ già nữa.

Trước đó một năm, cũng đã có lúc gia đình tôi sống rất an vuị Đó là thời gian tôi vừa đón bố mẹ từ quê nhà sang, theo chương trình đoàn tụ gia đình. Nhưng rồi sau đó không lâu là những ngày tháng buồn bã tẻ nhạt khiến tôi vô cùng bối rối và khổ sở.

Vì không lường trước, và cũng vì sự giới hạn của tiền bạc, tôi đã “nhốt” bố mẹ gìa gần cả năm dài, sau bốn bức tường, trong một chung cư ở thành phố San Jose, California. Khi niềm vui đoàn tụ đã qua đi, và khi mà cả hai người đều bắt đầu có triệu chứng chết héo giữa đất lạ xứ người thì tôi đâm hoảng.

Việc đầu tiên là tôi vội vàng đưa bố mẹ đi chùa. Trời Phật ơi, chùa ở Mỹ sao mà nhỏ xíu và vắng ngắt vậy nè. Vào ngày lễ lớn chùa có đông người thì bên ngoài không còn chỗ đậu xe, và bên trong thì không đủ chỗ ngồi.

– Sao chùa chiền ở đây giống y như nhà ở thế hả con ?

Sự thực thì đó đúng là cái nhà chứ còn “giống như” gì nữa. Tôi không hiểu, và cũng không dám hỏi xem, căn nhà đó thuê hay mua trả góp. Và dù mua hay thuê, bằng cách nào mà vị sư trụ trì trả nổi một số tiền cho căn nhà bốn phòng – đối với riêng tôi – đúng là một điều “mầu nhiệm”.

Sau đó, tôi đưa bố mẹ đi phố Tàu, với lời giải thích ba hoa rằng “vào đây bố mẹ sẽ thấy thoải mái y như thể là mình đang đi trong Chợ Lớn ở Sài Gòn vậy”. Kể cả vào mùa Hè, thời tiết của thành phố San Francisco dường như vẫn cứ hơi quá lạnh đối với sức khỏe mong manh của bố mẹ tôi. Nhìn hai ông bà già co ro, ngơ ngác giữa những hè phố luôn luôn chen chúc người đi mà không dưng ruột tôi muốn… đứt. Rõ ràng là bố mẹ tôi không thấy “thoải mái” một tí nào cả. Không bao lâu cả hai người đều than là nhức đầu và chóng mặt. Chính tôi, tôi cũng cảm thấy … y như vậy!

Vì thiếu đất nên Chinatown chỉ có thể phát triển theo chiều cao. Cùng với cái lối kiến trúc theo chiều dọc này là cái tính hay bày biện lộn xộn và hay chưng hoa kết đèn của người Trung Hoa khiến cho đôi mắt của du khách lạc vào khu phố của họ phải điều tiết quá nhiều; do đó, ai mà không chóng mặt. Và nếu bố mẹ tôi biết được rằng trong một phạm vi chỉ có hai mươi bốn lốc đường mà chứa lúc nhúc đến bốn chục ngàn người (một mật độ cao nhất thế giới) – lúc nào cũng nói năng xí xa xí xồ – thì hẳn là ông bà còn nhức đầu hơn nhiều lắm.

Chúng tôi vội vã chạy ra khỏi khu rừng người vô duyên đó. Loanh quanh một lát, tôi đưa bố mẹ đi khoe cầu treo Golden Gate, mà vẫn theo lời tôi là “to và dài nhất hoàn cầu.” Bố tôi nhìn cái cầu với đôi mắt lãnh đạm như thể là người ta nhìn thấy cây viết hay cục tẩy trên bàn vậy. Mẹ tôi thì quan sát trầm ngâm một lúc rồi lẩm bẩm:

– Theo mẹ thì mình cứ xây độ một trăm cái cột chống cho nó an toàn, con ạ. Chả tội gì phải để nó chông chênh như thế.

– Vâng, mẹ dạy như thế là phải!

