sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Thôi Bỏ Ði Tám


Ủy Ban Tu Chính Hiến Pháp của Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam, hôm thứ tư 15 tháng 8 năm 2001, đã phát động chiến dịch thu thập ý kiến công chúng – kể cả những ngggười đang sống ở hải ngọai – về việc sửa đổi hiến pháp 1992. Tôi thiệt không dè là ở xứ mình cũng có hiến pháp nên vô cùng cảm động và lúng túng khi (bất ngờ) được mời tham dự vào việc tu chính. Trước khi phát biểu, tôi đã phải bỏ khá nhiều thì giờ tìm hiểu ít nhiều về vấn đề này – bằng những những phương tiện hạn hẹp của mình.

Nguồn thông tin đầu tiên mà tôi được tiếp cận, qua một luật gia đang sinh sống ở Hà Nội, như sau:“có hai bản hiến pháp. Một bản để trình ra thế giới, nhưng không được thi hành. Còn một bản thì nhà nước thực thi ngầm trong dân chúng. Trong bản hiến pháp thứ hai này, công dân chẳng có quyền tự do nào cả.”(Lê Chí Quang. ” Ðối Thoại Tháng Sáu Năm 2001″. Cánh Én, Ðức Quốc, tháng 07, 2001). Nếu nhận định này đúng thì mọi đóng góp của dân chúng (về bản hiến pháp được “trình ra thế giới”) đều không cần thiết vì nó sẽ “không được thi hành”. Còn với bản hiến pháp được “nhà nước thực thi ngầm”, vốn tính tế nhị, tôi xin được giữ thái độ kính nhi viễn chi – cho nó khỏi phiền.

Thì cũng nói cho nó rốt ráo và phải chuyện thế thôi, chứ đâu có thể chỉ vì nhận định riêng tư của cá nhân ông Lê Chí Quang mà tôi bỏ lỡ cơ hội được tham dự vào việc tu chính hiến pháp (không ngầm) với mọi người. Do đó, tôi vẫn cố tiếp tục tìm hiểu vấn đề cho được thấu đáo hơn. Và theo tôi được biết thì vào ngày 5 tháng 9 năm 1999 (dù chưa được Uûy Ban Tu Chính Hiến Pháp của Quốc Hội gợi ý) linh mục Chân Tín cùng với những vị lãnh đạo tôn giáo khác- Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ, cụ Lê Quang Liêm, cụ Trần Quang Châu – cũng đã cứ nhao nhao lên tiếng đòi hỏi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, với lý do rằng chính nó là nguồn gốc của mọi tệ trạng và tội ác ở VN.

Mới đây, vào ngày 9 tháng 9 năm 2001, khi khổng khi không, LM Chân Tín lại ngang nhiên đổi ý. Ông cho rằng việc “mà Ðảng chỉ thị cho Quốc Hội hỏi ý dân chỉ là một trò dân chủ giả hiệu”, và nằng nặc đòi phải hủy bỏ hết trơn hết trọi nguyên cả cái hiến pháp 1992 – chứ chả riêng chi điều bốn (“http//:www.conong.com/chantin_910.htm“).

Dù cũng là một người sinh trưởng ở miền sơn cước, tôi không có giao tình (đậm – nhạt) gì với ông đương kim tổng bí thư Nông Ðức Mạnh. Tôi cũng không hề quen biết (xa- gần) gì với bất cứ một vị Uûy Viên Trung Ương nào của đảng CSVN. Với tất cả khách quan, nghĩa là hoàn toàn và tuyệt đối không phe đảng, tôi thành thực nghĩ rằng đòi hỏi của linh mục Chân Tín có phần hơi quá đáng. “Ðược voi đòi tiên” là lẽ thường tình nhưng khi Ðảng chưa chuẩn bị kịp để đưa con “voi” ra mà ổng đã cứ đã cứ nằng nặc đòi luôn cả “tiên” nữa thì e rằng hơi quá ép.

