sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Chào Y Bion


If we have no peace, it is because we have forgotten that we belong to each other.
(Mother Theresa)

“Buôn đẹp như một bức tranh với 36 mái nhà sàn xếp hàng đối xứng bên con đường đất pha cát mịn màng. Bao quanh buôn là cánh rừng già kèm theo dẫy núi Ch Pá… Bước đến Buôn Um là chạm vào chân rừng, gặp không khí mát dịu, nghe tiếng chim lảnh lót ríu ran muôn điệu và cả tiếng suối róc rách. Nhìn lên rừng xanh um, tầng tầng lớp lớp thâm nghiêm. Nhìn xuống thung lũng cuối buôn thấy mượt mà lúa nước… Buôn Um có từ lâu lắm rồi, từ thời cây rừng trên núi Ch Pá mới to bằng thân người. Ðến giờ cây đã to bằng năm, bằng bẩy thân người chập lại. Ở đâu phá rừng làm nương làm rẫy, mặc họ, còn ở Buôn Um dân làng từ thời trước cả thời ông bà, đến thời con cháu bây giờ đã nói với nhau lời thề giữ cánh rừng nguyên vẹn. Những khi cần đất làm rẫy, bà con chỉ dám đốt những khoảnh đất cỏ tranh, vài đám rừng bụi lúp xúp…”

“Nhưng câu chuyện về cánh rừng Buôn Um đã chuyển qua một hồi khác, với một số phận khác. Ðó là năm 1999, cánh rừng Ch Pá đang yên ả, xe máy từ đâu ầm ầm kéo tới. Xí nghiệp khai thác chế biến lâm sản K. ủi đường vào rừng khai thác gỗ. Dân làng ngơ ngác…” (http://www.vov.org.vn/2002_03_vietnamese/xahoi.htm).

Nạn lâm tặc, cướp rừng, không chỉ xẩy ra ở Ch Pá. Người dân ở buôn Um cũng không phải là những kẻ duy nhất bị bức hiếp và đẩy đến chân tường. Con giun xéo mãi cũng oằn. Cuối cùng, vào tháng 2 năm 2001, hàng vạn người dân miền núi đã phải đứng dậy bầy tỏ thái độ bất bình của họ với nhà đương cuộc Hà Nội.

Thay vì xét lại chính sách hà khắc cùng thái độ ngang ngược của mình, đảng Cộng Sản Việt Nam (với bản chất hung ác và xấc xuợc cố hữu) đã đàn áp, săn đuổi, bắt giữ và tra tấn nạn nhân. Những người tham dự vào những cuộc biểu tình hồi tháng 02/01 bị “đấu tố” bằng cách ép buộc đứng nhận tội trước làng và thề sẽ thôi liên lạc với người bên ngoài cũng như sẽ từ bỏ tôn giáo của mình [Villagers who had participated in the February 2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts with outside groups, and renounce their religion – Vietnam’s Repression of Montagnard (Human Rights Watch Press, New York, April 23, 2002]

Tình thế đã khiến cho nhiều người phải bỏ chạy khỏi Việt Nam. Y Bion, một chàng trai trẻ của núi rừng Cao Nguyên Trung Phần, đã lìa bỏ quê hương bản làng trong hoàn cảnh đó. Y Bion cùng với 905 người khác nữa (trong số này có một em bé mới sinh trên đường đi chuyển từ trại tị nạn Mondokiri về Phnom Penh) đã được chấp thuận định cư ở Hoa Kỳ.

Sau một thời gian bỡ ngỡ, rồi (chắc)Y Bion cũng sẽ học được một cái nghề, kiếm được một việc làm, tạo dựng được một mái ấm gia đình nho nhỏ, và sống một cuộc đời an bình – như bao nhiêu thế hệ di dân khác đã đến sống (và chết) ở đất nước này.

Mảnh đời tị nạn của Y Bion, dù bình thường và tầm thường đến thế, vẫn là niềm ước mơ xa vời (vượt tầm tay với) của hàng triệu triệu người dân Việt khác – bất kể thuộc sắc dân nào, đang sống (và chết dở) ở Việt Nam. Nhưng hoài vọng của Y Bion không dừng ở đó. “Ðời sống Mỹ thì tốt vào lúc này. Nhưng nếu chúng tôi đi Mỹ, sau đây mọi người sẽ quên khu vực Tây nguyên và những gì xẩy ra ở đó. Tôi thì không bao giờ quên. Khi vùng Tây Nguyên được tự do, tôi sẽ quay về“. Y Bion đã trả lời với phóng viên của hãng Reuter như vậy, khi được hỏi về dự tính của mình cho tương lai (“Người Thượng Sẽ Ði Mỹ Ðịnh Cư Nhưng Trở Về Khi Quê Hương Tự Do,” Người Việt, Westminster, California, 2 tháng 5 năm 02).

Y Bion không phải là người Việt tị nạn đầu tiên (hay cuối cùng) đến Mỹ. Anh cũng không phải là người duy nhất (vừa bước chân đi) đã ôm mộng trở về xây dựng lại quê hương. Tâm sự của Y Bion, chắn chắn, đã làm nao lòng rất nhiều người – những người mà vào đầu thập niên 1980, khi phong trào vuợt biển tìm tự do lên đến điểm cao nhất, cũng đã cắn răng rời bỏ quê hương, và cũng đều đã nhủ lòng rằng: “mai này chúng ta cùng về Việt Nam“. Từ đó đến nay, hàng triệu người đã “cùng về Việt Nam” nhưng phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đều chỉ về … chơi!

Tôi nghĩ làø Y Bion đã nói đến chuyện trở lại cố hương với một ý hướng tử tế hơn như thế. Tôi cũng tin rằng khi về tóc của Y Bion vẫn hãy còn xanh. May mắn hơn những kẻ đã bỏ đi một hai thập niên về trước, ngày về của Y Bion không còn phải là một ước vọng xa vời nữa. Sự băng hoại của chế độ hiện hành ở Việt Nam đã đến giai đoạn cuối.

Vật cùng tất biến. Tuy vậy, sự việc không nhất thiết sẽ diễn biến theo chiều hướng an bình và tốt đẹp – nhất là ở vùng Cao Nguyên Trung Phần, nơi Y Bion đã mở mắt chào đời, và cũng là nơi mà:” chỗ đứng của người Thượng trong lòng dân tộc Việt Nam chưa có đáp số” (Nguyễn Văn Huy, “Tìm Hiểu Nguyên Nhân Những Cuộc Nổi Dậy Của Người Thượng Trên Cao Nguyên Miền Trung,” Người Việt, 11 April 2001,B2). Nếu đúng thế, viễn tượng “mai này chúng ta cùng về Việt Nam” để xây dựng lại quê hương e sẽ có lắm gian nan và trắc trở.

Chiều ngày 3 tháng 6 năm 2002, đài Phát Thanh Á Châu Tự Do loan báo:” Tin tức xuất phát từ Cambodia cho biết, toán người Thượng Việt Nam tị nạn đầu tiên đã rời thủ đô Phnom Penh hồi chiều hôm nay để lên đường sang Hoa Kỳ định cư. Tin tức cho biết toán đầu tiên gồm 50 người, sẽ đến Los Angeles vào sáng sớm mai, tính theo giờ Việt Nam, và ở lại đây trong vòng 3 ngày trước khi về bang North Carolina định cư.”

Y Bion, rất có thể, sẽ là một trong năm mươi người đầu tiên đặt chân đến Mỹ. Ở Hoa Kỳ có hai tổ chức đấu tranh cho quyền lợi của những người sắc tộc ở VN. Tổ chức thứ nhất có tên là Montagnard Foundation, Inc. Trụ sở đặt tại South Carolina – do ông Ksor Kok, người sắc tôc Gia Rai, đứng đầu. MFI chủ trương lập quốc, tách hẳn Cao Nguyên Trung Phần ra thành một quốc gia biệt lập:

Ðây cũng là đòi hỏi của tổ chức BAJARAKA (tên viết tắt của bốn sắc dân Bahnar, Jarai, Rade, and Kaho – tiền thân của Fulro) kể từ năm 1957 (The goal of the BAJARAKA was to have a separate nation with its own administration and army. What it really means is the independence for Degar peopleshttp://montagnard-foundation.org/bajaraka.html).

Tổ chức thứ hai có tên là Montagnard Human Rights Organization, thành lập năm 1998, có trụ sở ở North Carolina, do hai ông Y Bhuat Eban (chủ tịch) và Nay Rong (phó chủ tịch) lãnh đạo. MHRO có chủ trương ôn hoà và nhân nhượng hơn: đấu tranh trường kỳ bằng những phương thức bất bạo động cho đến khi nhà đương cuộc Hà Nội thừa nhận và thoả mãn những đòi hỏi sau đây:

  1. Chấp nhận người Thượng là chủ nhân chính thống và hợp pháp của vùng Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam vàø quyền tự trị của vùng đất này, như đã được thừa nhận bởi nước Pháp vào ngày 27 tháng 5 năm 46.
  2. Tôn trọng quyền tự quyết, độc lập, tự do và chủ quyền lãnh thổ của người dân Thượng.
  3. Công nhận những quyền căn bản của người Thượng, như đã được bảo đảm bởi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do đại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948.

(The MHRO will carry out a long-term struggle in peaceful means until the Hanoi government recognizes and satisfies the following demand:

  1. To recognize the Montagnard people as the legal and rightful owners of the Central Highlands of Vietnam.  And to recognize the autonomy granted to the Montagnard people by the French on May 27, 1946.
  2. To respect the right to self-determination, independence, freedom and territorial sovereignty of the Montagnard people.
  3. To recognize the basic rights of the Montagnard people that are guaranteed by the Universal Declaration of Human Rights proclaimed by the General Assembly of the United Nations on December 10, 1948 – http://www.mhro.org/)

Montangard Foundation Inc. là động lực chính của biến động 02/01, một biến động lớn nhất ở Việt Nam kể từ khi người cộng sản cướp được chính quyền. Về phiá Montagnard Human Rights Organization, họ đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình ở Washington D.C. và New York vào năm 2001 để phản đối chính sách man rợ của nhà cầm quyền Việt Nam đối với người dân bản địa. Sau đó, họ đã thành công trong việc vận động chính giới Hoa Kỳ để những người tị nạn ở Cao Miên (sau biến động 02/01) được phép định cư ở Mỹ.

Tôi e rằng Y Bion không hề biết đến những tổ chức vừa kể, cũng như chủ trương, và những hoạt động của họ. Hầu hết người Việt (có lẽ) cũng đều như thế. Chỗ đứng của “đồng bào” Thượng trong lòng người Kinh chưa có đáp số, đã đành; chuyện khó đành hơn là (dường như) cũng không mấy ai bận tâm xem là họ sẽ “đứng”, “nằm” hay “ngồi” ra sao cả. Cứ làm như thể họ không hề hiện hữu vậy; hoặc giả, nếu có, cũng chỉ là “chuyện nhỏ thôi”!

Cho đến nay, theo như tôi biết (và tôi cầu mong rằng sự hiểu biết của mình hoàn toàn sai sót), Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên là tổ chức duy nhất ở hải ngoại có đề cập đến vấn đề chủng tộc, trong Dự Aùn Chính Trị Dân Chủ Ða Nguyên của ho – xin tóm gọn, như sau:

“Ðất nước ta tuy có một lịch sử dài nhưng lại là một đất nước mới. Miền Trung mới hội nhập xong từ thế kỷ 17, miền Nam từ thế kỷ 18. Nước ta đã tiếp nhận rất nhiều đóng góp mới về đất đai và chủng tộc. Tuy vậy tổ chức của ta lại không thích nghi với những thay đổi đó và vẫn được quan niệm một cách sai lầm như là đất nước của một cộng đồng duy nhất: cộng đồng người Kinh…”

Trong suốt dòng lịch sử, trừ một vài ngoại lệ ít ỏi, người Kinh hầu như chưa hề nhìn nhận một trách nhiệm nào đối với các sắc tộc ít người mà chỉ áp đặt khuôn mẫu của mình, nếu cần bằng bạo lực. Tình trạng này nếu không được nhận định rõ rệt để kịp thời có chính sách thỏa đáng có thể dẫn tới những hậu quả rất tai hại, nhát là trong bối cảnh thế giới hiện nay và sắp tới. Nhiều quốc gia đang và sẽ còn phải khốn đốn vì những cuộc nổi dậy cuồng nhiệt của các sắc tộc ít người vùng lên đòi bản thể. Nếu chúng ta không cảnh giác để cho tình trạng này xảy ra thì hai vùng rộng lớn của đất nước là miền Thượng Du phía Bắc và miền Cao Nguyên Trung Phần có thể trở thành bất ổn và không phát triển được”.

“Các cộng đồng đều phải được tôn trọng như nhau trong một đất nước Vitệ Nam được định nghĩa như là đất nước của các cộng đồng… Cộng đồng người Việt gốc Khmer đã sống từ ngàn xưa tại miền Nam, cộng đồng người Việt gốc Hoa đã góp công lớn khai mở ra miền Nam phải được coi là những người Việt Nam trọn vẹn trước luật pháp cũng như trong tình cảm dân tộc”.

“Quốc gia Việt Nam phải gạt bỏ hẳn ý đồ đồng nhát háo để mưu tìm đồng tiến trong dị biệt. Chúng ta phải khẳng định rằng đất nước Việt Nam không được định nghĩa bằng một chủng tộc mà bằng sự chấp nhận chia sẻ một tương lai chung…”

“Lịch sử Việt Nam cũng phải được xét lại và được coi như lịch sử của các sắc dân đã họp lại để tạo thành đất nước Việt Nam…”

[“Thành Công Thế Kỷ 21” (Dự Aùn Chính Trị Dân Chủ Ða Nguyên) Paris 2001, trang 58 &59].

Tôi thiệt mát lòng mát dạ vì những đoạn văn in nghiêng vừa trích dẫn, dù tự thâm tâm chưa dám mong mỏi đến chuyện mọi con dân sống trên đất Việt “phải được coi là những người Việt Nam trọn vẹn trước luật pháp cũng như trong tình cảm dân tộc“. Chuyện “tình cảm”, để đó, tính sau. Người ta “nhìn nhau” hoặc “coi nhau” ra sao còn tuỳ vào “kích thước”, nghĩa là “tầm nhìn”, của từng cá thể. Nhưng ở bình diện quốc gia, và về phương diện pháp luật thì mọi người người phải được đối xử tuyệt đối bình đẳng, không phân biệt tuổi tác, phái tính, tôn giáo, địa phương, quá khứ hay sắc tộc gì ráo.

Từ lâu, nhiều nước trên trên thế giới đã tạo lập được đời sống ổn định và phú túc cho dân chúng nhờ vào ý niệm bao dung và khai phóng như thế- khi đặt mọi nền móng để xây dựng quốc gia của họ.

Tại sao chúng ta (nhất là những kẻ đã có dịp sống ở ngoại quốc) không học hỏi được điều này từ những bài học đó? Tại sao đến hôm nay người Việt (bất kể Kinh/Thượng) phải trở lại với cái ý niệm “tự trị”, và những phân định của người Pháp – từ tiền bán thế kỷ XX – về một vùng đất mà họ phân định là P.M.S.I. (Pays Montagnards du Sud Indochinois) hay gì gì đó. Ðó chả qua là sách lược chia để trị, tiện lợi cho họ, vào thời điểm cũ mà thôi. Sao cứ nghe đến người Pháp và những phần đất được gọi là Bắc Kỳ, Trung Kỳ hay Nam Kỳ Tự Trị …là tự nhiên tôi muốn … ói!

Tôi cũng không tin rằng thành lập một quốc gia riêng ở Cao Nguyên Trung Phần, với dân số vài trăm ngàn người, bao gồm hơn bốn mươi săc dân riêng biệt (Bahnar, Jarai, Rhade, Koho, Sedang, Bru, Pacoh, Ktu, Jeh, cua, Halang, Hre, Rongao, Monom. Roglai, Cru, Monong, Lat, Sre, Nop, Maa, Stieng, ect…), giữa một vùng đất không có đường thông thương với thế giới bên ngoài là một giải pháp thực tế và khả thi – ít nhất thì cũng trong hoàn cảnh hiện tại. Ðiều này cũng không mang lai lợi ích thiết thực (cho bất cứ ai) mà chỉ có nguy cơ tạo ra bất ổn và chiến tranh, nhất là nội chiến.

(Con người vốn không thích hoà bình mà chỉ thích chấm dứt chiến tranh. Ðiều này đúng cho toàn thể nhân loại ở mọi nơi và mọi thời, trừ dân tộc Việt – ở thế kỷ này. Người Việt đánh nhau, giết nhau, chửi nhau, cư xử tàn tệ với nhau … như vậy đủ rồi. Stop it!)

Tôi xin lỗi vì thái độ hơi thiếu tự chế của mình qua những giòng chữ (chuyên chở quá nhiều xúc cảm) như vừa viết. Chả qua vì tôi đã thất vọng quá, thất vọng não nề, và thất vọng đến cùng cực về cách mà dân Việt (nói chung, chứ chả riêng chi người không cộng sản) cư xử với nhau, nhất là đối với những “đồng bào” kém may mắn của mình – nơi miền sơn cước.

Tôi cũng xin được tha thứ, nếu sai lầm, vì đã không ủng hộ đòi hỏi tự trị hay lập quốc của những cư dân ở Cao Nguyên Trung Phần. Ðúng ra, đây là những vấn đề mà thứ thường dân (như tôi) có lẽ không nên lạm bàn. (Chúng sẽ được bàn cãi và đi đến chung quyết bởi quốc hội Việt Nam, mai hậu, với đầy đủ qúi vị dân biểu của mọi sắc dân).