Tôi đáp cho qua chuyện rồi lặng lẽ đưa hai người ra về. Trên đường về tôi câm như hến vì buồn quá. Bố mẹ tôi thì mệt quá nên cũng chả ai nói năng gì. Trong xe tôi đã mua sẵn mấy băng nhạc cải lương. Điều đáng tiếc là tuy hai ông bà cũng thích nghe cổ nhạc miền Nam nhưng không thích lắm. Hai người có vẻ ưa nghe cô Hồ Điệp ngâm thơ hơn. Tôi lại chỉ tìm được mỗi một cuốn băng của Hồ Điệp thôi nên đã có lúc “đành” phải vào phòng, đóng kín cửa lại, vừa dạo đàn, vừa ngâm một số những bài thơ – mà phần lớn do chính tôi sáng tác – để “cống hiến” cho bố mẹ già, vào lúc mà không khí gia đình buồn tẻ hay nhạt nhẽo.

Khi còn trẻ, mỗi lần uống rượu say, ở bất cứ nơi đâu tôi cũng đều bắt mọi người “phải” im lặng nghe tôi ngâm thơ. Dù chưa bao giờ bị ai đánh vì chuyện này, không hiểu sao, từ khi qua tuổi ba mươi tôi “bỗng” trở nên biết điều hơn. Tôi vẫn say rượu, thỉnh thoảng, nhưng cái vụ ngâm thơ hay ca hát thì bỏ hẳn.

Tuy thế, tôi vẫn không từ bỏ niềm tin vào “làn hơi thiên phú” của mình. Nếu nó không giúp tôi hái ra tiền thì ít nhất nó cũng đủ làm cho bố mẹ tôi vui. Tôi đã tưởng thế vì cũng như bao nhiêu bà mẹ “điên khùng” khác trên cuộc đời này, mẹ tôi rất thích bất cứ cái gì do con mình làm ra. Bà cụ cứ nghe đi nghe lại mãi cuộn băng do chính tôi ngâm thơ.

Điều không may là bố tôi thì khác. Ông tỉnh táo và khách quan hơn. Đợi vào lúc mẹ tôi không có mặt, ông nhỏ nhẹ nói:

– Con ngâm thơ bố thấy cũng hay, nhưng giá con đừng làm như vậy nữa thì không chừng lại hay hơn nhiều.

Vậy là những cuộn băng “đặc biệt” ấy phải chìm vào quên lãng.

Sau vụ đó, tôi chuyển sang băng nhựa videọ Không phải là tôi làm hề rồi tự thu băng để chiếu lại cho bố mẹ già giải trí như Lão Lai bên Tàu đã làm hồi xưa đâu. Thiệt tình là tôi dở hơi không tới cỡ đó. Chỉ vì thấy chuyện chưởng Kim Dung được quay thành phim video và chuyển âm sang tiếng Việt nên tôi vội vàng đi mua máy, mướn phim về để cả đống ở nhà.

Những tác giả ngoại quốc tôi ít khi để ý, trừ Kim Dung. Nếu không tình cờ gặp ông vào năm mười tuổi có lẽ tôi cũng đã thi đậu vào đệ thất của một trường công lập ngay keo đầu rồi.

Tôi hy vọng không khí trong gia đình sẽ đỡ tẻ nhạt hơn nếu bố mẹ tôi chịu ngồi xem phim chưởng suốt ngày. Tối đến, tôi sẽ ba hoa liếng thoắng bàn thêm cảnh Tạ Tốn cướp đao trên Bàn Sơn Đảo. Nếu bố mẹ tôi chưa hiểu rõ về công phu Sư Tử Hống hay về sự khác biệt giữa phe Kiếm Tông và Khí Tông trong phái Hoa Sơn thì đúng là những cơ hội bằng vàng để tôi có dịp khoe khoang về kiến thức trời biển của mình.

Tiếc thay, bố mẹ tôi chả hề để mắt đến những cuộn phim thổ tả đó. Theo lời ông cụ thì “chúng nó nói một thứ tiếng Việt không phải của người Việt”. Còn mẹ tôi thì chỉ sau một show ác đấu ngắn ngủi của Kiều Phong ở Tụ Hiền Trang là bà cụ đã vội vã chạy ngay vào phòng đọc … kinh cầu siêu.

Dù vẫn bị mang tiếng là hơi chậm hiểu, cuối cùng, tôi cũng nhận ra được sự thiếu thốn mất mát lớn lao trong đời sống của bố mẹ tôi nơi xứ lạ quê người. Họ cần một miếng đất. Họ phải sống trên đất, gần đất và với đất. Trải thảm, tráng xi măng, lót nhựa đường để che hết đất là giết chết con người, Giời ạ.