Ðã thế, những người quá quắt như ông ta (hoặc, có khi, còn quá quắt hơn thế nữa) lại hiện diện nhan nhản ở khắp nơi – chứ chả riêng chi ở Việt Nam, và cũng không chỉ giới hạn trong giới tu sĩ. Giáo sư Nguyễn Văn Canh, chả hạn, cũng vào ngày 9 tháng 9 (khi trả lời phỏng vấn cho Chương Trình Phát Thanh Văn Hóa Giáo Dục ở San Jose, California về vấn đề này), ông tiến sĩ đã tuyên bố như sau:”Góp ý có nghĩa là nhìn nhận chế độ, đóng góp vào tính cách chính thống của nó. Như thế là tiếp tay cho chế độ, mặc thị cho chúng đàn áp, bóc lột đồng bào trong nước”.

Trời đất, ổng ăn nói gì mà nghe thấy ghê dữ vậy. Nghe không có “friendly” chút xíu nào. Tôi chưa kịp lên tiếng đóng góp gì hết trơn hết trọi mà đã thấy nản lòng. Cả linh mục Chân Tín lẫn giáo sư Nguyễn Văn Canh đều là những người đã luống tuổi. Tuổi tác, có thể, đã khiến nhị vị trở nên khó tính chăng?

Tôi trộm nghĩ như thế nên xoay sang hỏi ý kiến một vị giáo sư khác, thuộc thế hệ khác, đó là ông Nguyễn Văn Huy. (Tôi biết chắc chắn nhân vật này còn trẻ vì lúc nhỏ chúng tôi học chung trường. Ông ấy học sau tôi vô số lớp, và vì hơi nhút nhát nên (hồi đó) đương sự bị tôi…đánh đều đều). Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Huy (qua thư riêng viết ngày 21 tháng 9 năm 2001) thì “toàn bộ nội dung của Hiếp pháp 1992 không thể chấp nhận, phải bỏ hết và viết lại chứ không riêng chi điều 4”.

Tôi quên hỏi xem ông Nguyễn Văn Huy có bằng tiến sĩ về ngành nghề nào, và hiện đang giảng dậy môn học mẹ rượt gì (ở một cái trường đại học nào đó) bên Paris nên coi hơi nhẹ giá trị ý kiến của ông ta. Lòng vòng thêm một chập, tôi tìm được một vị trí thức khoa bảng khác – ngó bộ chuyên môn và khả tín hơn chút đỉnh. Theo tiến sĩ luật khoa Nguyễn Xuân Phước thì “hiến pháp 1959 cùng các hiến pháp xuất hiện sau đó hoàn toàn bất hợp hiến và bất hợp pháp vì không có tính cách kế thừa và liên tục về mặt pháp lý, theo tinh thần và nội dung của hiến pháp 1946. Do đó, các hiến pháp kế thừa không có năng lực pháp lý để xác định tính chất hợp pháp và chính thống của nhà cầm quyền“. (http://www.conong.com/nhanq-88.htm).

Tưởng sao? Lại vớ phải thêm một ông trạng cũng thuộc loại …nói ra. Ðã vậy, chả còn chèo kéo theo một ông trạng khác – luật sư Nguyễn Văn Thảo, đang sống trong nước – vô cuộc nữa cho rậm đám:” Việc đem dự thảo hiến pháp ra cho ‘toàn dân’ thảo luận và góp ý kiến ‘một cách sôi nổi’ là một thủ tục tốt nhưng hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Hiến pháp1946 không đòi hỏi nhân dân phải thảo luận và đóng góp ý kiến một cách sôi nổi. Hiến pháp 1946 đòi nhân dân phải có quyền phúc quyết mọi thay đổi hiến pháp (gạch dưới theo nguyên bản). Thủ tục phúc quyết này cần được hiểu là phải được thực hiện qua một cuộc trưng cầu dân ý (referendum) tự do để thể hiện sự chấp thuận của toàn dân. (Nguyễn Văn Thảo. “Soạn Thảo, Sửa Ðổi Hiến Pháp, Và Thực Hiện Bảo Vệ Hiến Pháp”. ( Tạp Chí Cộng Sản tháng 6 – 2001. ( http://www.cpv.org.VietNam/Vietnam/hcrd_59).