Tuy nhiên, vì đã lỡ bàn (với tất cả chủ quan), tôi đành “bàn” tiếp. Người Thượng chỉ có một chỗ đứng duy nhất ở Việt Nam mà thôi. Họ đứùng ngang hàng với người Kinh và với mọi sắc dân khác trên đất nước Việt. Ðó cũng là đáp số duy nhất (đúng) cho bài toán chủng tộc ở Việt Nam.

Chúng ta (có thể) không bình đẳng tuyệt đối trong ánh mắt của nhau nhưng mọi người (bắt buộc) phải tuyệt đối bình đẳng trước pháp luật. Nếu không, tình trạng Việt Nam hậu cộng sản so sánh với hiện trạng (nếu có khác biệt) thì chỉ là ở mức độ- chứ bản chất nó vẫn là cái thứ xã hội xây dựng trên kỳ thị, bất công và áp bức.

K’ Tien

26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ðường Vào Ðất Thái


Tôi ra phi trường Los Angeles để đi Thái Lan với một bộ quần áo xám nhatï mặc trên người và một cái va li Samsonite nhỏ xách ở tay. Nếu cuộc đời là một cuộc khiêu vũ giả trang và chúng ta, đôi lúc, vẫn phải “giả dạng” chút đỉnh vì lý do này hay lý do khác  thì  tôi là một thằng hoá trang quá tệ! Trông tôi vừa trịnh trọng, vừa lố bịch – cũng lố bịch và trịnh trọng như thái độ của tôi suốt chuyến đi, và như …tựa đề của cái bài viết luộm thuộm tả này.

Trước đó, cũng đã có một hai lần vì chuyện áo cơm nhiều người đã ân cần khuyên nhủ tôi
nên khoác một bộ đồ lớn vào người khi đi xin việc. Chiều đời, và chiều người tôi đã làm như thế nhưng chỉ được độ vài phút là tôi đã cởi vội nó ra (vứt ngay vào một xó) với ý nghĩ rằng không có việïc làm thì thôi chứ chả tội gì mà phải đóng khung khổ sở như thế – dù chỉ là giả vờ đóng khung chỉ độ nửa ngày.

Tôi còn tin chắc chắn rằng điều cản trở lớn lao nhất cho chuyện tình duyên gia đạo của tôi không phải chỉ vì tôi luôn luôn rỗng túi mà còn vì số tử vi của mình “không có cung mặc đồ lớn”. Ít nhất thì cũng đã có một lần, tôi và một người con gái hăng hái bàn tính chuyện hôn nhân. Chúng tôi đã đi xa đến độ nghĩ đến bạn bè ai sẽ là phù dâu, ai sẽ là phù rể; hôn lễ sẽ cử hành ở chùa hay ở nhà thờ… Nhất nhất tôi đều chiều theo ý của nàng. Mọi chuyện ổn thoả tới cỡ mà tôi có cảm tưởng như là chỉ vài phút nữa thôi, chúng tôi có thể “động phòng hoa chúc” – ngay tại băng sau trong cái xe cà khổ của tôi thì nàng bỗng nhắc đến bộ complet mà tôi phải mặc vào ngày cưới, và điều này đã khiến tôi rẫy nẩy lên y như đỉa phải vôi… Chuyện tình thắm thiết của chúng tôi, tất nhiên, trở thành thảm thiết ngay sau đó.

Chúng ta đang sống trong một thời đại và một thế giới mà thỉnh thoảng vẫn còn sót lại vài ba cô gái chịu lấy chồng chỉ vì tình yêu nhưng chắn chắn không cô dâu nào (cùng ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, em út… của nàng) chấp nhận một chú rể mặc quần jean và áo pull over trong ngày cưới.

Tôi cứ khăng khăng đứng về phía những kẻ không được cuộc đời chấp nhân như thế, nhất
định không chịu làm hoà với cuộc đời thổ tả này và tin tưởng rằng mình cứ… bảnh như thế mãi. Tôi lầm, Giời ạ!

Ngày hôm ấy, trong restroom của phi trường Los Angeles, tôi nhìn vào gương và bắt gặp
rõ ràng mình đang mặc complet. Má ơi – tôi chết được vì ngượng, vì buồn và vì thất  vọng về mình. Tôi bẽn lẽn mỉm cười, cùng với ý nghĩ an ủi gượng gạo là tôi mặc veston coi … cũng được – ít nhất thì cũng đuợc hơn cả đống thằng, dù quên để ý coi đó là những thằng nào!

Coi, rõ ràng là tôi giả dối và lường gạt cả chính mình. Vấn đề thực sự không phải là tôi
mặc đồ lớn coi có được hay không mà là tại sao tôi phải làm như thế chứ?   Bộ Thái Lan là chỗ dữ dằn hung bạo tới cỡ mà khi tới đó người ta phải giả dạng hoá trang cho ra vẻ đàng hoàng lịch sự nếu không thì mất mạng hay sao? Nếu đúng như vậy thì tôi có lý do để tha thứ cho một lần lầm lỡ của mình, và để biện minh cho cái tựa đề (nghe rất có vẻ tiểu thuyết đường rừng) là Ðường Vào Ðất Thái này. Sự thực, tiếc thay, không hoàn toàn như vậy. Nó kỳ cục hơn nhiều.

Nói tình ngay thì người Việt chưa có ai mang tiền đến Thái Lan để dầu tư, cũng không
mấy ai đến đây như du khách. Dân tộc Việt không giàu và cũng không có cái diễm phúc đó. Tùy theo thời  gian, không gian (nghĩa là điểm khởi hành) mà người Việt tìm đến Thái Lan một cách gian nan và phiền toái khác nhau. Có lẽ vì vậy mà nguời Thái chưa bao giờ tiếp đón người Việt ghé qua nước họ một cách vui vẻ, đàng hoàng và tử tế.

Dù không có mặt trong đoàn tùy tùng của vua Gia Long, khi  ông chạy dạt vào Thái Lan
năm 1783, tôi vẫn tin chắc chắn rằng vị tiên vương của triều Nguyễn đã không hề được hoàng gia Thái tiếp đón bằng nghi lễ dành cho quốc khách.  Một trăm sáu mươi mốt năm sau, năm 1954, thêm một mớ người Việt tị nạn cộng sản chạy đến Thái Lan. Ðám người này cũng không có uy thế gì hơn vua chúa của mình để có thể được niềm nở đón chào.

Sau cái biến động nghiệt ngã 1975 thì “cả nước Việt Nam” ào ạt nhào qua nước Thái để
xin tị nạn. Tôi theo chân đợt người Việt đông đảo này đến Thái, lần đầu, vào năm 1980.

Tôi đến Thái Lan tả tơi, ủ dột như một cái mền bông ngấm nước. Ðây là một chuyến đi ê chề và buồn thảm… Sự  dã man, hung bạo của người Thái đối với dân tộc Việt đã khiến cho nhân loại phải chau mày ái ngại.

Tám năm sau, từ Hoa Kỳ, tôi trở lại Thái Lan.  Tôi đi tìm một người bạn đã tham gia vào
những hoạt động của một tổ chức chính trị hải ngoại và bị coi như là thất tung ở vùng tam biên Thái – Miên – Lào. Chỉ có thế thôi mà đã khiến cho tôi lo lắng đủ thứ trước lúc khởi hành. Và chỉ cần nghe một người xúi dại là nên mặc veston khi vào đất Thái (cho nó có vẻ là du khách) là tôi nghe lời ngay tức khắc.

Tôi sẽ xấu hổ về chuyện này cho tới chết. Chứ cái gì đã khiến cho những kẻ sinh sống lâu
năm ở hải ngoại như tôi trở nên bi quan và nhút nhát đến thế. Cùng là đường vào đất  Thái mà sao khi khởi hành từ Việt Nam thì người Việt lại lạc quan và can trường thế?  Họ ào ạt ra đi bằng mọi giá, bất chấp mọi hiểm nguy, không đếm xỉa gì đến cả một đại dương bao la hãi hùng trước mặt. Lúc đi hăm hở quyết liệt bao nhiêu thì khi trở lại rụt rè e ngại bấy nhiêu!

Chính thái độ này của tập thể người Việt hải ngoại đã biến Thái Lan thành một vùng đất
huyền thoại, một căn nhà …có ma – nơi mà “kháng chiến” hay “phục quốc” gì đó chỉ là chuyện riêng của vài nhúm người. Tất nhiên, họ không làm được việc. Và họ bị qui trách nhiều tội danh khác nhau. Có nhóm bị dư luận cho rằng đã lợi dụng lòng tin của dân chúng để lập “công ty kháng chiến ma” với mục đích trục lợi, có nhóm bị tình nghi là đã dựng nên những tổ chức kháng chiến  như những… cái bẫy để lùa những người yêu nước vào vòng lao lý. Những lời cáo buộc nghe tuy hơi hàm hồ và khôi hài nhưng không phải là hoàn toàn vô căn cớ.

May mắn là đường vào đất Thái  không phải là con đường duy nhất cần phải bước qua để
đi về. Chúng ta có thể trở về bằng nhiều con đường khác, giản tiện và ít hiểm nguy hơn. Vấn đề còn lại, từ đây, không còn phải là đi đường nào mà là đi ra sao.  Chính thái độ của chúng ta mới là yếu tố quyết định cho chuyện thành bại trong việc mở một lối về, để góp sức với những người còn ở lại, đưa quê hương dân tộc ra khỏi cảnh lầm than… Ðiều thực sự cần chỉ là sự quyết tâm và chính tâm. Và đó vẫn là điều chưa thấy có trong tập thể người Việt hải ngoại.

Tưởng Năng Tiến

26/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tiếng Nấc Của Rừng


The Vietnamese really think that the best kind of Montagnard is a dead one.
(Lionel Rosenblatt)

“Tôi đã sống bẩy năm trên vùng thượng du của tỉnh Thanh Hoá, bên bờ con sông Mã, và đã bẩy mùa xuân chứng kiến những kỳ diệu của đất trời, núi sông và lòng mình. Ðấy là một nơi hiểm trở, trại đóng ngay bên sườn núi trông xuống sông, bên kia sông là một bình nguyên nho nhỏ, rồi lại tiếp tục núi. Hai đầu sông được chắn bởi núi, bốn phiá toàn núi, gần xa đậm nhạt khác nhau“.

Chữ “trại” trong đoạn văn vừa dẫn là một trại tù, và người say mê mô tả cảnh “kỳ diệu của đất trời núi sông” là một tù nhân. Một người tù “quắt queo đói lạnh, tả tơi đứng bên sông núi”- suốt từ năm này sang năm khác – mới cảm nhận hết được lẽ chuyển đổi vi diệu của đất trời, để ghi lại được một đoạn văn diễm lệ:

Mùa thu núi bỗng mơ màng. Bầu trời trong xanh hơn và núi như phủ mờ một làn suơng khói mỏng. Trời càng se lạnh núi càng xa cách, càng rời xa vẻ thực tế tầm thường để tự biến mình thành huyền ảo. Vào mùa thu sông Mã đã thôi gầm lên khúc độc hành, vẻ đục ngầu dữ tợn của mùa hè đã trôi mất, bây giờ lặng lẽ trong xanh để hoà hợp với dáng núi đang trong một chuyển cung yểu điệu. Trời, núi, sông và người cùng vào một cơn ngất ngây buồn như tiên cảm một nỗi lạnh tê đầy bất trắc. Các ruộng bắp ven sông đã úa vàng. Công việc thu hoạch mùa màng vào những buổi chiều mùa thu mang một vẻ đẹp cổ điển với ánh nắng vàng xiên xiên, lá bắp khô xào xạc, và bếp lửa nấu nước ở bờ ruộng vuơn cột khói lên cao...” (Phạm Xuân Ðài. “Nét Xuân Sơn”. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ, Hoa Kỳ1994, 57-58).

Tôi sống xa nhà đã lâu, lâu đến độ tình hoài hương tưởng chừng đã chết; vậy mà bỗng thấy bâng khuâng khi chợt gặp lại được nét đẹp tiêu sơ, của những buổi chiều thu êm đềm, nơi quê cũ.

Tôi lái xe vượt hàng ngàn cây số, đến tận nơi tạm cư của nhà văn Phạm Xuân Ðài, với hy vọng được nghe thêm chút đỉnh về Thanh Hóa- nơi mà ông đã sống hàng chục năm trời, và tôi thì chưa bao giờ có dịp ghé qua. Ông rộng lòng tiếp tôi nhưng sự hiểu biết quá hạn hẹp của ông về Thanh Hoá khiến tôi vô cùng thất vọng.

– Thế thành phố Thanh Hoá có nét gì đặc biệt không anh?

– Tụi này hình như không có dịp đi vào thành phố!

– Anh nói “hình như” có nghĩa là sao?

– Vào đến Thanh Hoá thì đã giữa khuya. Phần thì buồn ngủ, phần thì xe bị họ che kín bít bùng nên không biết là có đi qua thành phố hay không?

– Người dân Thanh Hoá có dễ mến không anh?

– Ờ…thì chắc cũng phải có nhiều người dễ mến chớ. Có cái là tụi này cũng chưa có dịp tiếp xúc…

– Trời, bẩy năm ở Thanh Hoá mà anh không gặp một người nào hết trơn hết trọi sao?

– Lâu lâu cũng có thấy vài người, ở tuốt đằng xa. Chắc là người Mường. Tụi tui không được phép đến gần nên cũng… hơi khó nói!

Tôi quầy quả bỏ về (xém chút xíu dám quên luôn đôi lời từ biệt) với ít nhiều giận dỗi mà không biết rõ ràng là mình đã giận ai. Vừa đi, tôi vừa dò dẫm chính mình và chợt khám phá ra rằng tôi đã giận tất cả – không chừa ai, kể cả chính mình.

Nói cho đúng ra thì nhà văn Phạm Xuân Ðài không hề được sống ở Thanh Hoá. Ông bị nhốt ở nơi này. Ông từng có mặt ở đó mà gần giống như không. Ðó chỉ là một cách hiện hữu âm thầm, mờ nhạt, mơ hồ và thoi thóp. Thanh Hoá- đối với ông- không là gì khác ngoài một khoảng đâùt trời “bốn phiá toàn núi”, và (thương ơi) chấm hết!

Nhưng nghĩ cho cùng thì ông Phạm Xuân Ðài, và những người tù như ông, vẫn còn được coi là may mắn. Họ không hoàn toàn bị bỏ quên. Sau những mùa đông quắt queo vì đói lạnh (nếu còn sống sót) họ còn có cơ may được cho về, trở lại miền xuôi; sau đó, còn có hy vọng “chạy” thoát khỏi cái phần quê hương tù ngục của chính mình để làm lại cuộc đời – dù muộn. Phạm Xuân Ðài đã có cơ may như vậy, và ông tin rằng mình được đồng loại quan tâm một cách chí tình – “như các thành viên của một gia đình lo cho nhau“. (“Từ Giã Việt Nam”, sđd, 152).

Dù hoàn toàn chia sẻ niềm tin yêu và sự lạc quan của nhà văn Phạm Xuân Ðài về tình nhân loại, tôi không khỏi băn khoăn khi nghĩ đến những người còn ở lại nơi núi rừng Thanh Hoá- những người Mường mà nhà văn Phạm Xuân Ðài đã nhìn thấy, từ xa, khi còn ở trại tù.

Họ vẫn còn ở đó, vẫn tiếp tục sống trong đói lạnh trên những bản làng xa. Họ đã sống âm thầm, tả tơi như thế từ rất lâu rồi nhưng không mấy ai để ý. Lý do: chỉ vì họ ở … quá cao!

Nếu không có dịp nói chuyện với nhà văn Phạm Xuân Ðài, có lẽ tôi cũng đã quên luôn những đồng bào cùng khổ của mình nơi chốn cũ.

Và đó là nguyên do khiến tôi hờn giận. Tôi giận dỗi vì sự vô tình của chính mình. Và những kẻ vô tình như tôi thì … (ôi thôi) nhiều vô số. Xin đơn cử vài thí dụ, từ xa đến gần:

Trước hết hãy nói qua về tác phẩm Shadows And Wind của Robert Templer, do Penguin xuất bản năm 1999. Nó được không ít người ca ngợi. Riêng tờ The Guardian đã khen tặng đây là “Một cuộc khảo sát tỉ mỉ và hấp dẫn về hiện trạng của Việt Nam” (A meticulous and fascinating investigation into the reality of life in contemporary Vietnam). Lời khen ngợi này không có gì quá đáng. Cuốn sách để cập đến mọi vấn đề (nếu không muốn nói là ngõ ngách) và mọi giới người trong xã hội Việt Nam, từ cổ chí kim – chỉ trừ những người sắc tộc, ở cao nguyên.

Nói tình ngay thì Robert Templer cũng có nhắc đến những địa danh như Buôn Ma Thuột khi bàn về … cà phê cứt chồn, đến Ðà Lạt khi viết về khách sạn Palace, và Sơn La như là nơi mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã sống thuở hàn vi – khi còn là một cậu giáo viên miền ngược.

Chỉ có một nhân vật duy nhất, thuộc sắc tộc Nùng, tên Nông Thị Xuân, được nói đến (ở trang 40) vì cuộc tình đẫm máu của cô sơn nữ này với ông Hồ Chí Minh. Nói là đẫm máu vì theo những tài liệu mà Robert Templer thu thập được thì bà Nông Thị Xuân đã bị tình nhân cho xe … cán chết!

Cùng với Shadows and Wind, một cuốn sách khác nữa viết về Việt Nam cũng cần được đọc là một tác phẩm mới của nhà văn Lê Thị Huệ. Sau gần mười chuyến trở về Việt Nam vào những dịp hè và cuối năm, đến năm 1999 bà đã ở hẳn lại một năm để đi nghiên cứu nhiều sinh hoạt văn hoá và thăm thú hầu hết các tỉnh phía Bắc. Chắc chắn nhà văn Lê Thị Huệ có dừng chân nơi miền sơn cước vì thấy có hình của tác giả, chụp chung với những trẻ em miền núi, ở bìa sau cuốn sách.