Tôi nhớ đến hôm đi San Francisco về, mẹ tôi đã nhìn những đồi cỏ xanh bát ngát và chép miệng:

– Đất bỏ hoang nhiều quá, hoài của thật con nhỉ ?

Tôi vội vàng cải chính:

– Đâu có, mẹ. Nông trại cả đấy chứ. Mẹ không thấy người ta nuôi bò và ngựa trên đó sao ?

– Ừ nhỉ! Thế mà mẹ cứ tưởng… Sao người ta lắm đất thế …

Thế là tôi xin việc làm thêm, cố gắng dành dụm một số tiền đủ để đặt cọc thuê được một căn nhà duplex. Nhà mới tuy bé nhỏ nhưng vẫn có đủ sân trước, vuờn sau, nằm ở khu an ninh và toàn người láng giềng da trắng đàng hoàng sạch sẽ. Đã thế, chúng tôi còn có sẵn cả cây chanh và cây hoa anh đào nữa.

Thời gian sau đó, gia đình tôi sống rất yên vui và ổn thỏa. Vào mùa Hè, khi tôi từ sở làm về trời vẫn còn nắng chói chang. Mở cửa vào nhà xong là tôi bước ngay ra sau vườn. Bao giờ bố tôi cũng đang ngồi uống trà dưới gốc cây đào; và mẹ tôi thì lui hui bận rộn với những luống rau bé bỏng của bà. Gần như từ sáng sớm cho mãi đến khi chiều tối, lúc nào bố mẹ tôi cũng sống ở ngoài vườn.

Chúng tôi phân định mảnh đất tí teo vừa thuê được ra làm nhiều phần rất là rõ rệt. Bố tôi chăm sóc cây đào, cây chanh và giàn hoa giấy màu xác pháo ở cổng vào. Rẻo đất phía trước cũng là nơi để ông giồng hoa cúc.

Phần tôi, tôi chỉ xin một góc cỏn con, vô cùng khiêm tốn để gieo một ít poppy và trồng mấy cụm pensee thôi. Chả hiểu bố tôi có kỷ niệm gì với loài hoa cúc đại đóa hay không; riêng tôi, hai loài hoa vừa kể là hai hoài niệm về hai mối tình te tua của đời mình. Cho mãi đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu sao, đường tình duyên của mình lại ít may mắn thế.

Nguyên cả mảnh vườn sau là giang sơn riêng của mẹ tôi, một giang sơn nhỏ hẹp nhưng vô cùng phong phú. Tôi cuốc một luống đất dài để mẹ giồng đủ loại rau thơm: rau húng quế, húng nhũi, tía tô, rau răm, kinh giới, mồ ôm…; và tất nhiên phải có hành ngò và cả sả nữa.

Người ta không mấy khi có dịp làm được một thức ăn với sả ở Hoa Kỳ. Nhưng có hề chị Đâu ai cố gây và giữ cho được môt bụi sả chỉ vì nó cần cho nồi cà ry hay cho món thịt bò kho. Điều cần là thỉnh thoảng, khi buồn buồn mình có thể ngắt một lá sả vò nhẹ trong tay, rồi đưa lên mũi để hít thở được hương vị của cả quê hương thoang thoảng nhẹ nhàng trong đó.

Mẹ tôi còn thích có một hàng cải bẹ xanh, xanh thật là xanh, để vào những lúc nắng nhạt bà có dịp nhìn thấy vài đôi bướm trắng chờn vờn trên những luống hoa vàng. Luống đất còn lại chúng tôi gieo hột rau dền, rau tần ô, và rau muống – những thứ rau mà tôi biết rằng nếu thiếu đi thì cuộc đời mẹ tôi kể như là vô nghĩa. Phần đất sát với bờ rào của nhà bên cạnh thì tôi làm giàn cây để cho khổ qua, bầu, và mướp có chỗ leo.

Tôi không ưa hoa bầu và hoa mướp đâu. Coi vô duyên thấy mẹ. Nhưng với giàn khổ qua thâm thấp, lá xanh sắc, nhỏ nhắn, xinh xinh, điểm những hoa vàng nhỏ li ti thì trông thương lắm.
Tôi “dọa” mẹ rằng:

– Bầu ở Mỹ tốt lắm mẹ nhá. Quả nào cũng dài lê thê đến chấm đất luôn.