Vậy mà có người dám nói là dân Việt không đoàn kết. Trật lất, và trật chưa từng thấy, ít nhứt thì cũng hoàn toàn trật với qúi vị có bằng tiến sĩ – bất kể là tiến sĩ loại gì, và ở bất cứ đâu. Già, trẻ, lớn, bé, trong, ngoài… gì mấy chả đều cùng một giọng phỉ phui (chắc nịch và thấy ghét) như nhau.

Suy đoán một cách tiểu tâm, tôi e rằng những nguời trí thức Việt Nam có tư thù hay đố kỵ chi đó với những người cộng sản ở xứ sở này. Họ chỉ chờ lúc đối phương lâm vào cảnh tang gia bối rối để chọc quê chơi, cho bõ ghét – vậy thôi. Tu chính hiến pháp của một quốc gia là chuyện lớn và là chuyện nghiêm trang, tôi đâu có thể bỏ cuộc chỉ vì những ý kiến lẻ tẻ và “nhỏ nhen” như vậy được.

Tôi bèn tìm đến một giới người khác, những người cầm viết, những ông bà nhà văn hay nhà báo gì đó. Theo ký giả Phạm Trần, việc sửa đổi hiếp pháp chỉ có một mục đích duy nhất là “đảng hóa doanh nghiệp… để xác nhận thêm quyền làm chủ của các doanh nghiệp nhà nước” , (http://www.%20thongluan.org/VN2/viet_frame_0601.htm )

). Một cây bút lão thành khác thì cho rằng đảng CSViệt Nam chỉ lại bầy trò lươn lẹo thế thôi chứ chung cuộc rồi “vẫn độc đảng, vẫn định hướng xã hội chủ nghĩa và vẫn quốc doanh thối nát, không có gì thay đổi hết”. (Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh. “Sự Tu Chính Bịp Bợm.” Việt Báo Kinh Tế 25- 08- 2001). Tệ hơn nữa là ý kiến sau đây:” Thử nghĩ coi, qúi vị bàn bạc, góp ý về sửa đổi hiến pháp làm gì khi mà những người cầm đầu cả nước vẫn suy nghĩ, hành sử như thể họ vẫn còn sống dưới thời ông Stalin?” (Ngô Nhân Dụng. “Những Người Ðứng Trên Luật Pháp.” Người Việt 24 – 8 – 2001).

Khẳng định như thế, e rằng nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết báo với cây bút của một thi sĩ. Vì nhiều xúc cảm quá nên ông đã (lỡ) quá lời chăng? Trong suốt mấy chục năm cầm quyền – theo như tôi thấy, và ai cũng “phải” thấy như vậy – Stalin có bao giờ ngỏ lời mời bất cứ ai tham gia vào việc tu chính hiến pháp đâu? Nói gì đến cái thứ tha phươngcầu thực, trôi sông lạc chợ như tôi. Ðồng chí TBT Nông Ðức Mạnh, rõ ràng, chơi đẹp hơn ông Stalin nhiều.