Tuy vậy, Lê Thị Huệ đã không viết một dòng chữ nào về những nguời dân sắc tộc trong suốt 260 trang sách của tác phẩm này. Theo bà Huệ, Việt Nam “là một xứ sở được nuôi dưỡng bởi tôm cá của biển cả và lúa gạo của đồng ruộng, dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hoá biển và văn hoá đất.”(…). “Văn hoá đất, hay còn gọi là ‘văn hoá lúa nước’ của nguời Việt thường biểu lộ tính chống chọi, be bờ, bám trụ, bảo vệ khép kín.” (Văn Hoá Trì Trệ Nhìn Từ Hà Hội Ðầu Thế Kỷ 21. Văn Mới, Hoa Kỳ 2001, 135-136). Nó khép kín và be bờ đến độ không những chỉ bài ngoại mà còn … bài nội. “Văn hoá lúa nước” dường như không chịu chấp nhận “văn hoá lúa rẫy”, nơi miền sơn cước!

Ở Việt Nam có một hiện tuợng khiến nhà văn Lê Thị Huệ rất phiền lòng là “…cây xanh Hà Nội buồn làm sao ấy. Cây xanh Hà Nội biền biệt tiếng chim.”(sđd 258). Hà Nội (nói riêng) và những thành phố ở Việt Nam (nói chung) không chỉ thiếu sự bao dung đối với loài chim. Chúng khắt khe luôn cả với loài người. Chúng không có chỗ cho những người thuộc sắc tộc thiểu số. Họ cũng “biền biệt” nơi nào ấy.

Tôi không nghe bất cứ ai nhắc đến họ và có lẽ cũng chả ai bận tâm về sự thiếu vắng này. Trước Robert Templer và Lê Thị Huệ không lâu, một người cầm bút khác – sau một chuyến viếng thăm Việt Nam ngắn ngủi – đã viết những dòng chữ bịn rịn (muốn rơi nước mắt) như sau, khi từ biệt: “Hai tuần về bên kia quá ngắn, chưa đủ cho chúng tôi thấy hết đất nước Việt Nam và những con người sống chen chúc trên mảnh đất ấy. Từ một góc phố Biên Hoà tôi không thể biết đến nỗi niềm của người Bình Ðịnh ở miền Trung, không thể hiểu đuợc vui buồn của người Bắc Giang ở miền Bắc, và cũng không thể nghe được tâm sự của người Bạc Liêu ở miền Nam” (Hoàng Mai Ðạt, Giữa Hai Miền Mưa Nắng. Văn Nghệ, Hoa Kỳ1999, 287).

Tấm lòng của ông đủ rộng để ôm ấp tất cả mọi người, thuộc đủ ba miền đất nuớc. Nhà văn Hoàng Mai Ðạt chỉ quên có vài… triệu người dân ở miền cao. Mà họ cũng là người Việt, cũng “vui buồn”, cũng có “nỗi niềm” và “tâm sự” chớ bộ?

Tại sao như thế nhỉ ? Vì “xa mặt” nên “cách lòng” chăng? Mà theo Encarta (http://encarta.msn.com) thì có đến năm mươi sắc dân miền núi khác nhau, với ngôn ngữ và phong tục dị biệt, chiếm đến một phần bẩy dân số Việt Nam chứ đâu có ít. Không lẽ gần một chục triệu nguời sơn cước đó không bao giờ bước xuống miền suôi? Họ làm gì mà cứ ở miết nơi những bản làng heo hút đó kìa? Bộ trên núi “vui” dữ vậy sao?

Sự cô lập này (không dưng) khiến tôi liên tưởng đến những ngày tháng lưu đầy của người tù Phạm Xuân Ðài. Ông từng sống ở Thanh Hóa mà cũng như không. Sự hiện hữu của Phạm Xuân Ðài ở nơi này rất mơ hồ, âm thầm, mờ nhạt và thoi thóp. Những người dân miền núi , dường như, cũng thế. Họ không sống ở Việt Nam. Họ chỉ bị giam hãm ở nơi này.

Nếu thỉnh thoảng có những nguời tù trốn trại thì đôi lúc cũng có vài nguời dân miền núi lạc xuống đồng bằng. Người thứ nhất tên Pờ Diệu Ninh. Ðây là cô “học trò nữ đầu tiên của dân tộc Hà Nhì, xã Xính Thầu được xuống huyện, xuống tỉnh để học.” Thứ hai là em Vừ Thị Xy, người dân tộc Mông, ở bản Pó Chạ, tỉnh Sơn La. “Cả bản Pó Chạ chỉ có mỗi mình Xy đi học…và em là một trong 4 học sinh dân tộc theo học ở trường trung học phổ thông Năng Khiếu của thị xã Sơn La.”

Những dòng chữ in nghiêng, và được để trong ngoặc kép ở đoạn văn dẫn thượng, được trích từ bài phóng sự “Những Bông Hoa Của Núi Rừng” của báo Nhân Dân (số ra ngày 18 tháng 4 năm 2001, đúng bẩy mươi sáu ngày, sau khi có cuộc nổi dậy – lần thứ hai – để dòi quyền sống của những người dân cao nguyên).

Trước đó không mấy khi người ta đọc được một bài phóng sự có cái tựa văn hoa, mỹ miều, và “đậm đà bản sắc dân tộc” như thế ở tờ báo thổ tả này. Thường chỉ là những mẫu tin lạnh lùng và khô khốc – đại khái như sau, về số lượng học sinh thuộc dân tộc thiểu số được tuyển chọn vào đại học:” Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Ðăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Ðáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng” (nhật báo Nhân Dân số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000).

Tôi vốn tính không biết lo xa; dù vậy, sao cứ thấy rùng mình khi nghĩ đến tương lai của những nhóm người sắc tộc thiểu số ở Việt Nam, qua những mẫu tin tương tự. Nửa thế kỷ qua, người cộng sản đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác đối với dân tộc Việt; riêng với tội diệt chủng những người dân thiểu số ở cao nguyên, tôi trộm nghĩ, họ không phải là những kẻ duy nhất chịu hoàn toàn trách nhiệm. Chúng ta cũng sẽ bị kết án là can tội đồng loã. Im lặng trước tội ác là đồng loã, chớ còn gì nữa?

Tưởng Năng Tiến

26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nỗi Bực Của Rừng


Cynics and critics wake up us. Kindness often covers up the truth and allows us to sleep on in our ignorance.
(Wilfred A. Peterson)

Mẹ tôi sinh ở thôn Vô ngại, xã Dũng Thúy, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình. Có lần, tôi (tình cờ) nhìn thấy ghi trên căn cước của bà như vậy. Bố tôi (nếu không phải là một nông phu Thái Bình) thì chắc cũng là dân Nam Ðịnh hoặc một địa phương vớ vẩn nào đó, tương tự, ở châu thổ sông Hồng. Tôi không biết rõ những chuyện này, và cũng không muốn biết những điều dấm dớ như thế làm chi. Tôi tuyệt nhiên không “có máu” địa phương, và tuyệt đối không bao giờ quan tâm đến những chuyện (lôi thôi) của dân tình ở miền xuôi – dù gốc gác của tôi ở nơi này.

Tôi sinh ở Sài Gòn, nơi được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Tuy thế, chỗ tôi chôn rau cắt rốn (Xóm Chiếu, Khánh Hội) lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm – nếu chưa muốn nói là ngược lại. Khánh Hội (như mọi người đều biết) là “quê hương” của những kẻ bụi đời, những tay anh chị, những cô gái điếm, những đứa bé đánh giầy, những kẻ cờ gian bạc lận, những ông bà chuyên hành nghề móc túi hay đá cá lăn dưa …

Nuôi con để lớn lên trở thành một tay anh chị, dường như, không phải là ước mơ “thầm kín” của bố mẹ tôi. Có lẽ, phần nào, vì thế nên không bao lâu – sau khi tôi ra đời – họ dọn nhà lên Ðà Lạt.

Tôi lớn lên ở cao nguyên, và “bị rừng núi hoá” hoàn toàn từ đầu đến chân – ngay từ thuở ấu thời. Người miền núi chúng tôi chất phát, lương thiện và tuyệt đối không dối trá hay trí trá – như (không ít) những kẻ ở miền xuôi. Nói như thế, tôi biết, nghe rất dễ mích lòng. Tôi lấy làm tiếc vì đã không thể nói khác hơn vì sự thực rành rành như thế mà. Xin được đan cử vài thí dụ ….

Ngày 6 tháng 9 năm 2002, hãng thông tấn AFP loan tin nhà đương cuộc Hà Nội đã bắt giữ khoảng 30 người Thượng – sau khi họ tham dự vào một cuộc biểu tình phản đối chính phủ tại làng Sao, huyện Madrak, thuộc tỉnh Dac Lak, vào đúng hôm (“quốc khánh”) 2 tháng 9 vừa rồi. Tuy nhiên, khi được hỏi về biến cố này, ông Nguyễn Văn Lang – Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Dac Lak – đã lắc đầu quầy quậy:” Làm gì có biểu tình, bất ổn hay bắt bớ những người dân thiểu số trong thời gian gần đây (There have been no demonstration, unrest or arrest of any ethnic minorities in recent days. No, absolute, not … (Demonstrators Arrested In Vietnam’s Central Highlands – http://www.thongluan.org/EN2/ english_frame_0601.htm)

Trời, tưởng ai chớ ông Lang thì tôi biết. Tôi đã có lần nhìn thấy hình của ổng in tên tờ Việt Mercury (trang 44, số phát hành ngày 23 tháng 3 năm 2001) khi ông ấy đang trả lời phỏng vấn của những phóng viên ngoại quốc, về những biến loạn xẩy ra ở Dac Lak – hồi tháng 2 năm 2001. Bữa đó ông Lang cũng nhún vai, bầy tỏ một thái độ thản nhiên tương tự :” Ðấy chả qua chỉ là những vụ cãi vã giản dị về văn khế đất đai tại hai ngôi làng mà thôi… Con số của người biểu tình đã tăng lên là do sự thổi phồng của những tay cực đoan phản cách mạng!”.

Cái được ông Nguyễn Văn Lang mô tả là “những vụ cãi vã giản dị … giữa hai ngôi làng” , theo như những nguồn tin đáng tin cậy khác, bao gồm “nhiều ngàn nông dân đã xử dụng vũ khí – phần lớn là cuốc xẻng và dao rựa – để đấu tranh chống lại sự thối nát của của Ðảng Cộng Sản và những chính sách của chính phủ về chuyện đất đai [Credible reports suggest that several thousand peasants took up arms – mostly shovels, hoes and machetes – to do battle over Communist Party corruption and government policies on land use, theo như tường thuật của Mark Mc Donald (từ Việt Nam) qua bài báo “Peasants Battling Hanoi Over Land In Central Highlands Fight Over Premier Coffee-Growing Region Taking On Political And Religious Overtones” ( San Jose Mercury News, 26 Feb. 2001:A10)].

Ðến nay thì ai cũng biết là Hà Nội phải huy động cả lực lượng công an cũng như bộ đội và đã xử dụng đến trực thăng để uy hiếp và truy lùng những kẻ đã tham dự vào ” những vụ cãi vã giản dị ” này. Hàng trăm người Thượng đã bị bắt giữ, hàng ngàn người khác đã bị truy nã. Họ đã chạy sang Cao Miên xin tị nạn.

Khi được hỏi về thái độ của chính phủ Việt Nam đối với những người này, một người dân miền xuôi khác, bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao, đã nói với phóng viên David Brunnstrom của hãng thông tấn Reuter (hôm 13 tháng 3 năm 2002) rằng phần lớn họ đều có “khát vọng nóng bỏng được hồi hương (‘the burning desire’ of most of them to come back)!

Bà ấy nói dối. Sự thực, khi được cho phép định cư ở một quốc gia đệ tam, không một ai trong số 905 người Thượng tị nạn tại Cao Miên đã thực hiện “cái khát vọng nóng bỏng được hồi hương” – như bà Thanh đã bịa đặt ra như vậyï. Tất cả đều đã xin tị nạn và đã được phép định cư ở Hoa Kỳ, từ tháng 6 vừa qua.

Ông Lang, cũng như bà Thanh, đều không phải là những người bình thường. Ngượng ngập hay liêm sỉ là những tình cảm (hoàn toàn và rõ ràng) không có nơi họ. Những kẻ như thế không khó tìm, nhất là trong hàng ngũ những đảng viên cộng sản, ở miền xuôi. Tuy nhiên, như đã thưa, tôi không quan tâm đến họ nên không hề lấy đó làm điều.

Ông Nông Ðức Mạnh cũng là một đảng viên cộng sản, và là Tổng Bí Thư của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Khi bị chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền và sự đối xử thô bạo của nhà đuơng cuộc Hà Nội đối với những người bất đồng chính kiến, ổng cũng nói tỉnh queo – cứ y như người Hà Nội vậy: ” … Ủa, làm gì có tù nhân chính trị ở Việt Nam kìa. Ðâu có ai bị bắt giữ vì điều họ phát biểu hay vì quan điểm. [(in Vietnam we have no political prisoners. No one is arrested or jailed for his or her speech or point of view. (Kay Johnson, ” TIME Talks Exclusively To Vietnam’s New Leader, Nong Duc Manh,” Time Asia 23 Jan. 2002)].

Tương tự như ông Nguyễn Văn Lang và bà Phan Thế Thanh, ông Nông Ðức Mạnh cũng đã dối trá một cách rất thản nhiên và vô cùng trắng trợn. Và chuyện này thì (thiệt tình) đã làm tôi buồn rầu quá đỗi! Tôi cảm thấy bị tổn thương, bị xúc phạm nặng nề vì ( cũng như tôi) ông Mạnh là một người miền núi. Yàng ơi, sao rừng núi lại có thể cưu mang và “đẻ” ra một kẻ sa đoạ đến như thế được – hả Trời? Một chuyện tai tiếng như thế – chắc chắn – chưa bao giờ xẩy ra, trước đó.

Ngay ở miền xuôi, kể cả những nguời vốn vẫn bị coi là thành phần bất hảo cũng không đến nỗi hèn hạ như ông Nông Ðức Mạnh. Ông ấy đã nói dối khi trả lời rằng không có tù nhân chính trị ở Việt Nam, và đã chối phắt rằng không có ai bị bắt giữ vì chính kiến hay quan điểm của họ. Những cô gái điếm, những đứa bé đánh dầy, những tay du thủ du thực ở Khánh Hội (Sài Gòn) – theo như tôi biết – cũng đều có cái nghĩa khí giang hồ tối thiểu. Không ai hễ cứ mở miệng ra là nói dối xoen xóet, hay chối bai bải hết điều này đến điều nọ – một cách thản nhiên – như ông Mạnh cả. Dối trá hay trí trá, theo quan điểm của văn hoá Việt Nam, là chuyện đáng khinh – bất kể ở miền xuôi hay miền ngược. Tôi xấu hổ vì ông Mạnh là người Việt, và tôi sẽ cảm thấy vô cùng nhục nhã nếu ông ấy … đích thực là một người miền núi.

Sở dĩ tôi nói như thế vì ông Nông Ðức Mạnh, rất có thể, không phải là một đứa con của núi rừng. Ông ta, không chừng, chỉ là một con chó ghẻ hay một thằng …chó đẻ nào đó mà thôi. Cũng trên tuần báo Time Asia – số vừa dẫn – khi được phóng viên Kay Johnson hỏi rằng Hồ Chí Minh có phải là cha ruột của mình hay không, ông Nông Ðức Mạnh đã nói rất mập mờ và láu cá như sau:” Nếu nguời ta nói rằng tôi giống Hồ Chí Minh thì cũng đâu có gì là lạ. Tôi nghĩ rằng rất nhiều người trông giống như nhau. (If people say that I bear resemblance to Ho Chi Minh, well I think there are many people who look alike).

Nếu đúng Nông Ðức Mạnh chỉ là con đẻ của một kẻ gian hùng, chứ không phải là đứa con của núi rừng thì thiệt đỡ cực (cũng như đỡ bực) cho tôi và đỡ tủi cho rừng núi Việt Nam biết mấy.

K’ Tien

26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Rừng Ơi Và Yàng Ơi


Khi lâm vào những tình huống lạ lùng, khó khăn, ngặt nghèo hay tuyệt vọng – con người hay chợt nhớ đến Ðất Trời, Thần Thánh. Người Việt kêu “Yàng ơi” (Thần ơi) hoặc “Ây Die” (Trời ơi) – nếu là dân miền núi, và “Ối Giời ơi”- nếu họ ở miền xuôi. Chỉ riêng anh Nguyễn Văn Trổi là có một thái độ (hơi) khác thường chút đỉnh.

Trước khi bị xử tử, anh Trổi không kêu Trời – cũng không gọi mẹ mà chỉ hô “Hồ Chí Minh muôn năm”. Và cứ theo (nguyên văn) như lời ông Tố Hữu thì “Phút giây thiêng, anh gọi Bác ba lần!”

Về chuyện hô hoán của anh Trổi, có người đã nhận xét thế này: “sau ba câu khẩu hiệu Hồ Chí Minh muôn năm, Tố Hữu đã hạ một câu thơ thật là thần tình: Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần. Và thế là ngay lập tức, mấy câu khẩu hiệu khô khốc trên kia đã không còn là khẩu hiệu nữa, nó đã thành tình cảm, xúc cảm, thành nỗi niềm thiêng liêng của cả một đời người ở cái giây phút hiểm nghèo nhất. Và người đọc bỗng ứa nước mắt. Ðấy là tài nghệ của một bút pháp lớn. Bút pháp bậc thầy“. [Trần Ðăng Khoa, Chân Dung Và Ðối Thoại (Hà Nội: Thanh Niên,1988),10].

Không những chỉ đọc, tôi còn viết lại câu thơ vừa dẫn. Sau đó, tôi ngồi (rồi nằm) lắng nghe lòng mình -lâu thật là lâu – nhưng sao tuyệt nhiên không thấy có chút “tình cảm” hay “xúc cảm” và “nỗi niềm thiêng liêng” gì (trào dâng) hết trơn hết trọi. Nước mắt cũng không “bỗng ứa ra” – như nhà thơ Trần Ðăng Khoa mong đợi. Thi sĩ với thường dân khác nhau thế đấy.

Những “khẩu hiệu khô khốc” này chỉ khiến tôi đâm thắc mắc là tại sao (“phút giây thiêng”) anh Nguyễn Văn Trổi không gọi hai lần, năm lần, hoặc một trăm lần mà lại “gọi Bác ba lần” – như vậy? Nỗi băn khoăn của tôi, tất nhiên, không có người giải đáp. Anh Nguyễn Văn Trổi đã chết. Tố Hữu thì chưa nhưng ông ấy không phải là một người khả tín.

Tương tự như anh Nguyễn Văn Trổi, ông Tố Hữu cũng thích “mần” cách mạng. Khác với anh Trổi, ông Tố Hữu chỉ chuyên làm thơ ở trong nhà – chứ không làm đặc công, mang mìn đi gài chỗ này chỗ nọ.

Sau khi bị bắt quả tang đang loay hoay đặt chất nổ dưới chân cầu Công Lý, người ta mang anh Trổi ra xử bắn tại pháp trường – Sài Gòn. Ông Tố Hữu (tất nhiên) không có mặt nơi đó. Lảng vảng xa gần, xớ rớ đâu đó, cũng không. Ông ấy ở tuốt ngoài Hà Nội lận. Việc anh Trổi gọi tên bác ba lần hay sáu lần… hoàn toàn là chuyện bịa!

Mà cái gì chứ bịa chuyện thì đúng là sở trường của ông Tố Hữu, như chính ông ta đã (hãnh diện) thừa nhận điều này. Khi được hỏi về hoàn cảnh sáng tác của một bài thơ khác, viết về Ðiện Biên Phủ, Tố Hữu “nheo nheo một bên mắt, vẻ trẻ trung, tinh nghịch” và nói:

  • Này, xem ra không thể tin cánh văn nghệ được đâu hỉ. Phịa, toàn là phịa. Chỉ có điều là mình phịa như thật, nên người ta cũng tha cho.

Rồi Tố Hữu lại cười. Nụ cười thật hiền hậu. Trông ông lúc này có dáng vẻ của một ông Phật…

  • Thế từ lúc mở màn cho đến khi kết thúc chiến dịch, anh có lên Ðiện Biên Phủ bao giờ không ?
  • Không! Nào mình có biết Ðiện Biên ở đâu mà đi (sđd, trang16 & 17).

Nếu Trần Ðăng Khoa không phải là một người phịa chuyện thì Tố Hữu (rõ ràng) là một người vô tư, vui tính, “thật hiền hậu” và “có dáng vẻ của một ông Phật.” (Mô Phật!)

Ðó là mới nói về phần nhân cách và ngoại hình. Thi tài mới là điều cần nói khi viết về một thi sĩ, và Trần Ðăng Khoa đã nói đến tài năng của Tố Hữu (một cách rất ví von) như sau: “Nếu mỗi nhà văn là một người thư ký của thời đại, theo quan niệm Banlzac, thì Tố Hữu chính là người thư ký của cách mạng. Thơ của ông là biên niên sử của cách mạng Việt Nam” (sđd, trang 10).

Tôi nghĩ đến Ðức Phật cùng với một tiếng thở dài (cố nén) và sao thấy ái ngại (hết sức) cho – cái được gọi là – “biên niên sử của cách mạng Việt Nam”. Tưởng gì chớ làm thư ký thì đâu cần phải có “bút pháp bậc thầy”, và cũng không cần ” lớn”. Trung bình cũng được. Nhỏ cũng không sao. Chỉ cần trung thực là đủ. Mà trung thực hay khả tín, như đã thưa, là điều hoàn toàn trái ngược với bản tính của ông Tố Hữu (nói riêng) và những người chuyên hành nghề cách mạng (nói chung).

Và đó cũng là lý do tại sao ông Tố Hữu bị nhiều người coi thường hay chê trách. Khách quan mà nói, tôi e rằng dư luận có phần khắt khe với ông ta. Sở dĩ Tố Hữu cứ bịa hết chuyện này đến chuyện nọ chỉ vì bộ mặt thật của “cách mạng Việt Nam” rất khó coi, cần phải che dấu – thế thôi. Ðó là một thứ face cachée, nếu nói theo tiếng Tây- và nói theo kiểu của nhà văn Bùi Tín.

Ngay cả sau khi “cách mạng” đã thành công, cướp được chính quyền, những người cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục giữ thái độ dối trá và trí trá. Những kẻ kế nhiệm ông Tố Hữu sau này, để làm “loa” cho nhà nước, cũng không bao giờ thốt lên được một lời nào thành thật.

Trong một bức thư ngỏ, viết từ Hà Nội, được phổ biến rất rộng rãi vào những ngày gần đây, có đoạn đáng chú ý như sau:” Hai ngày sau Ðại Hội Ðảng IX, tức là ngày 24 tháng 4 năm 2001, tôi đã bị bắt vào tù rồi! Vậy mà khi dư luận trong nước dấy lên sự phản đối việc bắt giữ tôi và các tổ chức nhân quyền thế giới chất vấn chính phủ ta về việc bắt giữ cựu chiến binh Vũ Cao Quận thì bà Phan Thúy Thanh – người phát ngôn của bộ ngoại giao chối bai bải là không hề có việc bắt tôi, chuyện bắt tôi bỏ tù là chuyện bịa đặt vu khống của kẻ xấu” (Vũ Cao Quận, “Thư Ngỏ Gửi Ông Phan Khắc Hải, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa – Thông Tin.” Người Việt ,14 Mar., 2002).

Tôi tận tình chia sẻ sự bất nhẫn của ông Vũ Cao Quận nhưng không đồng tình với những lời lẽ nặng nề mà ông ấy dùng để mô tả việc làm sai trái của bà Phan Thúy Thanh. “Chối bai bải” không phải là phương cách ứng xử thích hợp cho bất cứ loại người nào. Ðó chỉ là thái độ của một con “vẹm” cái.

Cũng như ông Tố Hữu, bà Phan Thúy Thanh bắt buộc luôn luôn phải dối trá hay trí trá. Lý do: cái chế độ mà bà ta lựa chọn để phục vụ được cấu thành và dựng xây trên sự gian xảo mà. Làm sao bà ấy có thể cư xử đàng hoàng và lương thiện được?

Tôi chỉ hơi lấy làm buồn khi nghe bà Thanh tuyên bố rằng phần lớn những người Việt thuộc sắc tộc thiểu số đang tị nạn tại Cao Miên có “ước vọng nóng bỏng” được hồi hương (Vietnam’s Foreign Ministry spokeswoman Phan Thuy Thanh said it was “regrettable” UNHCR had so far returned only 15 minority people from Cambodia under a tripartite agreement reached in January, despite ‘the burning desire’ of most of them to come back), theo như tường thuật của ký giả David Brunnstrom – qua bản tin của hãng Reuter, gửi đi từ Hà Nội vào ngày 13 tháng 3 năm 2002 .

Bà Thanh không phải là phát ngôn viên của những người tị nạn. Lẽ ra, bà ấy không nên lanh chanh như thế. Tương tự, bà Thanh cũng không có thẩm quyền hay tư cách gì để khẳng định rằng “những người Việt nam đang sống trong những trại tạm cư ở Cam-pu-chia không phải là người tị nạn. Họ là những người do bị kích động, lừa gạt đã vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia” (Nhân Dân, 7 Mar., 2002).

Ủa, bộ thiệt vậy sao? Nói vậy không lẽ hồi giờ “đã” có người vượt biên “đúng phép” ra khỏi Việt Nam sao? Bà Phan Thúy Thanh “dám” quên rằng cách đây chưa lâu, có vài triệu người dân Việt cũng vượt biên “trái phép” như thế đến những quốc gia lân cận – trong số đó có Cao Miên sao? Những kẻ này – theo như lời của nhà đương cuộc Hà Nội, vào thời điểm đó – cũng bị “kích động, lừa gạt” để chạy theo “bơ thừa sữa cặn”, “theo chân đế quốc” và “bọn phản động” vậy.

Rồi, chả hiểu tại sao, khi khổng khi không, hàng triệu người “vượt biên trái phép” này (bỗng) trở thành “khúc ruột xa ngàn dặm”, và “một bộ phận không thể tách rời của dân tộc” (“Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh Chúc Tết Bà Con Việt Kiều,” Nhân Dân, 2 May 2002).

Cùng số báo dẫn thượng, trong bài tường thuật về “buổi lễ” đón tiếp Việt Kiều thăm quê hương ăn Tết Nhâm Ngọ, tôi điểm danh thấy dân làng Ba Ðình (từ trên trở xuống) không thiếu mặt bất cứ một ai – ngoài Võ Nguyên Giáp. Ông đại tướng vắng mặt không phải vì liêm sỉ hay tự ái mà chỉ vì đang bịnh quá, đi hết nổi – vậy thôi.

Trí nhớ của đám người cộng sản Việt Nam về chuyện tị nạn, rõ ràng, hơi … ngắn. Và trí nhớ tập thể của khối người Việt tị nạn ở hải ngoại, xem ra, cũng không lấy chi làm dài. Họ quên rằng cách đây chưa lâu chính mình cũng vượt biên “trái phép”, cũng sống lây lất ở những trại tị nạn này hay trại tị nạn khác, cũng ăn cơm của Cao Ủy Tị Nạn, cũng bị cảnh sát (Thái Lan – Nam Dương hay Mã Lai) đánh đập. Do đó, chuyện cảnh sát Căm Bốt dùng roi điện trấn áp những người tị nạn khi họ phản đối chuyện bị giao trả về Việt Nam (Cambodia police recently assaulted asylum seekers with an electric baton at ne U.N. refugee camp when they spoke out against returning to Vietnam – theo như nguồn tin của Reuters, đánh đi từ Phnom Penh vào ngày 4 tháng 3 năm 2002) đã không khiến cho bất cứ ai nóng ruột hay nóng mặt. Chả thấy một cá nhân, tổ chức, hội đoàn, lực lượng, mặt trận… nào lên tiếng hết – cho dù chỉ là một tiếng thở dài.

Ngọn lửa Tây Nguyên bùng cháy, rồi âm ỉ từ hơn một năm qua,dường như, cũng không khiến ai quan tâm hay xao xuyến. Chúng ta sót xa vì từng tấc đất bị cắt cho lân bang nhưng dửng dưng trước chuyện đồng hương của mình bị đàn áp và ngược đãi. Tại sao vậy chứ? Không lẽ đồng bào “thượng” không phải là đồng bào … “thiệt” sao?

Mà dù có “thiệt” vậy chăng nữa thì cũng đừng quên rằng ngoài bờ biển ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những sắc tộc thiểu số – tự ngàn xưa. Cho dù hoạ cộng sản sẽ qua và sắp qua, quê hương sẽ được quang phục trong những ngày tháng tới, quan niệm (hẹp hòi) của người Kinh về chủng tộc cần phải được xét lại; nếu không, đất sẽ mất nữa và nước (rồi) cũng thế thôi.

K’ Tiên

26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hòa Bình Trong Ánh Mắt Tuổi Thơ


“Ngồi buồn gãi háng dái lăn tăn.”

Tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Trần Văn Hương, là một thi sĩ nghiệp dư và là một chính khách hơi tài tử. Ít ai lưu tâm đến chuyện thơ thẩn của ông ta. Không mấy người biết ông Hương còn có tên gọi là Ông Già Gân vì trong suốt thời gian giữ chức Ðô Trưởng Sài Gòn, ông ta hay đi làm bằng…xe đạp! Cũng chả lắm người nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền như Thủ Tướng, Phó Tổng Thống và Tổng Thống của miền Nam – Việt Nam.

Ở miền Bắc nuớc này, phần lớn, quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng đều sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ viết văn hoặc làm thơ cũng gây phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người.

Khi ngồi buồn họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi họ cũng không chịu chỉ làm thơ chơi chơi cho vui. Thơ của họ khiến không ít kẻ phải bận lòng, và khối người vất vả. Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là người cư an tư nguy .Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu thường dân miền Nam, là ổng lè phèø chết mẹ!

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu thắng và hiếu chiến… không phải là quan niệm sống lập dị của riêng cá nhân ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là lệnh của “trên” đưa xuống và bắt buộc nửa nước phải triệt để tuân hành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là quan niệm sống chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng xuông như Phó Tổng Thống và Tổng Thống Trần Văn Hương. Thường, họ vừa gãi háng vừa nhậu chơi lai rai vài xị cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở thành phố. Ði Hồng Kông hay Nhựt Bổn mua đồ lót và son phấn , nếu là bà lớn. Ði buôn lậu (không chừng), nếu là ông lớn. Và chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của một giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một giai cấp người khác nữa- đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ…nếu phát động ở miền Nam ( e) sẽ thiếu người tham dự và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chế diễu là những kẻ mất bình thường.

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm một chữ cũng thừa. Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp năm hay gấp muời lần gì đó, và toàn dân sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Thích ăn bánh vẽ không phải là phong tục của người Việt. Tin tưởng vào những lời hứa hẹn của lãnh tụ cũng không phải là tập quán của dân tộc này, dù họ miền nào cũng thế – kể cả miền ngược; tuy vậy, mọi người vẫn thở phào nhẹ nhõm khi đất nuớc ngưng tiếng súng.

Dân chúng miền Bắc ngỡ rằng sau chiến tranh họ sẽ thôi còn phải làm việc gấp hai. Chuyện dùng sức nguời biến sỏi đá thành cơm chấm hết. Hạt gạo công khó làm ra cũng khỏi mất công phải cắn làm tư hay làm tám để chi viện cho chiến trường này hay chiến trường nọ…, và chi viện cho miền Nam (thân yêu) nữa. Dân miền Nam (những kẻ thuộc phe chiến bại) tuy đón chào hòa bình thống nhất với tất cả sự dè dặt cần thiết, và dù ngỡ rằng “lè phè”ø là hai chữ không có trong tự điển của “cách mạng”, vẫn thấy an ủi và đặt tin tưởng không ít vào viễn tượng được sống trong cảnh an bình.

Một phần tư thế kỷ sau, sau khi hoà bình được tái lập trên nước Việt, nhật báo Nhân Dân số ra ngày 30 tháng 8 năm 99 có đi tin về “Cuộc Thi Vẽ Hoà Bình Trong Mắt Tuổi Thơ”- đuợc tổ chức sáng 29 tháng 8, tại Cung Thiếu Nhi, Hà Nội. Báo Nhân Dân mô tả những bức tranh dự thi như là “thông điệp gửi tới toàn thể nhân loại trên thế giới huớng về một tương lai sáng, một thế giới hoà bình và hạnh phúc.”

Ở thời điểm này, nếu một cuộc thi tương tự được tổ chức tại Ðông Timor thì đương nhiên là hợp lẽ. Những đứa bé thơ bất hạnh nơi đây quả là đang cần có cơ hội để gửi tới nhân loại niềm khát khao của chúng về một quốc gia độc lập và một thế giới “hòa bình và hạnh phúc”. Còn trẻ con Việt Nam hiện tại, những đưa bé sinh ra và lớn lên trong một quốc gia độc lập – tự do- hạnh phúc , bộ “cũng có vấn đề” sao ? Không lẽ tụi nhỏ sống không được an bình?

Cũng theo báo Nhân Dân, ban tổ chức đã trao 10 giải A – 10 giải B và 20 giải C cho các em có tranh đoạt giải. Ðiều đáng tiếc là không có bức tranh nào được in lên báo để độc giả biết xem “thông điệp” và “hoà bình trong ánh mắt tuổi thơ” của VN ra sao.

Tranh các em vẽ không được phổ biến trên báo Nhân Dân, nhưng đời sống của chúng thế nào thì mọi nguời đều có thể biết được qua tờ báo này. Trưóc đó ba tuần, ngày 7 tháng 8 năm 99, báo Nhân Dân đăng tin “Khen Thuởng Hai Em Nhỏ Mười Năm Cõng Bạn Ðến Trường.”

Em Huỳnh Duy Tài vì bị phế tật nên phải nhờ hai bạn là Bùi Ngọc Nha và Nguyễn Qúi cõng đi học liên tiếp trong vòng muời năm qua. Do đó, bài báo viết tiếp: “tại Ðại Hội Cháu Ngoan Bác Hồ, huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam (ngày 29 tháng 7 năm 99) các em đã nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt nhất.”

Thay vì những tràng pháo tay nồng nhiệt, nếu em Huỳnh Duy Tài nhận được một đôi nạng tốt hay một cái xe lăn thì thiệt là đỡ khổ biết bao nhiêu! Sau đại hội, Bùi Ngọc Nha và Nguyễn Qúi lại cõng Tài về nhà; để sáng hôm sau tiếp tục… cõng bạn đến trường, như chuyện vẫn xẩy ra hàng ngày, từ mười năm nay.

Cùng số bào này, cũng trong phần tin tức, nguời ta cũng đọc được bản tin nữa có liên quan đến trẻ thơ: “Các Truờng Học Không Ðược Xẩy Ra Nạn Lạm Thu”. Giám đốc Sở Giáo Dục Và Ðào Tạo Thành Phố HCM, ông Trương Song Ðức, cho biết kể từ năm học 1999 –2000 việc quản lý thu chi phải đúng qui định. Nói cách khác là vào những niên học trước, lạm thu học phí là điều vô cùng phổ biến và là chuyện đương nhiên – như “chuyện vẫn xẩy ra hàng ngày ở huyện.”

Mức thu theo đúng qui định là bao nhiêu ? Theo báo Nhân Dân, cùng số, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội cho phép các cơ sở giáo dục thu học phí như sau: mẫu giáo 75.000 đồng/tháng, trung học chuyên nghiệp 100.000 đồng/ tháng, trung học dậy nghề 120.000 đồng/tháng, đại học 150.000 đồng/tháng…

Như vậy, nếu có bốn đứa con đến trường từ mẫu giáo đến đại học thì học phí mỗi tháng sẽ là 400.000 đồng. Tính theo Mỹ Kim bản vị thì đâu chỉ chừng 30 đô la. Ít xịt và rẻ rề hà, cũng rẻ tương đương với tiền luơng trung bình hàng tháng của một nguời dân Việt. Ðã thế, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội “cũng cho phép ngành Giáo Dục Ðào Tạo được thu tiền đóng góp xây dựng truờng nhưng không quá 40.000 đồng/ năm , và thu hổ trợ tiẻâu học 10.000 đồng tháng…”

Bản tin vừa dẫn còn có câu kết luận nguyên văn như sau: “Ngoài các khoản thu trên nhà trường không được thu thêm bất cứ một khoản tiền nào khác, đồng thời phải hạn chế và công khai các mức thu của hội cha mẹ học sinh.” Câu văn trên có hai mệnh đề. Mệnh đề trước cho biết “nhà truờng không được thu thêm bất cứ một khoản tiền nào khác”; mệnh đề thứ hai thì tiết lộ một về khoản phụ thu khác mà mệnh đề thứ nhất quên nhắc tới – đó là tiền đóng góp vào “Hội Cha Mẹ Học Sinh.” Riêng số tiền này thì phải “hạn chế” và “công khai”.

Chừng đó học phí, lệ phí, hổ trợ phí, nguyệt liễm hay niên liễm…vẫn chưa bảo đảm có chỗ học hành cho lũ trẻ con; do đó, theo báo Nhân Dân số ra ngày 6 tháng 6 năm 99, bà Mon Thêm – một người Việt gốc Miên, ở ấp Hòa Ðông, xã Hoà Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh – đã “hiến” 4.320 mét vuông đất để xây cất trường học. Ba tuần sau, báo Nhân Dân số ra ngày 30 tháng 6 năm 99 lại cho biết thêm là ông Lâm Văn Liêm – ngụ tại ấp Láng Khiết, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh – đã “tự nguyện hiến” thêm 1.400 mét vuông nữa, cũng để xây trường. Lẽ ra bà Mon Thêm và ông Liêm nên tình nguyện hiến luôn cả máu. Thầy giáo và cô giáo của xấp nhỏ cần thứ này để khỏi bị xỉu bất tử, vì đói, trong lúc giảng bài.

Có lẽ tại dân Việt chưa tận lực nên tình trạng giáo dục của xứ sở này vẫn khiến cho người ngoại quốc không được bình tâm; do đó, cũng theo báo Nhân Dân, số ra ngày 23 tháng 4 năm 99, “chính phủ Nhật Bản thông qua lãnh sự tại TP Hồ Chí Minh vừa làm lễ khởi công xây dựng trường Bình Phước tại huyện Cần Giờ với số vốn viện trợ là 84 nghìn Mỹ Kim”.

Thiệt là đã đời luôn!

Tôi viết những giòng chữ này vào ngày 3 tháng 9 năm 99. Cách đây đúng 54 năm, nhân dịp mùa khai trường, cũng vào ngày này tháng này năm 1945, ông Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn gửi cho học sinh cả nước. Trong dịp này ông hùng hồn tuyên bố: “Từ giờ phút này trở đi các em nhận được một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập.”

Hồi đó tôi chưa ra đời. Thế hệ của chúng tôi không vướng mắc hay mặc cảm gì nhiều về chuyện bị trị hay nô lệ. Bởi vậy, theo tôi (và mấy thằng bạn nhậu), điều duy nhất cần thanh thoả với chủ nghĩa thực dân nên được giải quyết giản dị thế này.

Khi có dịp chúng tôi sẽ xin quốc dân được dựng tượng của 13 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng, những nguời đã bị tử hình năm 1930 sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, trong một công viên nào đó ở Hà Nội. Ðối diện với họ là 13 pho tượng khác của tất cả những nhân vật, cùng thời, thuộc chính phủ và nội các Pháp. Những bức tượng sau sẽ chỉ được phá bỏ nếu người Pháp trả lời xong câu hỏi giản dị này: “Qúi vị lấy lý do gì để xử tử những đảng viên Việt Quốc ?”

Ðòi hỏi độc lập tự do cho quê hương, theo văn minh và văn hoá của qúi vị, là một cái tội phải bị chém đầu hay sao ? Bằng vào cái thứ văn hoá man rợ đó mà qúi vị dám mang “nền văn minh của nước Ðại Pháp” đi áp đặt lên những dân tộc khác à?

Và ngay cả khi nước nhà còn bị thống trị bởi những kẻ khác maú tanh lòng đó, tôi tin chắc rằng, người Pháp vẫn chưa đến nỗi nhẫn tâm để mặc một đứa trẻ phế tật cho bạn cõng đến trường – mười năm liên tiếp. Trong ánh mắt tuổi thơ, thời nô lệ, cũng không có hình ảnh của những cô giáo trơ trẽn đứng bán hàng rong trong lớp học hay những thầy giáo bần tiện so đo về phần thực phẩm của mình – giữa sân trường.

Lũ bé con sẽ vô cùng xúc động, nếu biết rằng cha anh – thuộc ba thế hệ liên tiếp – đã phải hy sinh xương máu để dành cho chúng một nền giáo dục độc lập. Chúng sẽ xúc động hơn nữa- trong tương lai gần – khi đủ lớn khôn để nhận ra rằng mình đang sống trong một quốc gia không những chỉ có độc lập mà còn có hoà bình, tự do, và hạnh phúc -loại…giả!

Tưởng Năng Tiến
3-10-2003

(Nhân Ngày Khai Trường)

26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một Chút Tình Riêng Về Miền Sơn Cước


Chẳng hiểu em nói cái gì
nhìn môi một cụm xuân thì cũng thương
em xinh như đóa hướng dương
mọc hoang theo lối về buôn bản nghèo
“H ‘ Na Cô Gái Tây Nguyên”



Tác giả những câu thơ vừa dẫn, thi sĩ Phan Ni Tấn, là một người vô cùng may mắn. Vô số kẻ đã đến miền sơn cước nhưng có lẽ chỉ riêng mình ông ta có chuyện tình duyên với một cô gái tây nguyên,”xinh như một đóa hướng dương”, dù rằng hai bên hoàn toàn bất đồng ngôn ngữ.

Tôi biết một nhân vật khác, cũng đến miền cao nguyên, và đến rất sớm nhưng không có cái may mắn tương tự. Ðó là nhạc sĩ Văn Trí, người viết bản Hoài Thu – vào năm 1951. Ðà Lạt (ở thời điểm này, theo như lời đương sự mô tả) chỉ là một nơi “núi rừng thâm xuyên”, với những “bầy nai ngơ ngác”, “lá vàng rơi đầy miên man…” – rồi chấm hết! Tuyệt nhiên, không hề thấy bóng dáng bất cứ cô sơn nữ nào – kể cả những cô mà nhan sắc chỉ ở mức trung bình (hoặc dưới trung bình, chút đỉnh)!

Tôi sinh ra đời sau tác phẩm Hoài Thu, và dưới một ngôi sao (vô cùng) xấu. Dù đã sống hết một phần đời của mình ở miền cao, tôi chưa bao giờ được hân hạnh cầm tay (chứ đừng nói chi đến chuyện tương tư) chị em cô gái H’ Na – như nhà thơ Phan Ni Tấn. Tôi cũng không được cái vinh dự nhìn thấy nét hoang dại, trinh nguyên của một vùng đất mới – như nhạc sĩ Văn Trí. Sự hoang dã của cao nguyên Lâm Viên, với những kẻ sinh sau đẻ muộn như tôi, chỉ còn là dư âm – qua những câu chuyện kể, từ những người đến trước.

Tôi thích nhất là những chuyện về thú rừng, đại khái như: “ngày xưa”, ở Ðà Lạt, nhiều hôm học sinh đương lơn tơn đến trường thì “bỗng” thấy một “ông cọp” đang ngồi phơi nắng. Thế là cả lũ vội vàng nín thở, quay lưng, nhè nhẹ quay … về. Khỏe!

Sự gần gũi (giữa cọp và người) như thế – tiếc thay – không kéo dài luôn, và cũng không kéo dài lâu. Trong những ngày thơ ấu, mỗi sáng đi học, tôi đều cầu nguyện và van xin (Phật, Chúa,Thánh, Thần…các thứ) để được nhìn thấy vài con cọp bự – đang ngồi phơi nắng, giữa đường. Dù tôi rất chí tình, sự khẩn cầu này chưa bao giờ ứng nghiệm. Lòng tin của tôi vào các đấng thiêng liêng giảm sút không ngừng, kể từ thưở ấy.

Khi tôi được “bế” lên Ðà Lạt, vào khoảng giữa thập niên 1950, thành phố này đã bị đô thị hóa.Voi, cọp, heo rừng, beo, gấu, khỉ, vượn, nhím, mển, gà rừng, công, trĩ, hươu, nai, trăn, rắn, sóc, chồn … không còn chung sống với người. Người Thượng (nói chung) và những cô sơn nữ (nói riêng) cũng không mấy khi xuất hiện trên đường phố. Họ ở cách xa, nơi miền sơn cước.

Văn hóa miền núi, tất nhiên, có nhiều nét dị biệt với miền xuôi; do đó, khi giao tiếp, đôi lúc, giữa người Thượng và người Kinh đã có những hiểu lầm – vô cùng đáng tiếc!

Tôi đã chứng kiến cảnh một chàng thanh niên từ miền sơn cước xuống đồng bằng, và bị “tiếng sét ái tình” với một cô gái nơi thành thị. Chàng đứng ngẩn ngơ, chân không thể bước. Trước tình huống đó, có người buột miệng nói đùa:

– Người Kinh không có “bắt chồng” như người Thượng đâu. Muốn “bắt vợ” thì tuần trăng sau phải mang hai con trâu tới đây mới được.

Chàng trai miền núi mừng rỡ gật đầu, hăm hở quay về. Không hiểu phải qua bao nhiêu đường đất, và gặp bao nhiêu khó khăn ở thôn bản của mình nhưng đúng hẹn chàng trở lại. Nhác trông thấy người – dắt theo hai con trâu, như giao ước – cô gái vội vàng bỏ trốn! Chờ hoài không thấy cố nhân, chàng thẫn thờ mãi rồi lặng lẽ dắt trâu đi.

Một chuyện tình buồn thảm thiết như vậy mà khi kể xong vẫn có người cười. Nói thiệt, sao tôi cười … không nổi! Cách đùa cợt đó, ngay từ lúc ấu thơ, tôi đã cảm thấy có cái gì rất là không ổn. Sau này, cũng đã có lần tôi xuýt khóc khi tình cờ đọc một câu thơ trào phúng như sau :

Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe!

Tú Xương sinh năm 1870 và mất năm 1907. Bài thơ “Năm Mới” có thể được viết từ cuối thế kỷ mười chín. Vào thời điểm này, khi mà mọi phương tiện truyền thông và giao thông đều vô cùng giới hạn nên cách nhìn lệch lạc của thi sĩ về một người đồng bào miền núi – tôi cố nghĩ – có thể thông cảm được.

Sang thế kỷ hai mươi mốt, tôi lại đọc được một “chuyện cười” khác nữa – có liên quan đến những người dân sơn cước:

“Khoảng năm 1977, một họa sĩ miền Nam là Ðỗ Toàn, tên thật là Ðoàn Văn Toàn, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Huế, giáo sư hội họa trường Phan Châu Trinh Ðà Nẵng trước năm 1975, trong chuyến viếng thăm Hà Hội, đã ghé thăm Văn Cao. Theo Ðỗ Toàn, nhà Văn Cao trống trơn, xơ xác, ở giữa treo một người thượng du cỡi một con ngựa chiến rất đẹp. Nhiều người Việt thường có định kiến bất công là tỏ ra xem khinh người miền núi, gọi họ là dân thiểu số hay dân “mọi”. Rất thắc mắc về một người “mọi” cỡi trên lưng một con ngựa cao lớn oai phong, nên trong lần gặp gỡ thứ nhì, trong dịp ra Hà Nội đó, Ðỗ Toàn mới hỏi Văn Cao ý nghĩa thực sự của bức tranh là gì ? Văn Cao vừa cười vừa giải thích:”Thì cái nước Việt Nam mình hiện nay vậy đó. Một đất nước giàu có với một dân tộc anh hùng đang bị mấy thằng ‘mọi’ đè đầu đè cổ.” Hiểu được thâm ý của Văn Cao, Ðỗ Toàn đáp lại:”Anh vẽ thế không sợ…”Mới ngang đây, Văn Cao ngắt lời: “Tôi chỉ nghĩ trong đầu thôi chứ có phổ biến thành bài viết giấy tờ gì đâu mà sợ?”. Ðỗ Toàn sửa lại: “Không, ý tôi muốn nói là anh không sợ người ‘mọi’ họ kiện anh hay sao khi so sánh họ với đám lãnh đạo?” ( Trần Gia Phụng, “Di Ngôn Của Một Nghệ Sĩ Ða Dạng,” Thế Kỷ 21, số tháng 11 năm 2000, trang 91).

Cũng theo lời chú thích của giáo sư Trần Gia Phụng, câu chuyện vừa dẫn được viết lại theo lời kể của họa sĩ Ðỗ Toàn. Cả Văn Cao và Ðỗ Toàn đều không còn nữa. Tôi không dám làm phiền đến sự an nghỉ của những người đã khuất, cũng không hề có ý nghi ngại sự khả tín và khả xác về tư liệu được cung cấp bởi giáo sư Trần Gia Phụng – một người viết sử cẩn thận và chu đáo. Tôi chỉ thầm mong đây là một thứ giai thoại, tương tự bao nhiêu giai thoại khác, chung quanh một nghệ sĩ đa tài – như Văn Cao, thế thôi.

Tự thâm tâm tôi không tin rằng tác giả của Suối Mơ, Bến Xuân, Mùa Xuân Ðầu Tiên … là người có nét ranh mãnh – như đã được mô tả qua mẫu đối thoại của câu chuyện vừa rồi: “Thì cái nước Việt Nam mình hiện tại là vậy đó. Một đất nước giầu có với một dân tộc anh hùng đang bị mấy thằng ‘mọi’ đè đầu đè cổ” . Ðó không phải là ngôn ngữ của Văn Cao – theo như tôi biết về ông, với ít nhiều chủ quan, qua tác phẩm.

Mang so sánh một nhóm người cần cù, hiền hòa, chất phác, lương thiện như những người dân sơn cước ở Việt Nam với những kẻ đã mất hết lòng nhân (hiện đang nắm giữ quyền thống trị nơi đó) – dù chỉ với mục đích giễu cợt – là một sự xúc phạm và miệt thị nặng nề”. Ðịnh kiến bất công tỏ ra xem khinh người miền núi” như thế – theo như nhận xét , đã dẫn, của giáo sư Trần Gia Phụng – không chỉ giới hạn trong vấn đề danh xưng, và người Thượng cũng không phải là nhóm người thiểu số duy nhất bị “xem khinh” bởi người Kinh.

Hiện tại ở Việt Nam có đến hai triệu người gốc Hoa, năm trăm ngàn người Việt gốc Miên, năm chục ngàn người Chàm, và năm mươi nhóm người dân miền núi khác nhau à .Tổng cộng họ chiếm chín phần trăm dân số, theo như ghi nhận (rất khái quát) của Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2000. Những sắc dân miền núi bao gồm người Lô Lô, Mèo, Mán, Mường, Nhắng, Nùng, Thổ, Thái – ở thượng du Bắc Việt; và Vân Kiều, Kha Tu, Hré, Sédang, Bahnar, Djarai, Roglai, Rhadé, Koho, Mnong, Stiêng – ở cao nguyên Trung Việt [Cửu-Long- Giang Toan Ánh, Người Việt Ðất Việt , 1967 (DaiNamCo in lại tại Hoa Kỳ, và đã bỏ tên nhà xuất bản), 42 – 55] .

Ngoại trừ người Việt gốc Hoa, tất cả những nhóm dân còn lại đã có mặt ở Việt Nam tự ngàn xưa. Họ đều góp phần máu xương, công sức và chia sẻ tận tình mọi thăng trầm với vận mệnh của xứ sở này. Tuy vậy, họ đã không được người Việt – nhóm người chiếm chín tỉ lệ đa số – kính trọng và đối đãi một cách bình đẳng.

Ngay cả với người Hoa – nhóm người mới nhất, bị nhiều thành kiến và tai tiếng nhất (vì thái độ bị coi là “ký sinh” của họ trong lãnh vực kinh tế) – chưa chắn phần lớn người Việt đã có sự hiểu biết đúng đắn và rõ ràng về họ. Xin đơn cử một thí dụ, về cộng đồng người Hoa ở Quảng Nam: “Nhóm người thứ ba đến Quảng Nam là con cháu của những người Trung Hoa buôn bán bằng đường biển, đến Quảng Nam lập nghiệp và nhất là những thần dân nhà Minh vượt biên, bỏ nước ra đi vì người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh năm 1644, lập vương triều Mãn Thanh. Nhóm người Trung Hoa can đảm không kém những lưu dân Việt. Họ là những tinh hoa ái quốc Trung Hoa thuộc tầng lớp sĩ phu hay kinh doanh giàu có, rất nhiều kinh nghiệm tổ chức và làm ăn. Họ đến Quảng Nam và chọn nơi này làm quê hương với tinh thần xây dựng quê hương mới, chứ không phải là người khách trú buôn bán kiếm lời rồi bỏ đi. Họ đã đóng góp không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng. Lúc đầu họ tập họp thành những làng Minh Hương, rồi dần về sau hoàn toàn hòa nhập vào xã hội Việt Nam.” [Trần Gia Phụng, Quảng Nam Trong Lịch Sử (Toronto:Non Nước, 2000), 68].

Tôi tin rằng một nhóm người “Ba Tầu” khác, theo chân họ Mạc đến Hà Tiên, vào cùng thời điểm trên, cũng có đầy đủ những đức tính đáng quí và “đã đóng góp không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam” – không khác gì những người Minh Hương ở Quảng Nam.

Rồi trong cơn quốc biến, tai họa đã là “cơ hội đồng đều” cho mọi người dân sống ở Việt Nam – không phân biệt tuổi tác, phái tính, tôn giáo, hay sắc tộc… Người Việt gốc Hoa đã bị đối xử tàn tệ ra sao là chuyện mà cả thế giới đã có lúc phải chau mày. Giả sử họ chỉ là khách trú chăng nữa, người Việt vẫn có lỗi như thường khi đã để cho họ bị cướp bóc trắng trợn và xua đuổi ngay tại nhà mình.

“Mùa hè năm 1978, công an biên phòng của Việt cộng cho thiết lập những trạm dọc theo những tỉnh bờ biển miền Nam để đóng tầu và đẩy người Hoa ra biển, sau khi thu lệ phí cắt cổ bằng những cây vàng, trong đó cũng có nhiều người Việt giả dạng Hoa Kiều tìm cách vượt biên. Với tiến trình hai năm trời như thế, người ta ghi nhận ít nhất có 250, 000 người bị Cộng Sản Việt Nam tống ra biển, trong số này ít nhất có từ 30 đến 40,000 người chết mất xác ngoài biển khơi” [ Nayan Chanda, Brothers Enemy. Trans. Phạm Quốc Bảo – Huynh Ðệ Tương Tàn (California: Thế Giới, 1991), 195-196].

Dù vậy, nghĩ cho cùng, những người Việt gốc Hoa vẫn còn có thể được coi là… may mắn! Họ còn có phương tiện và có chỗ để đi. Những những sắc dân khác, phần lớn, không có cái may mắn tối thiểu như thế – nhất là những kẻ nơi miền sơn cước. Họ ở quá xa mặt biển, và quá nghèo để lo liệu được cho một chuyến đi – đắt giá. Và cho dù có cơ hội chăng nữa, chưa chắc những người miền núi đã lựa chọn chuyện từ bỏ quê hương – một cách dễ dàng – như những kẻ ở miền xuôi!

Trong số những người đã ra đi, mấy ai còn bận tâm đến số phận của kẻ còn ở lại – trên những bản làng heo hút – nơi chốn cũ? Nhiều lắm thiên hạ cũng chỉ “ráng” nhớ đến Huế, đến Sài Gòn, Hà Nội, Quảng Nam, Nha Trang hay Biên Hòa gì đó … là cùng.

Vì sinh trưởng ở cao nguyên nên dù “chưa” có tình ý gì với chị em cô gái H’ Na, đôi lúc, tôi cũng thoáng bâng khuâng khi chợt nhớ đến những cô gái Tây Nguyên? Không biết chuyện đời sống, chồng con, nhan sắc của “cố nhân” giờ ra sao há ?

” Tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng và bệnh tật ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoàng Liên sơn, Gia Lai – Kômtum, Ðắc Lắc, Lâm Ðồng và Sông Bé thì vô cùng báo động, nhất là các trẻ em sắc tộc miền núi. Riêng tại tỉnh Ðắc Lắc, hơn 54% trẻ em bị suy dinh dưỡng, trong đó 32% suy dinh dưỡng nặng. Trẻ em các sắc tộc thiểu số cao nguyên miền Bắc thỉnh thoảng có nhận đồ cứu trợ từ chính quyền nhưng phần lớn nặng về phô trương hơn là cụ thể (…). Khi hết lương thực, các em nhỏ sắc tộc phải cùng cha mẹ đào củ rừng mà ăn cầm đói, phần lớn không sống hết tuổi vị thành niên vì thiếu ăn và bệnh tật. Nhiều bộ lạc đang có nguy cơ diệt chủng nếu tình trạng thiếu đói cứ kéo dài, tương lai của họ rất bấp bênh. (Nguyễn Văn Huy, “Nhân Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi: Viết Về Trẻ Em Bất Hạnh”, Thông Luận số tháng 8 năm 94).

Và đây là báo cáo mới nhất về đời sống của những người dân sơn cước ở Việt Nam, từ một người ngoại quốc :”Lợi tức bình quân của một người Thượng là 150 Francs (23 USD) một năm, trong khi đó giá một kí lô gạo là 1,5 Franc (à). Hiếm thấy một người thượng nào mà không mắc những chứng bệnh nhiệt đới: sốt rét, ho lao, hay phong cùi. Cũng hiếm thấy trẻ em Thượng nào đến trường học. Nạn mù chữ chiếm 80 % dân số Thượng trong khi tỉ lệ mù chữ trên toàn quốc là 15% (Michel Tauriac, “C’es Mois cu’on assassine,” Paris Match, 17-Feb. 2000).

Riêng trong lãnh vực giáo dục, báo Nhân Dân (số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000) đã tổng kết và ghi lại vài dữ kiện vô cùng thê thảm – về số lượng học sinh dân tộc thiểu số được tuyển chọn vào đại học trong năm:” Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Ðăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Ðáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng.” Tôi hy vọng báo Nhân Dân in lộn. Nếu những con số vừa nêu là số lượng những đại biểu quốc hội của đồng bào sắc tộc thì đỡ thảm thiết hơn nhiều!

Dù mỗi người chỉ được sống với hai Mỹ Kim một tháng, và mỗi sắc dân chỉ có một học sinh (đại diện) vào đại học, “nguy cơ diệt chủng” của những bộ lạc ở Việt Nam (chắc chắn) sẽ đến sau sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản ở xứ này. Và đó là điều may mắn an ủi duy nhất mà dân tộc Việt còn có được khi nhìn về tương lai.

Mai hậu, hy vọng người Việt (thuộc mọi thành phần dân tộc) sẽ biết cách thu xếp để sống với nhau một cách ổn thỏa hơn và tử tế hơn. Nếu không, mọi cố gắng để hủy bỏ chế độ hiện hành đều vô ích và vô nghĩa.

Tôi tin rằng rất ít người Việt phủ nhận chủ nghĩa cộng sản chỉ vì họ … “thuộc phe quốc gia” hay vì những lý do hời hợt tương tự. Sở dĩ chủ nghĩa này phải bị gạt bỏ vì nó là nguyên nhân của lầm than, dốt nát, kỳ thị, bất công, dối trá, khủng bố, áp bức…Khi nó đã bị loại trừ thì tất cả những thuộc tính bệnh hoạn vừa nêu cũng không có lý do gì để tồn tại nữa.

” Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc [Lý Hồng Xuân, Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn, (California:Văn Nghệ 2000),177]. Chắc chắn không ai ” làm tay sai cho ngoại bang” nếu được đối xử một cách bình đẳng, và không bị coi thường như “những công dân hạng bét” trên quê hương của chính mình.

Họa cộng sản sẽ và sắp đi vào dĩ vãng. Một trong những điều phải bận tâm trong những ngày tháng tới của dân tộc Việt là “tình hữu nghị” với những lân bang. Ngoài bờ biển ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc thiểu số – tự ngàn xưa. Như thế, tương nhượng và tương kính không phải chỉ là một quan niệm sống nhân bản mà còn là một thái độ khôn ngoan (tối thiểu) để sinh tồn.

Sự tương nhượng và tương kính này cũng không chỉ cần thiết trong tương giao giữa “kinh và thượng” mà còn trong quan hệ giữa “miền này với miền nọ”, “đạo này với đạo kia” nữa. Thế giới hôm nay không còn đất sống cho những dân tộc có đầu óc hẹp hòi. Bỏ những thành kiến mẹ rượt đó đi, mấy Tám!

K’ Tiến
(12-14-2000).


Mời nghe: Một chút tình riêng về miền sơn cước – tưởng năng tiến – cát bụi đọc


26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Rồi Hết Chiến Tranh


Hơn ba mươi năm trước, khi cuộc chiến ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mường tượng ra một viễn ảnh thanh bình làm say đắm lòng người: “Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đường”.

Sau cuộc chiến, quả nhiên trẻ con có la cà và tụm năm tụm ba hơi nhiều trên đường phố. Chỉ có điều là tuyệt nhiên không nghe một đứa nào hát đồng dao ; đã thế, phần lớn tụi nhỏ đều tham dự tích cực vào nhiều sinh hoạt không thích hợp cho lắm với tuổi thơ: bới rác, móc túi, ăn mày, bán cần sa, và nài nỉ mời khách mua…dâm – với một thứ ngôn ngữ sỗ sàng và sống sượng đến độ có thể làm đỏ mặt một người da đen hay da đỏ : “Chú ơi, chú chơi cháu đi… “. (Hoàng Hữu Quýnh. Tôi Bỏ Ðảng, Tập I : Bản Cáo Trạng Chế Ðộ Hà Nội, trang 140, 1989, trích từ Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư  của Minh Võ, Thông Vũ xuất bản năm1999) .

Ðó là những chuyện chỉ có tính cách “hiện tượng”, xẩy ra từ một hai thập niên về trước, khi hòa bình mới đuợc vãn hồi, và xã hội còn nhiều tệ đoan do tàn tích của chiến tranh. Với thời gian, bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam mỗi lúc được nhận biết rõ ràng hơn.

Mới đây, ký giả Huw Watkin (hiện đang có mặt tại Hà Nội)  tuờng thuật rằng cứ trung bình trong số năm đưá bé lê la ở  “ba mươi sáu phố phường” thì có một đứa ăn xin. (“Children Sold Into Begging, Pimping and Drug Dealing’’. South China Morning Post 18 April 2000). Bốn đứa còn lại, tất nhiên, cũng bận: đánh giầy, bán vé số, dắt mối, bán ma túy… Cũng theo bài báo này thì lực luợng trẻ con đi ăn mày, làm ma cô và bán ma túy…ở Việt Nam đang dần được đưa vào tổ chức (…recent media reports that children are being increasingly used by organised begging gangs, pimps and drug dealers).

Ðảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn muốn bao biện mọi chuyện và và lãnh đạo mọi nơi – kể cả chùa chiền, giáo đuờng hay thánh thất… Do đó, trong tương lai gần, thiếu nhi ở đất nước này cũng dám sẽ được đoàn ngũ hoá và cho thắt khăn quàng có màu sắc khác nhau – đại loại như , khăn quàng xanh: đánh giầy ; khăn quàng tím: dắt mối; khăn quàng trắng: ma túy; khăn quàng hồng: mãi dâm; khăn quàng nâu: ăn mày;  khăn quàng đỏ: thu thuế và theo dõi hoạt động của những loại khăn quàng khác!

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cũng chấm dứt luôn sự chia cách giữa hai miền Nam – Bắc. Viễn tuợng thống nhất cũng đã đuợc hình dung bởi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trước đó, và cũng là một hình ảnh khiến cho không ít kẻ phải ước mơ : “Một đoàn tầu đi tỏa khói trắng hai bên đường…”

Một lần nữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại đúng, dù vẫn chưa đúng hết. Sau cuộc chiến, quả nhiên là có đoàn tầu Thống Nhất xuôi ngược Bắc Nam. Ðiều đáng tiếc là hành khách lại luôn luôn ở tâm trạng bất an. Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo bị công an xét hỏi và tịch thu hàng hoá, nếu là dân buôn lậu. Và tất cả đều lo sợ bị ném đá vỡ đầu.  Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng – đợi xe lửa đi qua – thi nhau ném vun vút vào cửa sổ!

Do vậy, tầu Thống Nhất được “cải tiến” bằng cách rào kín mọi khung cửa bởi dây kẽm theo hình mắt cáo. Từ đó, nó trông y như những toa xe dùng để chở tù. Những đoàn tầu như thế mà đi phom phom, hớn hở hú còi, và hân hoan thơ thới, sung sướng “toả khói trắng hai bên đường”  thì  trông (e) hơi mỉa mai và (có phần) lố bịch!

Trịnh Công Sơn chỉ gần hoàn toàn đúng khi mô tả thảm cảnh sau đây: “Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình…”. Nói là  “chỉ gần hoàn toàn đúng” vì cuộc chiến đã tàn  một phần tư thế kỷ. Thế hệ của những “mẹ già lên núi tìm xương” đã qua nhưng chuyện đào bới hài cốt vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất – theo như tuờng thuật của Rajiv Chandrasekaran, “Những Gia Ðình Việt Nam Tìm Kiếm Thân Nhân Mất Tích Của Họ’’(Vietnamese Families Seek Their MIAs .Washington Post 3 April 2000 : A1).

Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt hai muơi lăm năm qua, chị của ông ta ( Bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong…vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300. 000 lính Bắc Việt chết trận mất xác – và kể  như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located – and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội: “Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt ; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này…” Vẫn theo lời ông Ban : “Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những người đã chết” ( Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm sống của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – dù họ đều là những kẻ sống sót sau cuộc chiến vừa rồi. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Trần Bạch Ðằng nào đó đã giải thích với phóng viên Rajiv Chandrasekaran như sau: “…tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót”. (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors  of the war).

Vì đảng viên Cộng Sản Việt Nam là những nguời theo chủ thuyết duy vật nên không quan tâm đến những việc làm có tính cách duy tâm chăng ?  Nói vậy e không được ổn. Nhìn cái cách họ “thờ’’ ông Hồ Chí Minh thì biết. Họ có cả một Bộ Tư Lệnh để bảo vệ lăng ông ta mà. Họ đâu phải là những kẻ vô tâm và lo tốn kém.

Họ ướp xác ông Hồ và bảo trì cũng như bảo vệ nó tới cùng  chỉ vì nó có giá trị như một thứ môn bài (patent) cho phép họ tiếp tục hành nghề cách mạng -hay ít nhất thì họ cũng tưởng hoặc mong như thế ; còn 300.000 ngàn bộ xuơng của đám binh sĩ chết dấm chết dúi đâu đó, trong cuộc chiến vừa rồi, đâu còn một chút giá trị thực tiễn nào nữa khiến họ phải quan tâm.

Rõ ràng họ không phải là những người duy vật, cũng không phải là những kẻ duy tâm mà là những tên duy…lợi ! Hãy nhìn vào thực tế, xem cô nhi quả phụ hay bố mẹ của những kẻ đã hy sinh được ‘’chăm lo’’ ra sao – từ nửa thế kỷ qua ?

Lúc ấy nguời ta sợ nhất là nhìn thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt nguời cán bộ xã. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó…họ sợ nhất là sau cái ’lễ truy điệu trọng thể’ để ’Tổ Quốc ghi công’ là họ bị đẩy ra lề xã hội, không ai nuôi dưỡng” (sđd trang 136 –138).

“Lúc ấy’’, qua đoạn văn vừa dẫn, là hình ảnh của xã hội miền Bắc vào thập niên 60 và đầu 70 – khi mà Ðảng Cộng Sản Việt Nam còn cần động viên xương máu nguời dân cho chinh chiến. Cuộc chiến đã tàn. Bây giờ thì họ còn cần gì đến ai nữa ?

Do đó, khi thấy một phế nhân lê la xin ăn trên hè phố Sài gòn, đừng vội nghĩ đó là thương binh của quân đội miền Nam – những kẻ thuộc phe bại trận. Không nhất thiết như thế đâu. Bây giờ ăên mày là một cơ hội đồng đều,ù không phân biệt tuổi tác, giới tính hay thành phần xã hội. Ranh giới giữa kẻ thắng và người bại đã bị xoá nhòa từ lâu ở đất nước này. Nơi đây –  trước đói rách, khủng bố  và mọi bất công xã hội –  tất cả đều bình đẳng. Việt Nam hôm nay chỉ còn một nhóm nguời thu tóm hết quyền bính cũng như sở hữu mọi tài sản xã hội và cả một dân tộc bị trị vì đã bị lừa gạt trắng trợn – thế thôi.

Bài báo của Rajiv Chandrasekaran kết thúc bằng một  tâm sự não lòng : “Tháng 4 năm nay khi cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 25 năm sau ngày ’giải phóng miền Nam’ và thống nhất đất nước nhiều gia đình đã đến nghĩa trang để thăm mộ thân nhân. Riêng bà Thắm thì có cảm tưởng mình bị bỏ rơi. Theo bà ta thì ‘em tôi đáng lẽ phải nằm trong nghĩa trang liệt sĩ chứ đâu phải ở rừng sâu”. (My brother belongs in the Martyrs’ Cementery,’’ Tham said, ‘’not out in the jungle’’).

Người ta có thể hiểu được tình thuơng yêu vô hạn của bà Thắm đối với người em vắn số nhưng thực khó mà chia sẻ với bà ta cái ảo tưởng rằng ông Nguyễn Dinh Duy là liệt sĩ.  Cùng với hàng triệu nguời khác nữa, sự hy sinh của ông Duy – chung cuộc – chỉ đẩy cả một dân tộc vào cảnh lầm than và băng hoại.

Bà Thắm vẫn chưa nhận ra được rằng cái đuợc mệnh danh là cuộc chiến “chống xâm lược” và “giải phóng miền Nam” vừa qua chỉ là những canh bạc bịp. Nhờ vào gian manh, thủ đoạn và tất cả những mánh khoé lường gạt cần thiết nên Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng. Còn nhân dân thì thua trắng tay. Họ mất ráo  mọi thứ, kể cả xương cốt của người thân, để đổi lấy… những “bảng ghi công’’: Liệt Sĩ, Gia Ðình Có Công Với Cách Mạng, Mẹ Việt Nam Anh Hùng… Hoặc giản dị hơn nữa là một cái bãi đất mênh mông (chi chít bia mộ) với bốn chữ ‘’ Nghĩa Trang Liệt Sĩ” treo ở cổng vào, và chấm hết.

Chỉ có thế thôi mà bà Thắm vẫn bị đứng ngoài. Bà ta có lý do để buồn, dù đó một nỗi buồn ‘’không lấy gì làm chính đáng’’. Buồn hơn nữa là một phần tư thế kỷ sau khi chiến tranh chấm dứt, một số nguời Việt ở hải ngoại – những kẻ có nhiều cơ hội để nhìn vấn đề một cách khách quan hơn – vẫn tiếp tục tranh cãi và xỉ vả lẫn nhau về những chuyện rất không cần thiết và cũng chả chính đáng tí nào.

Họ giống như những nguời đàn bà nhà quê đi chợ bằng xe lam. Trên xe bị một thằng lưu manh dụ chơi bài ba lá, lột hết tiền, và đuổi xuống xe. Thay vì xúm nhau, túm cổ thằng khốn nạn, vả cho nó rụng hết răng rồi lấy lại tiền thì họ quay ra xa xả đổ thừa lỗi lầm cho kẻ này nguời nọ ; sau đó, họ cãi vã và xỉa xói lẫn nhau – bằng những ngôn từ nặng nề và thô tục nhất: đồ ngu, đồ cò mồi, đồ tay sai…

Trước hoạt cảnh này, nếu có ai lên tiếng khuyên lơn là họ nên đoàn kết lại để chung sức đối phó với kẻ gian manh thì (rất có thể) bị mắng là  “đồ chủ trương hoà hợp và hoà giải’’. Cụm từ này – trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, vào thời điểm hiện tại – có nghĩa là… “đồ đón gió trở cờ’’. Cũng như người Việt, tiếng Việt (đôi khi) hơi khó hiểu.

Tưởng Năng Tiến

26/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuyện Phiền Vào Lúc Cuối Năm

Khi bạn đứng tần ngần trước một quầy hàng bầy thiệp giáng sinh và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm thì mọi chuyện kể như là đã lỡ.  Chúng ta lại trễ tràng mất rồi.

Năm ngoái cũng vào khoảng thời gian này đây, nghĩa là vào lúc mà Noel đã đến sát lưng, và cái tết Dương Lịch đang đứng lù lù trước mặt thì hốt nhiên bạn nhận được dăm ba cánh thiệp muộn màng.

Thiệp có đặc tính chung là thường hay chuyên chở một thứ nội dung làm sẵn và đã nhẵn, đại loại như: “…một mùa giáng sinh tràn đầy ân sủng Chúa và một năm mới tràn đầy hạnh phúc...”

Ân sủng Chúa, nếu có, e cũng khó mà có thể phân phát tùm lum một cách “tràn đầy” cho nhân loại được. (Chúng ta đông qúa và mỗi lúc một thêm đông mà.  Sức Chúa, cũng như sức người, có hạn thôi chứ bộ). Còn hạnh phúc thì sợ rằng chưa ai biết nó ra sao.  Chúng ta chỉ đều mơ hồ hiểu rằng hễ nhắc đến hạnh phúc thì đừng bao giờ mong cho nó “tràn đầy”. Mọi thứ đầy đều dễ đổ.  Và hạnh phúc (thì ôi thôi) là thứ cứ đổ bể rầm rầm.

Bạn có thể không lưu tâm đến nội dung hàm hồ của những tấm thiệp nói trên nhưng tên người gửi ghi trên phong bì vẫn khiến bạn phải chú ý chứ. Có nhiều thằng cha lạ hoắc; sao chả lại gửi thiệp cho mình cà ? Có những con mẹ mà bạn tưởng rằng đã hoàn toàn và vĩnh viễn đi ra khỏi cuộc đời mình rồi thì bỗng dưng, chiều cuối năm, bạn nhận được một cánh thiệp muộn màng của cố nhân. (Cố nhân ơi biết chiều nay ta buồn!).

Mà không phải là loại thiệp cà chớn, mua hàng lố đâu nha.  Thiệp loại chiến, kích thước dềnh dàng, mắc tiền là cái chắc.  Cũng không phải chỉ có một chữ ký vội vàng lười biếng bên dưới hàng chữ “Merry Christmas and Happy New Year“, hay vài câu viết thêm vô nghĩa ngớ ngẩn thôi đâu.  Người ta tuy chỉ viết vài hàng ngắn ngủi, giản dị nhưng đọc là thấy tình nghĩa đầy đủ, chân thật, đàng hoàng, thấm thía.

Những cánh thiệp bất ngờ, muộn màng như thế – đôi khi – làm chúng ta bối rối. Nó là bằng chứng hùng hồn về cách cư xử hơi thiếu văn minh của bạn.  Nó khiến chúng ta lấy làm tiếc là tại sao mình lại vô tâm đến thế, sao không nhớ gửi thiệp cho thiên hạ như là thiên hạ đã gửi cho mình.  Vào một lúc yếu lòng hơn, nó còn “dám” làm cho bạn tự hứa là sang năm sẽ nhớ ghé qua cửa hàng bán thiệp cho phải chuyện; và ghé sơm sớm cho xong chuyện.

Nếu đến cái lúc gọi là “sang năm” đó mà chúng ta thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh đàng hoàng thì cuộc đời rõ ràng là ổn thỏa và dễ sống biết chừng nào;đằng này, khi mà bạn có đủ trí nhớ, và đủ can đảm để dừng xe, ghé vào một gian hàng thổ tả nào đó thì chuyện gửi thiệp e không còn kịp nữa.

Bạn lại đứng tần ngần trước một quầy hàng bán thiệp, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm. Bạn lại chậm chân y như năm ngoái hoặc năm kia vậy.  Và tình trạng này, không chừng, dám đã xẩy ra từ năm kỉa hay năm kìa lận.

Ôi, nếu duyên nợ của bạn đối với chuyện thiệp thiếc này nọ mà nó cứ nhì nhằng triền miên như thế từ năm này đến năm khác, hay từ thập niên nọ qua thập niên kia thì xin cũng đừng lấy đó làm phiền.  Như thế, không chừng, lại là một điều may đấy.

– May sao ?

– Dạ, đúng !

Nói tình ngay thì bạn cũng không may gì mấy; có điều, chắc chắn, là bạn vẫn may mắn hơn cả đống người Việt tha hương khác. Xin đơn cử một thí dụ, một trường hợp rất không may, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Có kẻ ngay sau khi thấy rằng chuyện gửi thiệp giáng sinh không còn kịp nữa thì họ quyết định ngay là mua thiệp xuân để gửi cho kịp  Tết. Họ thua keo này liền bầy keo khác.  Họ suy tính một cái “rẹt” ; hành động một cái “rột.” Thấy mà đã mắt, nghe mà sướng tai.  Trong sinh hoạt hàng ngày của họ không có những giờ phút vớ vẩn kiểu như “tần ngần,” do dự” hay “nuối tiếc”… Bạn thấy họ sống mà phát thèm, đúng không ?

Khoan, gượm một chút đi bạn vàng.  Có nhiều chuyện ngó tưởng vậy chớ không phải vậy đâu.  Từ từ bạn sẽ thấy là họ cũng khốn đốn thấy mẹ luôn.

Hãy hình dung ra chính bạn ngồi ngay ngắn ở bàn viết, với một đống thiệp xuân, mua dược trước Tết cả tháng trời, và với sổ địa chỉ điện thoại của tất cả những người quen trên “toàn thế giới”.  Cho nó cẩn thận, để khỏi xót ai – không chừng – bạn còn làm một danh sách chia làm hai phần: A và B.  Phần A dành cho những người ở Việt Nam hay còn đang ở trại tị nạn; phần B dành cho những kẻ ở Huê Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Ðại, Tiệp Khắc…

Rồi sao nữa ?  Không lẽ  ký tên cái ào bên dưới câu “Cung Chúc Tân Xuân” rồi gửi đi sao ?  Ðâu có được cha nội!  Làm như vậy thà đừng làm còn hơn.  Mỹ, Tây, Tầu, Ðại Hàn, Nhật Bổn, Miên, Lèo…thì sao không biết, chớ người Việt mà nhận được một cái thiệp ký tên xuông như vậy là họ mích lòng cấp kỳ à.

Bạn phải viết vô đó vài giòng cho nó đàng hoàng chớ.  Câu hỏi đặt ra là chúng ta viết cái gì đây ?

Với bố mẹ, anh chị, cô dì, chú bác…đang kẹt ở Việt Nam thì bạn tính làm sao ?  “Một mùa Xuân an bình” hay “con cầu chúc bố mẹ, anh  chị, và các em luôn được vui tuơi và khỏe mạnh trong năm mới...” ?

Nè, nói cho mà biết nha, dù thân nhân của bạn ở quê nhà có thương yêu bạn cách mấy và có xuề xòa dễ tính đến đâu chăng nữa thì họ cũng không chấp nhận được những lời cầu chúc vô tâm và vô trách nhiệm như vậy đâu. Nếu ở Việt Nam mà có “một mùa xuân an bình” hay một cuộc sống “vui tươi và khỏe mạnh” thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi; hoặc đã lỡ đi thì chúng ta cũng đã ùn ùn kéo về không sót một mống nào rồi chớ đâu đến nỗi để xẩy chuyện “hồi hương cưỡng bách.” (Nghe thấy ghê)!

Rồi bạn viết cái gì trên tấm thiệp gửi cho một người đang “nằm chờ” ở trại tị nạn đây ? “Một năm mới tràn đầy hy vọng” chắc ?  Hy vọng, cũng như hạnh phúc, kị nhứt là cái vụ “tràn đầy” à nha.  Một xíu xiu mảy may hy vọng họ cũng chưa chắc được, nhất là đối với những kẻ đến trại tị nạn sau ngày 19 tháng 6 nă 1988 vừa qua.  Cái khổ của chúng ta là không đủ giả dối để cầu chúc cho họ “sớm được định cư”; và không đủ nhẫn tâm để mong họ “trên đường hồi hương được nhiều may mắn”! Cái gì chớ may mắn là kể như miễn có ở Việt Nam.

Nếu nhờ Trời cứu, nghĩa là nhờ một phép lạ nào đó, bạn giải quyết xuông sẻ hết những người có tên danh sách ở phần A thì bạn vẫn còn bị kẹt ở phần B như thường.

Chúng ta – những kẻ đang sống an bình ở hải ngoại – nói năng làm sao với nhau, nhân dịp xuân về đây ?

NHững lời chúc tụng truyền thống, được ông bà cha mẹ chúng ta sài tới sài lui hồi giờ đâu còn dùng được nữa.  “Chúc ông bà, anh chị…làm ăn phát tài gấp năm, gấp mười năm ngoái” chăng ? Bạn có tính xúi thiên hạ đi ăn cướp nhà băng hay bán cocaine không vậy ?
Cũng chớ có quen miệng mà buông một câu kiểu như “đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái” nha.  Cái gì chớ phá thai là điều không mấy ai ưa. Nói năng lạng quạng gây thù chuốc oán như không.

Hay là bỏ mẹ những chuyện cá nhân lẻ tẻ đó đi.  Phang đại một lời cầu chúc cho đại cuộc, không chừng lại ngon lành.  Tới luôn bạng vàng, đâu có chết thằng Tây nào mà sợ.  “Mai này cùng về Việt Nam” chăng ?

Nghe thì vui nhưng nghĩ lại thì hơi khó. Ngó bộ mốt hay ngày kia cũng chưa chắc về được chớ đừng nói chi mai; trừ khi, bạn giả dạng làm du khách “chơi lén” một chuyến thì không kể.

Khó há!  Trong hoàn cảnh chúng ta, nghĩ cho cùng, thì chỉ còn có thể gửi vài ba cái thiệp cho những người bạn thật thân thôi.  Chỉ đối với những người này, may ra, mình mới có thể cởi bỏ được những hình thức xã giao nhảm nhí và gửi đến nhau đôi lời cầu chúc hay giễu cợt thân tình.  Mà đã thân cỡ đó thì cần chi tới thiệp.  Sao đêm ba mươi không bốc điện thoại đấu láo, đấu lếu một chập cho nó đã miệng và tiện việc sổ sách.

Tới đây thì hy vọng ít nhiều bạn cũng đồng ý rằng lờ tít chuyện thiệp xuân thiệp tết đi thì thiệt là kỳ, nhưng nhào vô cái vụ này thì phiền quá.  Ðời sống, tự nó, đã phiền bỏ mẹ đi rồi.  Bầy thêm chuyện để phiền mình và phiền lẫn nhau làm chi, phải không ?

Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò trang nhã, có tính cách truyền thống, rất đáng giữ gìn của những cái thiệp trao đi gửi lại đâu nha.  Ðúng là nó cũng đẹp đấy, cũng được đó, nhưng chỉ e nó không hợp mấy  trong lúc này thôi. Cái lúc mà chúng ta vẫn còn đang sống giữa nhũng mùa xuân ly loạn đó mà.

Tưởng Năng Tiến

26/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Trận Cuối


(Tặng Võ Hoàng)

Từ máy thâu thanh cô nàng hát nhanh, trọn kiếp thương anh lính trẻ xa nhà, tôi là người đi lính miền xa, nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu… nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu...” Sáu Mù hát hai lần trước khi kết thúc bản nhạc và lần nào y cũng nhắm mắt lại thiệt chặt. Bẩy Què khoái chí cười sằng sặc, bỏ đờn xuống, bàn:

– Bản này mày ca tới hơn bản Xuân này con không về, mà đều mày đừng có nhắm mắt lại …

– Sao vậy ?

– Mày đui, mắt toàn tròng trắng không hà, mở ra hay nhắm lại thì cũng “có thấy gì đâu”. Làm như vậy làm chi cho nó mất công mà tao ngó sao mắc cười quá hà…

– Ờ…

Sáu Mù ờ rất yếu và mặt thoáng trầm ngâm. Y bị tật nguyền đã mười năm mà vết thương, đôi lúc, tưởng chừng như vẫn chưa kéo da non. Một va chạm nhẹ vẫn có thể gây ra cái cảm giác đau đớn khó chịu. Bảy Què đang cười bỗng khựng. Nhìn mặt bạn nó biết liền là mình vừa giễu dở nên vội vàng biện bạch, khỏa lấp :

– Cũng như tao vậy, mày thấy có khi nào tao ca bản “đường còn dài nhưng chân cứng đá mềm” mà hồi tụi mình học ở Vương Mộng Hồng đâu. Còn có một giò mà cứ làm bộ ắc ê đếm nhịp “một, hai, ba, bốn; một, hai, ba, bốn” hoài coi nó kỳ thấy mẹ !

– Vậy bữa nào rảnh mày dợt cho tao bài Người Nghệ Sĩ Mù đi. Bản đó tao hát nghe mà không rớt nước mắt tao làm con mày.

– Bản đó mới vô làm sao cà? Bảy Què băn khoăn đưa tay lướt nhanh trên phím đàn mò nốt.

– Tự nhiên tao cũng quên mất tiêu. Tao nhớ là hồi đó mình hay nghe ở cái quán cà phê gì ngoài Ðà Nẵng đó. Lúc mới vô đầu in tuồng có tiếng đờn, rồi tiếng tiền cắc thẩy vô lon nghe keng, keng…

– Thôi tao nhớ rồi… Bản này của Hoàng Thi Thơ, Hùng Cường ca chớ đâu. Rồi Bảy Què lấy giọng vô luôn: “Ai dừng chân nơi đây buông lòng theo câu ca. Tôi ngồi trong bóng tối nghe đời đi ra xa…

– Nó đó…

– Mà không được đâu…

– Sao vậy ?

– Hát bản này nghe giống như hai thằng mình đi ăn xin vậy. Tụi mình đâu có đi hát dạo kiếm ăn. Mình có trách nhiệm đàng hoàng mà, đúng không ?

– Ờ .

Lần này Sáu Mù ” ờ” mạnh hơn và thốt nhiên nghiêng đầu nở một nụ cười rạng rỡ. Y luôn luôn thấy thích thú, vui vui sướng khi nghe Bảy Què nhắc đến chuyện ” trách nhiệm ” của hai thằng. Sáu Mù không nói ra được những điều mình biết và mình nghĩ trong lòng rành mạch như Bảy Què nhưng y khoái nghe bạn nhắc đi nhắc lại ” nhiệm vụ ” và ” ý nghiã ” này nọ.

Có bữa cao hứng Bảy Què còn nói lung tung về tác dụng của chiến tranh tâm lý, tác dụng của nhạc trong tâm hồn quần chúng… Sáu Mù thiết tha được nghe cũng như Bảy Què khát khao được nói. Cả hai không bỏ lỡ cơ hội nào để bồi đắp niềm tin về cái ý nghiã xa xôi, mơ hồ nhưng cao đẹp cho phần đời thân tàn ma dại còn lại của hai thằng.

Thường ngày hai thằng ngồi bên ngoài chợ trời. Bảy Què bầy đồ nghề trên một cái bàn xếp chỉ lớn bằng bề mặt hai cuốn tập và cái bảng nhỏ cạnh bên: “Vô Mực Ruột Viết Bic và Sửa Hộp Quẹt Zippo Giá Rẻ”. Sáu Mù thì không làm được chuyện này. Y vừa ngồi thổi sáo vừa bán sáo. Cái nghề này kiếm ăn không khá. Sáu Mù sống lây lất được là nhờ sự đắp đổi của bạn. Ðiều này vẫn thường làm cho y buồn và mang nhiều mặc cảm. Bảy Què cứ phải an ủi hoài hoài :

-Mày kiếm tiền không nhiều được bằng tao nhưng mày có dịp thổi sáo cả ngày. Cái lợi là mình làm cho những người khách qua đường được nghe tới nghe lui bản “Lòng Mẹ”,” Con Thuyền Không Bến”…

-Lợi làm sao ? Bảy Què đã nói cả trăm lần như vậy rồi mà lần nào Sáu Mù cũng ráng hỏi lại.

-… Thì đ.m… người ta nghe mấy bản nhạc đó thấy đã tai hơn là nghe mấy bản nhạc chướng tai của tụi nó. Từ đó người ta nhớ thời cũ và càng chán cái thời chó đẻ này. Làm được như vậy là kể như tụi mình đang chiến đấu rồi. Cái này kêu bằng chiến tranh tâm lý mà Sáu!

Thiệt ra cái kêu bằng “chiến tranh tâm lý” này không phải là ý kiến của Bảy Què. Y chỉ lập lại những điều mà anh Hai hay nói cho tụi nó nghe thôi.
Hai thằng quen anh Hai lâu rồi. Bữa đó, chợ trời bị bố ráp, rượt bắt một trận tơi bời. Bảy Què mất hết đồ nghề, mất luôn cây nạng. Sáu Mù cũng quờ quạng sao đó để mất luôn hết lưng vốn của mình, hai chục cái ống sáo. Sáu Mù cõng bạn chạy mà mệt muốn đứt hơi.

May mắn gặp được anh Hai. Ảnh bỏ hai thằng lên xe chở tuốt về xóm. Từ đó anh Hai trở thành người anh kết nghĩa và ân nhân của hai thằng. Sáng, anh bốc hai thằng bỏ lên xe chở ra chợ. Chiều, anh cho hai thằng về. Lâu lâu còn có bữa anh “vớt” hai thằng về sớm hơn giờ đã định, đưa ra đường Hàm Nghi uống rum Lebon và nhậu củ kiệu với hột vịt bắc thảo. Anh Hai không bị đui, cũng không bị què. Anh chỉ bị chột mắt thôi.

Anh Hai không bao giờ nói cho Bảy Què và Sáu Mù nghe về dĩ vãng của mình. Thường ảnh hay trầm ngâm và buồn. Lâu lâu anh Hai mới nhỏ giọng, nghiêm trang nói chuyện với hai thằng, với giọng nói rất chân tình và thuyết phục. Từ anh Hai mới có chuyện “chiến tranh tâm lý”: “Cuộc chiến của mình vẫn đang âm thầm tiếp diễn trên mọi mặt trận. Hai em phải thấy, tụi nó chiếm được thành mà không chiếm được lòng người thì chưa kể được là thắng; hiện tại tụi nó không những đã làm mất lòng người mà còn mất luôn cả lòng sĩ tốt của nó nữa. Chung cuộc tụi nó sẽ thua.Vấn đề của anh em mình bây giờ là phải chiến đấu, đóng góp toàn lực trong khả năng riêng của từng thằng để rút ngắn con đường đưa đến chiến thắng càng sớm càng tốt…”

Ðã nhất là anh Hai làm cho Sáu Mù và Bảy Què thấy rằng tụi nó không phải là kẻ tàn tật đứng bên lề cuộc đời. Tụi nó vẫn có khả năng, không những chỉ để sinh tồn mà còn để chiến đấu chống lại kẻ thù nữa. Từ đó, mỗi buổi chiều trở về xóm nhỏ thay vì chỉ nằm hát nghêu ngao chơi cho đỡ buồn thì Sáu Mù và Bảy Què dượt nhạc ráo riết. Mỗi tuần hai thằng được bà con vỗ tay tán thưởng, chia xẻ với niềm tin chung mãnh liệt của tất cả mọi người: cuộc chiến vẫn cứ đang tiếp diễn.

Lúc anh Hai tới thì Bảy Què và Sáu Mù đang cãi cọ về bản Sài Gòn Vĩnh Biệt. Sáu Mù thích chơi bản đó nhưng bị Bảy Què cự nự:

-Người ta chán nghe hát tới hát lui “Sài Gòn ơi anh xin hứa rằng anh trở veà” rồi! Nghe láu cá chết mẹ. Có thấy ai về đâu nào?

– Nhưng mà – Sáu Mù nhỏ nhẹ – bà con vẫn cứ mong chớ đâu có chán. Mình ên mày không thích rồi mày nghĩ ai cũng vậy sao?

Anh Hai can thiệp:

– Thôi trễ rồi nha hai đứa. Thì cứ để cho thằng Sáu nó ca; bản nào bà con vỗ tay nhiều thì hát tiếp không thì tuần sau bỏ. Bốc hai thằng lên xe, đạp ra khỏi con hẻm rồi anh Hai mới hỏi:

– Chiều nay tụi mày tính “hành quân” ở đâu đây?

– Cho tụi em xuống trạm xe buýt ở góc Trương Công Ðịnh và Nguyễn An Ninh đi.

– Hát ở ngay đó tụi công an nó đá cho dập mật à.

– Ðâu có, tụi em đón xe lên Tân Cảng mà. Thì cũng làm y chang như mấy lần trước vậy. Ði xe đường dài, khúc nào khách không chen chúc quá đông thì mình làm vài bản. Lần quần chiều nay mà tụi em chơi chừng hai chục bài là coi như tạm đủ để trả nợ núi sông rồi.

– Ðược – anh Hai tán thành – “kế hoạch hành quân” vậy là tạm ổn. Nhớ đừng chơi “Giã Từ Vũ Khí” nha, mấy cha. Cái gì mà “trả súng đạn này anh sạch nợ sông núi rồi“, nghe rầu quá hà. Sáu Mù bắt liền:

-… anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi. Xin trả lại đây, trả lại đây...

– Thôi mà Sáu – Bảy Què dấm dẳn – sao mày toàn thích toàn mấy bản nhạc yếu xìu không vậy ?

Cụt hứng, Sáu Mù tắt đài, chống chế bâng quơ :

–          Bị nó làm tao nhớ ông thượng sĩ Tâm, ổng già rồi mà hay ca: “rồi anh sẽ qua thăm nhà em, với miếng cau với miếng trầu ta làm lại từ đầu..” nghe thấy đã.

Tới trạm vừa kịp lúc xe đến. Anh Hai đẩy Bảy Què lên trước rồi dắt Sáu Mù lên sau. Trước khi quay đi anh không quên dặn:

– Chừng bảy giờ tao chờ tụi mày ở đây nha.

Ở ngay trạm chính xe chật ních người. Bảy Què đút gọn cái nạng dưới gầm ghế, ôm sát cây đờn ghi ta để đứng trước ngực, ngồi che một khoảng nhỏ vừa đủ cho Sáu Mù dựa lưng vào thành xe và bó chặt hai đầu gối.

Xe ngừng ở trạm Nguyễn Du rồi Pasteur. Người xuống nhiều hơn người lên. Sàn xe bắt đầu có khoảng trống đủ rộng có thể di chuyển dễ dàng. Bảy Què đẩy bạn lết ra giữa đường đi và bắt đầu dạo đờn nhè nhè làm cho mọi người chú ý.

Theo đúng chương trình hai thằng sẽ mở đầu bằng bản “Trên Ðầu Súng”:

Trên đầu súng quê hương, Tổ quốc đã vươn mình. Trên lưỡi lê căm hờn, hờn căm như triều sóng. Ôi xôn xao chiêng trống hối thúc đã giục giã khắp chốn rộn ràng. Ôi lửa thiêng dậy bập bùng tay lửa tay vung kiếm. Trên đầu súng xâm lăng xiềng xích với bạo tàn. Trên lưỡi lê nô lệ cùm gông phải đổ nát…

Người nghe không những chỉ chú ý mà còn hơi sửng sốt. Hát dạo trên xe buýt không phải là một hiện tượng xa lạ nhưng nói đến “nộ lệ,” “cùm gông”… thì quả thực là những chữ lạ tai và đã tai! Nhắm thấy có bộ được, Bảy Què và Sáu Mù tiếp luôn bản “Cờ Bay”:

Cờ bay, cờ bay oai hùng trên Tổ quốc thân yêu thề chiếm lại nay mai bằng máu. Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương dang ngóng đợi quân ta tiến về… Ðón nhau về anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Ðông Hà. Sạch bóng thù, đồng ta xanh với nắng mới, vang câu hát tự do.”

Bản nhạc chấm dứt nhưng không ai vỗ tay. Bảy Què ngước nhìn lên và bắt gặp một hai người đang lấy tay chùi nước mắt. Y xúc động đến bối rối và cũng muốn khóc theo luôn. Y vừa đờn, vừa nói thầm với chính mình nhiều lần “nhảy dù cố gắng” để ngăn cho nước mắt khỏi chẩy. Sáu Mù thì chưa cảm nhận được kịp phản ứng của thính giả, vẫn tiếp tục say mê ngồi hát. Chương trình tiếp nối bằng một bản nhạc đơn ca “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật:

Năm hai mươi mốt tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai. Người yêu tôi mới quen mà thôi..”

Năm hai mươi mốt tuổi, Sáu Mù cũng đi vào quân đội. Tiểu Ðoàn Chín Nhảy Dù. Và người con gái y mới quen mà thôi ở quận Thượng Ðức – cách đây đã mười năm – mãi mãi vẫn còn trong tâm tưởng như một chiếc bóng đậm mầu. Lúc đơn vị đang tiến chiếm đồi 1062 thì Sáu Mù bị thương ở mắt. Y được trực thăng đưa thẳng về Tổng Y Viện Cộng Hoà. Giữa cái lúc nằm đau xót, mê man trên máy bay, Sáu Mù vẫn cứ nhớ và tiếc một điều: y đã không có dịp để nói với người ta một câu từ tạ, dù là “tạ từ trong đêm!”.

Mắt Sáu Mù được giải phẫu xong đúng bốn ngày thì Sài Gòn thất thủ. Y bị đẩy ra khỏi bệnh viện để dành chỗ cho phe thương binh thắng trận. Sáu Mù vĩnh viễn “giã từ ánh sáng” kể từ lúc đó. Cũng từ đó, không có thêm một người con gái nào lọt được vào đôi mắt trắng giã của y nữa.

Trong cái bóng đêm dài hết một đời này, thỉnh thoảng, vẫn lóe sáng hình ảnh của hai người đàn bà: người mẹ và người con gái tóc thề mà Sáu Mù chưa kịp hỏi tên ở quận Thường Ðức. Những lúc lần dò, lê la ngoài hè phố hay trên xe buýt như thế này, tự thâm tâm Sáu Mù vẫn vừa mong mỏi, vừa lo sợ một điều: bất ngờ gặp lại được mẹ hay cố nhân.

Khi bản nhạc chấm dứt thì Sáu Mù không còn thể nào ngăn được nước mắt đã lăn nhẹ trên đôi gò má gầy đến xương của y. Nhiều hành khách khác cũng khóc. Không khí trên xe trầm lắng đến nặng nề. Mọi người đều im lặng, thẫn thờ như họ đang bị thôi miên. Tài xế và lơ xe vẫn thi hành phận sự một cách bình thường, như không có chuyện gì quan trọng xẩy ra, dù nét mặt của cả hai bỗng nghiêm và buồn … thấy rõ!

Ðứa bé bán chuối chiên cẫn trọng gói một trái chuối bự nhất, nhẹ nhàng mang đến đạt vào tay Sáu Mù. Cái cảm giác nong nóng ở tay khiến y biết ngay là có một người nào đó đã động lòng và dấm dúi cho mình một phần lương thực. Sáu Mù không cảm thấy bị xúc phạm, y chỉ càng tủi thân thêm. Mãi đến lúc đó nhiều người mới nhìn thật kỹ Sáu Mù và Bảy Què.

Họ chợt nhận ra trước mắt mình là hai người thương binh – dù quân phục đã cũ nát, tả tơi và phù hiệu đơn vị đã bạc màu – chứ không phải là những kẻ ăn xin hát dạo như thường thấy. Sáu Mù đã cảm nhận được hết cái không khí thương yêu chia xẻ quanh mình. Y xúc động đến run người. May mắn là sự mù lòa giúp cho y đỡ bối rối hơn là Bảy Què trong lúc này. Bảy Què phải cúi gầm mặt xuống, tránh những ánh mắt chứa chan thiện cảm của những người xung quanh.

Cảm tình của thính giả làm cho Bảy Què luống cuống. Bần thần một hồi y mới lấy lại được bình tỉnh. Y vội vàng chuyển nhịp, chơi bản “Hội Nghị Diên Hồng”:

Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến? Hận thù đằng đằng, biên thùy rung chuyển… Toàn dân Tiên Long, sơn hà nguy biến ! Hận thù đằng đằng nên hòa hay chiến?”

–          Quyết Chiến !.

Tiếng hô đáp bất ngờ của nhiều người trong xe khiến Bảy Què và Sáu Mù tưởng như có một luồng điện chạy qua người. Không riêng gì hai thằng mà có lẽ là tất cả mọi hành khách đều xúc động mãnh liệt. Sau đó có đến hơn chục người cùng cất cao giọng hát chung với hai thằng. Xe ngừng lai ở một vài trạm kế tiếp, không ai xuống! Lác đác chỉ có người lên.

Mặc kệ cho những người mới bước lên xe ngơ ngác, Bảy Què, Sáu Mù và nhiều hành khách trên xe cứ hát. Sau khi “chiều” theo mọi người hát đi hát lại bản “Hội Nghị Diên Hồng” đến lần thứ ba, Bảy Què mới chuyển nhịp qua được bản “Mẹ Việt Nam Ơi Chúng Con Vẫn Còn Ðây”:

Nhưng mẹ ơi, giờ đây sao mẹ khóc ? Hai vai gầy run rẩy nát tâm can. Lệ hồng pha Bến Hải nước tràn dâng. Áo nâu nghèo mẹ khóc để phơi thân. Một đàn con giờ quên ơn nuôi dưỡng. Súng đạn cầy tan nát luống quê hương… Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than, xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam. Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng than khóc nữa. Vì chúng con của mẹ vẫn còn đây…”

Xe đến Tân Cảng, trạm cuối. Bản nhạc cuối cùng cũng vừa vặn chấm dứt ở đó. Mọi người lục tục xuống xe. Họ đi qua chỗ hai thằng, không quên nhét vội vào túi tụi nó những đồng tiền lẻ. Có người lục tìm mãi túi mình rồi bối rối nhét đại vào áo Sáu Mù một ít… thuốc rê! Hai thằng ngồi sượng sùng đón nhận những câu nói “cảm ơn” nho nhỏ và những đồng tiền, những món quà rơi như mưa vào người mình. Riêng Bảy Què thì không dưng mà chợt nhớ đến cái lúc mà y ngượng ngập, cúi đầu nhận vòng hoa chiến thắng, từ tay của em nữ sinh Trưng Vương, vào một buổi sáng (nào đó) đã xa lắc, xa lơ… .

Trong đám hành khách, có hai người không móc tiền mà cũng không móc thuốc. Họ rút từ trong người ra khẩu K.54 dí vào ót của hai thằng. Cái cảm giác thép lạnh làm Sáu Mù điếng người. Hắn ú ớ lên tiếng hỏi :

– Làm cái gì vậy ?

– Về đồn rồi biết…

Bảy Què hốt hoảng :

– Tụi tui làm gì mà bắt chớ ?

– Làm việc cho CIA chống phá cách mạng chứ còn làm gì nữa.

Ðám đông hiếu kỳ còn đang kinh ngạc, tần ngần, nghe đến mấy chữ “CIA” liền bước nhanh xuống xe, vội vàng tản mát ra xa. Tay phải cầm súng, tay trái nắm cổ áo của Sáu Mù và Bảy Què, hai người đàn ông lực lưỡng lôi hai thằng xuống xe như lôi hai con chó!

Chuyến xe buýt cuối cùng Tân Cảng – Sài Gòn đã đỗ trạm từ hồi xẩm tối nhưng anh Hai vẫn neo xe chờ Sáu Mù và Bảy Què cho đến tận khuya. Anh biết chắc hai thằng em mình “thua” rồi nhưng vẫn cứ chờ. Làm sao mà bỏ đi liền cho đặng ?

Ngày xưa khi còn là một hoa tiêu trực thăng anh Hai cũng đã đi đón hụt nhiều chuyến như vậy rồi. Cái cảm giác mất mát lúc mang máy bay về không giữa đêm trường bao la sau khi đón hụt những toán biệt cách không làm cho anh thấy khổ sở và bứt rứt khủng khiếp như bây giờ.

Hút đến điếu thuốc cuối cùng rồi anh Hai leo lên xe lầm lũi đạp ra hướng sông, sông Sài Gòn. Bờ sông vắng, nước đen, gió lạnh. “Sông đưa người rồi cũng mỏi mòn trông!” Anh Hai lẩm nhẩm một câu thơ chợt len vào trí nhớ, và chưa bao giờ thấy mình cô đơn như vậy.

Anh nghĩ đến những thằng bạn đồng ngũ còn lận đận ở tận những phương trời xa xôi và tiếp tục lẩm nhẩm: “Tụi nó đều còn nguyên vẹn hết mà đã mười năm rồi, sao không thấy đứa nào quay trở lại. Trận chiến này chưa chấm dứt đâu mà …”.

Tưởng Năng Tiến
(1984)


Mời nghe: Trận Cuối – Tưởng Năng Tiến – Cát Bụi đọc


26/01/2010 Posted by | Truyện | %(count) bình luận