– Hay quá, hả con.

– Dạ.

Tôi “dạ” ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Thế là bữa cơm tối nào gia đình tôi cũng có chuyện để nói. Và toàn những chuyện vui. Mẹ tôi có lúc xuýt xoa:

– Bắp của Mỹ lạ lắm con nhá. Mẹ mới gieo có hai hôm mà đã lên cao cả gang tay.

– Dạ.

Tôi lại “dạ” dịu dàng rồi vội vã thêm:

– Ở đây nó thế mẹ ạ.

– Hay nhỉ.

Tôi thấy hãnh diện cho giàn bầu và mấy cây bắp con con quá. Sau hơn một năm ở Mỹ, mọi thứ đều bị mẹ tôi coi thường, kể cả “cái cầu treo dài nhất thế giới”; chỉ riêng có hai giống thực vật vừa kể là nhận được hai câu khen tặng “hay quá” và “hay nhỉ” ngắn ngủi hiếm hoi thôi.

Có hôm đang bữa cơm bỗng mẹ tôi buông đũa, thản thốt kêu:

– Thôi chết rồi, con ơi!

– Sao hả mẹ ?

– Mẹ quên nói với con là mấy cây rau mồ ôm và rau răm vừa mới nhú lên thì đã bị ốc sên cắn mất mấy cái lá rồi.

Trời, chuyện nhân quyền bị vi phạm ở Tầu, ở Cuba, ở Việt Nam hay ở đâu đó thì tôi đành bỏ qua, chứ còn cái thứ ốc sên mà cũng bầy đặt hoành hành ngay sau sân sau nhà tôi thì đâu có được. Tôi bỏ dở bữa cơm, hùng hổ lái xe ngay đến Kmart vác mấy hộp thuốc trừ sên về rải khắp vườn. Thỉnh thoảng còn có dịp chứng tỏ cho mẹ thấy là mình chưa hoàn toàn vô dụng khiến tôi thấy nhẹ người hết sức.

Bố tôi vẫn thường giữ im lặng như bản tính xưa nay của ông; tuy thế, khi nhìn thấy rau thơm giồng ở ngoài vườn đã được ông cụ chiếu cố làm cho tôi thực sự thấy rất yên lòng.

Tôi nhớ mãi ngày đầu tiên đưa bố mẹ đi ăn phở ở hiệu Đắc Phúc. Ông cứ cầm cọng rau húng quế mãi trên tay, ngắm nghía thật lâu, vò nát một góc lá, đưa lên mũi ngửi rồi vứt xuống bàn. Tôi đã thấy nhiều người tỏ sự thất vọng và khó chịu vì mùi vị nhạt nhẽo của những cây rau thơm giồng ở Mỹ, nhưng chưa thấy ai biểu lộ một thái độ chán chường đến thế.

Chao ơi, ngay cái giây phút đó sao tôi khổ quá. Tôi chỉ muốn chết cho rồi. Tôi thương bố tôi đến chảy nước mắt và thấy ái ngại cho những cây rau thơm mọc ở xứ người. Lá của chúng cứ mỗi ngày một lớn và hương thơm thì cứ theo thời gian mà nhạt dần đi.

Rau thơm mẹ tôi giồng ở sau vườn cũng chả thơm gì mấy, nhưng khi nhìn thấy bố tôi nhẫn nại ngắt từng lá bỏ vào chén khiến tôi thấy được an ủi vô cùng.

Tôi đã nghĩ là phải tìm cách mua cho được căn nhà đó, phải mua bằng được một nơi trú thân an ổn cho bố mẹ già. Chỉ cần cố gắng thêm một thời gian nữa, thời gian đủ cho chúng tôi để dành được một số tiền thế chân chừng mười phần trăm là có thể nói chuyện mua bán được rồi.

Tôi cũng đã mường tượng trước là sẽ giồng thêm cho mẹ một cây bơ, và một hàng anh đào che kín vườn sau cho bố. Rồi ra, căn nhà của chúng tôi sẽ rực rỡ hoa đào mỗi độ xuân về.

Cái mùa xuân rực rỡ đó, tiếc thay, đã không bao giờ đến. Biến cố đến trước mùa hoa đào nở. Có hôm, người quản lý khu phố điện thoại vào tận chỗ tôi làm việc, với giọng gắt gỏng:

– Ê, daddy của mày sao kỳ quá hà ?

– Kỳ làm sao ?

– Ổng cứ mặc đồ ngủ đi vòng vòng hoài hà. Hàng xóm họ nghi ông điên. Mà ổng có “bị sao” không vậy ?

Tôi ngọng. Sự thực là bố tôi rất hay mặc một bộ quần áo pyjama trắng, đội cái nón nỉ, khoác thêm chiếc áo bành, và cầm một cây gậy đi dạo mỗi sáng “cho nó khỏe người”. Hình ảnh này đối với tôi bình thường và quen mắt quá. Tôi quen với nó ngay từ ngày bố tôi chưa phải cầm gậy, và thay vào đó là ông cầm bàn tay bé bỏng của tôi kìa. Tôi thấy như vậy “có sao” đâu ?

Sau đó đến chuyện của mẹ tôi. Bà cụ có hàm răng đen. Và cũng cứ theo lời thằng cha quản lý khu phố thì lúc bà cười “khiến nhiều người sợ hãi.” Hắn làm tôi nghĩ ngay đến một bà cụ quê mùa, nhỏ bé loắt choắt, lúc nào cũng đội xùm xụp chiếc khăn mỏ quạ, thỉnh thoảng đi lại ngoài đường… Hình ảnh này đối với một số người Hoa Kỳ quả là “khó coi”, đó là chưa kể đến hàm răng đen.

Tôi không hề nghĩ đến điều đó vì đối với riêng tôi – trong những năm dài xa cách – mỗi khi nhớ đến mẹ là tôi chỉ thấy hình ảnh của bà khi tôi còn bé tí, đi đâu cũng nắm chặt chéo áo của mẹ thôi; thuở ấy, răng của mẹ tôi đen huyền, môi hồng cắn chỉ. Dù có thêm bao nhiêu ngàn năm nữa qua đi thì mẹ tôi vẫn cứ mãi mãi đẹp tươi như thế và vĩnh viễn chả bao giờ có gì “khó coi” cả.

Cuối cùng là chuyện mấy con gà. Đàn gà mà mẹ tôi vô cùng hãnh diện vì lúc khởi đầu nuôi chỉ có mấy con thôi mà chả bao lâu nhà tôi đã biến thành “trại gia cầm.”

Hàng xóm than phiền là họ không ngủ được vì tiếng gà gáy sáng. Thế mà trong bao lâu cả hai mẹ con tôi vẫn cứ ngỡ là mình đã mang lại cho cả khu phố cái không khí thôn dã êm đềm nhờ vào tiếng gà gáy trong trẻo vào mỗi sáng.
Tôi có thể thuyết phục bố tôi thôi đừng đi dạo với bộ quần áo ngủ, năn nỉ mẹ tôi đừng tiếp tục nuôi gà nhưng tôi không biết làm thế nào ngăn được ác cảm và thành kiến của người dân bản xứ. Và rồi chuyện phải đến, đã đến.

Người quản lý báo cho tôi biết họ cần lấy lại nhà để sửa. Tôi hiểu đó chỉ là một cái cớ nên năn nỉ xin ở lại và đề nghị trả tiền thêm. Tôi cũng cố giải thích cho hắn hiểu là bố mẹ tôi sẽ… chết nếu sống không có đất. Cuối cùng hắn đành nói thực:

– Từ khi tụi mày tới đây khu phố ngó bộ muốn xuống giá. Chủ nhà chủ đất nó đâu muốn như vậy. Tao chỉ là thằng làm mướn cho tụi nó thôi. Nó biểu sao là tao làm vậy hà.

Thế là thôi. Thôi giã từ căn nhà có hoa anh đào, có hương hoa chanh thoang thoảng mỗi sáng, có bầy ong nhỏ loanh quanh bên giàn khổ qua xanh lá mỗi trưa, có đôi bướm trắng chờn vờn trên những luống cải lấm tấm điểm bông vàng vào những buổi chiều nhạt nắng. Người ta không thể mượn một mảnh đất để làm quê hương dù chỉ là mượn tạm để cho bố mẹ già nương náu cho hết những ngày tàn ngắn ngủi còn lại.

Tưởng Năng Tiến

25/01/2010 Posted by | Truyện | Bạn nghĩ gì về bài viết này?