Mà có qua thì phải có lại chớ. Bởi vậy, tôi cũng cũng xin thưa luôn rằng tôi vô cùng tiếc là đã không thể đồng ý với giáo sư Nguyễn Văn Canh về việc nhất quyết phủ nhận tính cách chính thống của nhà đương cuộc Hà Nội – bằng cách từ chối đối thoại với họ. Làm như vậy tôi sợ họ…tủi thân, tội nghiệp! Bề gì thì họ cũng là người Việt mà. Họ chỉ “hơi bị làm sao đó” chút đỉnh, vậy thôi. Chớ không nói phải quấy với họ thì tôi nói với ai. Chả lẽ lại mang chuyện này đi bàn với người Lào hoặc người Miên sao? Cộng sản Miên (chắc chắn) dễ nói chuyện hơn vì họ tương đối tiến bộ và hiểu biết hơn nhiều nhưng mang hiến pháp của Việt Nam ra để thảo luận với nhà nước Cam Bốt thì (hình như ) không hợp cách – và (có lẽ) cũng không hợp…hiến!

Và nếu cứ “chùng chình” mãi, chả may, cảø Ðảng “đang sống (bỗng) chuyển qua từ trần” rồi tôi còn biết thưa thốt với ai nữa? Và như thế, tôi sẽ phải ân hận suốt đời sao? Ðang sống ở thời đại thông tin mà tiếc với nhau một đôi lời nói thì ngó bộ chơi hơi hẹp, và (tất nhiên) không được đẹp.

Tôi chỉ xin được miễn góp góp ý một cách trực tiếp thôi. Lý do, như đã thưa, là bản tính của tôi vốn tế nhị. Nói thẳng tui cũng sợ mích lòng. Bởi vậy, tôi xin được góp ý gián tiếp, bằng cách kể lại một câu chuyện nhỏ – hoàn toàn có thực – mà tôi đã được tận mắt chứng kiến, như sau:

Sau tháng tư năm 1975, như rất nhiều người dân khác đang sống ở Sài Gòn – vì không có gì để làm, và cũng không biết sẽ làm gì cuộc đời mình – nên tôi hay đi lang thang ngoài hè phố. Có hôm, ở một góc đường, tôi gặp một người lính trẻ vội vã bước vào một tiệm sửa đồng hồ – nói không kịp thở:

– May quá, tìm mãi mới ra được chỗ. Cái đồng hồ này tôi mới mua hôm qua, còn mới nguyên, vậy mà hôm nay bỗng không chạy nữa… Mà loại tự động đấy nhá, từ sáng đến giờ lắc mãi đến mỏi cả tay mà cái kim giây cũng chỉ nhúc nhích vài nấc rồi thôi…
Người thợ xem qua cái đồng hồ rồi chán nản lắc đầu:

– Chịu thôi anh ạ.

– Cố giúp cho đi, mấy năm luơng bộ đội của tôi đấy, không phải ít đâu. Bao nhiêu tiền công cũng được. Ðây là món quà mà bố tôi vẫn ước ao mãi đấy.

Khách nói khẩn khoản quá, khiến người thợ mủi lòng:

– Anh bị tụi nó gạt rồi. Ðồ “dởm” mà. Ðồng hồ giả làm sao sửa được.

– Giả à?
– Chớ còn gì nữa!
– Thế bây giờ phải làm sao?
– Thôi bỏ đi, Tám!

Người lính trẻ ngớ ra một chút rồi thẫn thờ bước ra khỏi tiệm, trông thật là buồn. Người thợ sửa đồng hồ ái ngại nhìn theo, trông cũng buồn không kém. Còn tôi, khi khổng khi không, tôi cũng … buồn luôn! Nói theo ngôn ngữ “đương đại” thì tôi thuộc diện … “buồn theo”. Và nỗi buồn “bá vơ” này đã theo tôi hơn một phần tư thế kỷ. Chiều nay, khi ngồi đánh máy vội vã những giòng chữ này để kịp gửi đến Uûy Ban Tu Chính Hiến Pháp – cho kịp thời hạn trình lên Quốc Hội, trước thời hạn 30 tháng 9 năm 2001 – tôi bỗng nhớ đến chuyện cái đồng hồ giả nên lại tiếp tục buồn, buồn mênh mông, và buồn thảm thiết.

Tưởng Năng Tiến




Advertisements

27/01/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: