sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Nước Mắt Mẹ Mìn

Như bao nhiêu đứa bé thơ dại khác, nỗi lo sợ ám ảnh lớn nhất trong tuổi thơ ấu của tôi là những mụ mẹ mìn – những người chuyên môn bắt cóc trẻ con mang bán.  Dù khốn nạn vàvô lương tâm đến thế, mẹ mìn luôn luôn phải tạo ra vẻ hiền lành, nhân từ và tử tế để có thể làm cái nghề ác độc của mình.

Chuyện mẹ mình trong thế giới trẻ con, chắn chắc, đứa bé nào cũng biết. Chuyện mẹ mìn trong thế giới người lớn, chưa chắc, mọi người đều biết.

Ngày 25 tháng 1 măm 99, báo Nhân Dân đăng lại thông  cáo của sứ quán CHXHCNViệt Nam tại Mỹ – về việc ông Trần Trường treo cờ búa liềm ở phố  Bolsa, thành phố Wesminster, theo đó có đoạn như sau: “Việt Nam và Mỹ  đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao và trong năm 1997 đã trao đổi Ðại sứ giữa hai nước. Dựa trên tiêu chuẩn ngoại giao, hai nước đã công nhận Quốc kỳ của nhau. Do đó việc trưng bầy hoặc treo Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở bất cứ nơi nào tại Mỹ là hợp pháp và cần được luật pháp Mỹ bảo vệ. Ðại sứ quán Việt nam quan tâm sâu sắc và cực lực phản đối những hành động bạo lực chống lại ông Trần Trường và đòi rằng, quyền bầy tỏ lòng tin cũng như cuộc sống của ông Trần Trường phải được tôn trọng và bảo vệ“.

Hai hôm sau, báo Nhân Dân số ra ngày 27 tháng 1 đăng thêm lời phát biểu của phát ngôn viên bộ ngoại giao VN là:” Chúng tôi cho rằng  việc làm của ông Trần Trường cần được các cơ quan pháp luật của Mỹ, đặc biệt là chính quyền sở tại nơi ông Trần Trường sinh sống bảo vệ.” Cũng trên số báo này, người ta thấy có ý kiến của một độc giả ẩn danh (hiện đang sinh sống ở Ontario, Canada) về sự kiện trên: “Việc hành hung ông Trần Trường ở thành phố Los Angeles ngày 17 – 1- 99 gây chấn động lương tâm những con người, cả người sống lẫn người chết, đã đấu tranh cho các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận.

Người ngoại cuộc, nếu chỉ đọc báo Nhân Dân trong những ngày vừa qua, đều cảm thấy hài lòng về việc làm của nhà nước CHXHCN Việt Nam và yên tâm cho những người Việt đang sống đời lưu lạc. Họ được chính phủ Việt Nam quan tâm một cách thiết tha, và chính họ cũng sẵn sàng lên tiếng bênh vực cho nhau – khi cần.

Hôm sau nữa – ngày 28 tháng 1 năm 99,  qua sự chuyển giao của nhóm Thông Ðiệp Xanh – nhiều cơ quan truyền thông nhận được điện thư  của Cộng Ðồng Người Việt Ở  Nga. Lá thư “kính báo” về chuyện một người Việt khác, ông Tạ Vân Sơn “đã bị    công an thành phố Mátxcơva thủ đô Liên Bang Nga đánh chết tại đồn 67 vào ngày 14 tháng 1 năm 99, để lại vợ và con nhỏ. Phía công an Nga phủ nhận hành động dã man của mình.”

Ngoài ra, bức thư  còn có nhiều chi tiết liên quan đến đới sống bất an của những người Việt tại Nga khiến cho người đọc phải quan ngại . Xin ghi lại đôi đoạn ngắn:

Chúng tôi không được bảo vệ không những bởi những cơ quan hành pháp và tư pháp nước sở tại mà còn không được bảo vệ bởi chính sứ quán của mình, cơ quan đại diện cho nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam để bảo vệ quyền lợi người Việt Nam tại nước ngoài… Nói chung, người Việt nam sống tại Liên Bang Nga bao giờ cũng có cảm giác sợ hãi và bất an. Sự vi phạm nhân quyền đối với người Việt nam xẩy ra thường xuyên nói nôm na là như cơm bữa.

“Nhưng chúng tôi không có tiếng nói nào, thưa quí vị, cũng như có thể bị truy bức cả phía Nga lẫn phía Việt. Bởi vậy thưa quí vị, chúng tôi gủi đến quí vị bức thư này ngỏ hầu nhờ ảnh hưởng của quí vị ở các nước khác tác động lên các cơ quan chức năng,  đồng thời đưa lên mặt báo để cho nhân loại toàn thế giới và toàn thể cộng đồng người Việt được biết sự ngang ngược và chà đạp nhân phẩm đối với công dân Việt Nam của công an Nga.”

“Xin đừng lãng quên chúng tôi.”

Sự kêu cứu thống thiết của cộng đồng người Việt ở Nga không phải là không có nguyên do. Ông Tạ Vân Sơn bị đánh chết tại nước Nga ba ngày trước khi ông Trần Văn Trường chưng hình ông Hồ Chí Minh ở Hoa Kỳ.  Cho đến nay, báo Nhân Dân và bộ ngoại giao Việt Nam hoàn toàn giữ thái độ im lặng trước cái chết mang nhiều nghi vấn này.

Tương tự,  qua bài báo “Tranh Chấp Lao động Tìm Nguyên Nhân Từ Khác Biệt Văn Hóa” của phó tiến sĩ  Nguyễn Minh Hòa –  trên báo Nhân Dân số ra  ngày 19 tháng 1 năm 99 – độc giả được biết là công nhân Việt Nam làm việc tại Nam hàn thường   xuyên bị hành hung bởi chủ nhân. Tuy nhiên, theo tác giả thì  đây là chuyện thường xẩy ra giữa chủ và thợ ở Ðại Hàn (?).  Riêng với  công nhân Việt Nam, do sự khác biệt văn hóa (dễ gây ra hiểu lầm và ngộ nhận) nên bị chủ nhân đánh đập thường xuyên hơn, thế thôi. Báo Nhân Dân và bộ ngoại giao Việt Nam cũng không đưa ra một lời bình luận nào về vấn đề này.

Người Việt tha hương không phải chỉ sống lưu lạc tại Mỹ, tại Nga, tại Ðức, tại Gia Nã Ðại hay tại Ðại Hàn… Nhật báo Thời Luận – phát hành từ  Los Angeles, số ra ngày 21 tháng 1 năm 99 –  đã trích dẫn từ thống kê của Quỹ Nhi Ðồng Quốc Tế của  Liên Hiệp Quốc Là có “khoảng 10, 000 trẻ gái Việt Nam, tuổi dưới 16, đang hành nghề mãi dâm ở Cam Bốt. Ða số các em này đã bị bán qua ngã biên giới đường bộ.”

Ðó chỉ là chuyện ở biên giới phía Tây.  Có bao nhiêu ngàn bé gái Việt Nam bị đưa ra khỏi nước, và bị mua bán trao đổi như những món hàng ở  những thành phố Trung Hoa ráp gianh phía Bắc  trong mấy năm vừa rồi ?  Ba thập niên qua, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam bỏ nước ra đi bằng biển Ðông và hiện “…có nhiều bằng chứng cho thấy rằng một số thiếu nữ Việt Nam bị bắt cóc trước đây hiện đang sinh sống đau đó tại Thái Lan, Singapore và tại các vùng biên giới Mã Lai” – theo như  ghi nhận của tổ chức Vietnam & the World Foundation, qua chương trình “Xin đừng Quên Tôi” (Forget Me Not). Tổ chức này cũng kêu gọi mọi người nếu  biết bất cứ tin tức nào có liên quan đến cô gái bị hải tặc bắt cóc xin liên lạc với họ ở địa chỉ P. O. Box 4108, Hungtinton Beach, CA 92605 – 4018, USA.

Sao không bao giờ thấy hay nghe một lời kêu gọi giản dị, chân thật tương tự  như  vậy từ báo Nhân Dân hay từ bộ ngoại giao của nước CHXHCN Việt Nam ?

Trở lại chuyện ông Trần Văn Trường.  Chuyện gì  đã xẩy ra cho ông khiến bộ ngoại giao, báo Nhân Dân và độc giả ” ẩn danh” của tờ báo này âu lo đến thế  ?  Ký giả Rachel Tuinstra của nhật báo The Orange County Register đã tường thuật hôm 19 tháng 1 năm 99 như sau:

“Hundred of people, many Vietnamese immigrants, poured into a shopping center Monday to protest a picture of communist leader Ho Chi Minh that had been hung in a video rental store.

By 1 p.m. , as many as 400 people filled the center’s Bolsa Avenue parking lot in Little Saigon, forcing police to close the area off to vehicles, said police Lt. Bill Lewis.

Police convinced Tran Van Truong, 37, the owner of HiTek video store, to close an hour later. As Truong left his store with a police escort, someone hit him in the back of the head. There was no visible injuries, but parademics took Truong to a hospital  and police filed an assault report.”

Xin tạm dịch: “Hàng trăm người, phần lớn là di dân Việt Nam, đổ xô  về một khu thương xá hôm thứ Hai để phản đối một bức hình của lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh treo trong một tiệm cho thuê video. Khỏang 1 giờ trưa, đã có chừng 400 người đến bãi đậu xe của khu Little Saigon khiến cảnh sát phải ngăn không cho xe vào khu vực này nữa, theo lời của trung úy cảnh sát Bill Lewis. Cảnh sát thuyết phục ông Trần Trường , 37 tuổi, đóng cửa tiệm của mình một giờ sau. Ông rời tiệm cùng với một cảnh sát viên, và bị một người nào đó đánh vào đầu. Ông Trường không bị thương tích gì nhưng vẫn được đưa vào bện viện và cảnh sát đã làm phúc trình về việc ông bị hành hung.

Tuy sự việc chỉ có thế thôi nhưng mối quan tâm của nhà nước CHXHCN Việt Nam về  việc quyền tự do của ông Trần Văn Trường bị vi phạm vẫn nên được ghi nhận như là một thái độ cần thiết và đáng quí – nếu nó phát xuất từ tấm lòng chân thật. Ðạo đức thật và đạo đức giả hoàn toàn khác nhau. “Mẹ” và “mẹ mìn” cũng vậy.

Khác với nhà nước Việt Nam, tôi hoàn toàn không có gì quan ngại về quyền tự do và mạng sống của ông Trần Văn Trường. Cả hai, chắc chắn, sẽ được bảo vệ tới nơi tới chốn bởi luật pháp Hoa Kỳ. Tôi chỉ hơi lo cho sức khỏe tâm thần của ông ta. Một người như thế rất dễ trở thành nạn nhân của mẹ mìn. Mà lo như thế, rất có thể, lại là lo xa quá. Ông Trường đã 37 tuổi chứ đâu phải trẻ con.  Ông ta, không chừng, dám làm việc cho công ty mẹ mìn lắm à!

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nội Lực Và Kết Ước

Bể khổ thì vô bờ nhưng nếu biết quay đầu lại sẽ thấy ngay bến giác.
(Thích Ca)

Con đường xuyên Việt, chạy trên rặng Trường Sơn, có tên thường gọi là đường mòn Hồ Chí Minh, và đã có lúc bị mỉa mai là “Ðường Ði Không Ðến” – theo như tựa một cuốn sách của nhà văn Xuân Vũ. Dù tác phẩm này được nhiều người tìm đọc và được tái bản nhiều lần, lời tiên đoán (hay”trù mạt” ) của tác giả – tiếc thay – hoàn toàn … trật lất! Những bộ đội miền Bắc, theo con đường Trường Sơn vào Nam – dù “mười phần chết bẩy còn ba” rồi “chết hai còn một” bởi đói khát, bệnh tật, và bom đạn – đã đi đến đích. Họ vào đến Sài Gòn ngày 30 tháng tư năm 1975.

Trước thời điểm này, ở Hà Nội đã có thành ngữ :

Ðêm đêm cả nhà lo việc nước.
Ngày ngày cả nước lo việc nhà

Sau đó, người Hà Nội đêm đêm vẫn lục đục lo hứng nước. Chuyện “giải phóng miền Nam”, và những thành quả đi kèm, chỉ mang lại phúc lợi cho một nhóm người chuyên “hành nghề cách mạng”, chứ hoàn toàn và tuyệt đối không ảnh hưởng gì đến việc thiếu nước (và thiếu thốn đủ thứ) của người dân miền Bắc. Mọi hứa hẹn – đại loại như – “thắng thằng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng lại gấp năm, gấp muời hơn xưa” thì kể như …xù!

Chiến thắng của đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ làm thay đổi thái độ sống của dân chúng ở mọi miền – kể luôn miền…ngược. Từ đây, mọi người đều sống “thư dãn” hơn chút đỉnh. Chứ cứ nay đánh thằng này, mai đánh thằng kia. Xuơng chất thành núi; máu chẩy thành sông. Công nhân nhà máy dệt Nam Ðịnh “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ ngủ” mà vẫn sản xuất không kịp vải làm khăn tang cho cả nước …thì tội quá; đã thế, chả bao lâu lại hối hả xoay ra vồ vập bắt tay thằng này, vồn vã quàng vai thằng nọ, hân hoan đón tiếp thằng kia… Sao thấy nó kỳ kỳ. Thôi thì cả nước (thống nhất) lo việc nhà, cho nó đỡ phiền.

Tuy là Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải của một quốc gia mà “ngày ngày cả nước ( chỉ ) lo việc nhà “như thế, khi được phóng viên báo Lao Ðộng – số ra ngày 19 tháng 5 năm 99 – hỏi về vốn liếng cho dự án mở đường Trường Sơn, ông Lê Ngọc Hoàn vẫn mạnh miệng tuyên bố: “Xây dựng con đường này, chúng tôi thấm nhuần tư tưởng chủ đạo là phát huy nội lực…”. Tương tự, ông Lê Khả Phiêu, Tổng Bí Thư đảng CSVN cũng mau mắn đề cập đến chuyện “phát huy nội lực” – và giải thích văn hoa rằng đó là ” sức mạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam, đạo đức trí tuệ Việt Nam… để chúng ta vượt mọi khó khăn trong những thời điểm gian nguy nhất…” – khi trả lời phỏng vấn của tờ Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày 16 tháng 6 năm 2000.

Kêu gọi, động viên dân khí, dân chí, nội lực toàn dân – nói một cách công tâm – là chuyện nhà cầm quyền nào cũng phải làm khi hữu sự. Ðiều đáng nói là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rất hay kiếm chuyện nên họ “hữu sự” hoài hoài. Kể từ khi giành được quyền bính đến nay, họ chưa bao giờ ngưng tìm cách đưa đất nước và dân tộc Việt vào những hoàn cảnh “khó khăn” và những “thời điểm gian nguy” – nếu nói theo ngôn ngữ của đồng chí (đương kim) Tổng Bí Thư. Họ lôi kéo dân chúng từ chiến dịch này sang chiến dịch khác, hết cuộc chiến này qua cuộc chiến kia. Tạo ra gian khổ vốn vẫn là sở trường của người cộng sản, và kẻ thù thì (ôi thôi) họ chưa bao giờ thiếu! Ðã có lúc, văn công của họ kêu gọi mọi người:

– Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai…

(Tố Hữu)

Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

(Phạm Tiến Duật)

Theo dự đoán được chính thức công bố, hiện thời trên con đường Trường Sơn – nơi đã có lúc được thi vị hoá là “đẹp lắm”, và khiến ”lòng phơi phới dậy tương lai”- còn vương vãi đâu cỡ chừng … 300.000 ( ba trăm ngàn) bộ xương bỏ sót. Dù chiến tranh đã kết thúc hơn một phần tư thế kỷ, đảng và nhà nước vẫn chưa có thì giờ để mắt tới mớ hài cốt vô dụng này. Cộng sản Việt Nam lại đang bận động viên cả nước vào chuyện khác: chuẩn bị mở một đường mới – con đường mà nói theo nguyên văn của Chủ Tịch Nước Trần Ðức Lương (vào hôm 5 tháng 4 năm 2000, nhân Ngày Lễ Khởi Công Xây Dựng Ðường Hồ Chí Minh): “…là tuyến đường Bắc Nam hiện đại, huyết mạch của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá…” .

Cùng ngày này – theo như tường thuật của phóng viên Thanh Thủy và Lê Anh Tuấn của báo Lao Ðộng, số ra ngày 6 tháng 4 năm 2000 – vào lúc 11 giờ 15 phút, Thủ Tướng Phạm Văn Khải thay mặt đảng phát biểu như sau:”Các đơn vị mở đầu cuộc tiến công xây dựng tuyến đường phải thấy rõ đây là vinh dự, là trách nhiệm, là cơ hội…” Trách nhiệm mẹ rượt gì, và cơ hội cho ai thì không nghe ông Khải nói; hoặc giả, ổng cũng có nói láp giáp gì đó nhưng hai vị phóng viên nhà nước – có tên vừa nêu – đã giả dụ rằng ai cũng biết hết trơn rồi, khỏi cần phải ghi lại cho dài dòng và tốn giấy nên chỉ để ba chấm lửng vậy thôi!

Mà tình thiệt thì người đui cũng phải thấy rằng đây là “trách nhiệm” của dân, và là “cơ hội” của qúi vị cán bộ đảng viên đảng CSVN. Khi ông Thủ Tướng của một quốc gia mà nạn tham nhũng được xếp thứ nhì Châu Á đã nói đây là “cơ hội” thì qúi vị cán bộ dưới quyền phải hiểu ngay là … cơ hội bằng vàng, vào lúc chợ chiều, chớ không phải chuyện chơi. ïCon đường tốn kém bạc tỉ mà, và là đô la đó nha chớ không phải là cái thứ tiền thổ tả như tiền Miên, tiền Lèo hay tiền của bác Hồ đâu.

Cũng cứ theo như tường thuật của phóng viên Thanh Thủy và Lê Anh Tuấn – qua bài báo dẫn thượng – hôm làm lễ mở đường có một cụ già tên Di, tuổi đã ngoài 70, quê ở Vạn Trạch, đi bộ cả chục cây số đến nơi tham dự, và đã rưng rưng nói:’’Gần hết đời người hôm nay bầy tui vui quá. Tui cố ráng sống thêm vài năm nữa để được đi một đoạn trên con đường vĩ đại, mang tên cụ Hồ…”

Thiệt, nghe mà muốn rớt nước mắt. Nói tóm lại thì cái gì có dính tới bác Hồ là đương nhiên vĩ đại, vậy thôi. Ðường Trường Sơn không thể ra ngoài thông lệ đó. Khi còn chiến tranh nó là “huyết mạch” để nuôi dưỡng cuộc chiến, bây giờ nó “sắp” trở thành “huyết mạch của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá.” Thời nào thì nó cũng vĩ đại và cũng cần đến máu xương hay mồ hôi nước mắt của người dân. Chỉ có chút dị biệt là thời nay những nghệ sĩ cỡ như Tố Hữu, Phạm Tiến Duật đã bắt đầu biết ngượng nên qúi ông Tổng Bí Thư, ông Thủ Tướng, Chủ Tịch Nước và Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải … đành phải “động viên xuông”, chứ không còn văn thơ và ca nhạc đi kèm nữa.

Thiếu phần “văn nghệ phụ diễn” tuy buồn nhưng không kẹt, điều kẹt nhứt là e rằng dân Việt không còn sẵn lòng để nhận “trách nhiệm” và “vinh dự” do đảng giao phó nữa. Sức nguời có hạn thôi chớ bộ ? Nội lực ở đâu ra mà “phát không” liền liền như vậy, mấy cha?

Người ta không thể đo dân chí, dân khí và ý thức công dân của một dân tộc như đo một một bình dầu hay một chai nước mắm. Tuy nhiên, có nhiều hiện tượng xã hội được xem như những dấu chỉ khả tín về “nội lực dự trữ” của dân tộc đó. Xin đơn cử vài thí dụ.

Theo phúc trình của Vietnam Investment Review (ngày 10 tháng 5 năm 2000) thì “trong số 2.291 trẻ em bị bắt vì hành nghề mãi dâm ở Svay Pak, ngoại ô Phnom Penh, có đến 78 phần trăm là người Việt.” Con số này đễ gây cảm tưởng rằng bán dâm là một nghề “dễ sống” tại Nam Vang. Sự thực không phải vậy đâu. Nhật báoViệt Báo xuất bản tại California Hoa Kỳ (số ra ngày 16 tháng 7 năm 2000) có ghi lại chi tiết về giá cả như sau: “Một trinh nữ 14 tuổi giá 5 chỉ vàng, tương đương với hai trăm Mỹ Kim, ở Kampuchea.”

Tưởng cũng cần nói thêm là mục đích của việc trao đổi mua bán không chỉ giới hạn vào chuyện thỏa mãn tình dục mà còn có giá trị “cao” về mặt y tế nữa. Cũng như nhiều dân tộc chậm tiến khác ở Phi Châu và Á Châu, nguời Miên, người Tầu và người Thái tin rằng họ có thể “sang” bệnh liệt kháng cho một trinh nữ – sau khi giao hợp! Ðó là lý do tại sao trẻ em Việt Nam, kể cả những đứa chỉ tay không có đường xuất ngoại, được “xuất cảng” ào ạt qua những nước láng giềng. Dù vẫn bị mang tiếng là những kẻ tán tận luơng tâm, khách quan mà nói, dịch vụ bán dâm kiểu này – dường như – không nằm trong chủ trương chính thức của cộng sản Việt Nam.

Thêm một việc nữa, cũng chưa chắc đã nằm trong quốc sách, là CSVN cố tạo ra một xã hội mà mọi người phải ăn cắp để sống còn – như đã được ghi nhận bởi nhà văn Bùi Ngọc Tấn:”… không ăn cắp khó mà tồn tại…Ăn cắp để sống, để đỡ đói. Ăn cắp để làm giàu. Ðể ngoi lên một địa vị cao sang. Càng ăn cắp càng giàu có, càng được mọi nguời kính trọng. Tệ hại nhất là ăn cắp, nhưng vẫn dậy dỗ mọi người chống ăn cắp, vẫn thuyết giảng lý tưởng một cách rất thành thật, thiết tha. (Chuyện Kể Năm 2000. Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh xuất bản tại California năm 2000, trang 93).

Một nhân sĩ khác, ông Hà Sĩ Phu, cũng đưa ra nhận xét tương tự về nét đặc trưng của những người cùng thời với mình:”Không có nhân cách nguời ta vẫn sống, thậm chí còn sống béo tốt hơn”. ( “Chia Tay Ý Thúc Hệ.” Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản năm 96, trang 207).

Gần đây nhất, bản tin của AFP – dưới tiêu đề “Vietnamese provincial official sacked for corruption” – đánh đi ngày 30 tháng 8 năm 2000, có ghi nhận như sau: “Những trường hợp tham nhũng đang gia tăng nhiều lần trong những năm gần đây ở cả cấp chính phủ trung ương của cả hai miền, gây tổn thất hàng trăm triệu Mỹ Kim cho Việt Nam, một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới (Corruption cases have multiplied in recent years in both central government, causing hundreds of million dollars to Vietnam, one of the the world’s porest nation).

Hàng trăm triệu Mỹ Kim ăn cắp này cứu vớt được bao nhiêu bé gái Việt Nam đang bán mình ở Cao Miên ? Trong tương lai gần – khi thân tàn ma dại trở vế cố quốc, cùng với vi khuẩn HIV – các em sẽ truyền bệnh cho bao nhiêu nguời khác nữa ở quê nhà? Ngân sách quốc gia sẽ cần bao nhiêu triệu hay tỉ Mỹ Kim (nếu có) trong lãnh vực y tế để trả giá cho 200 đô la mà thân nhân các em đã nhận được hôm nay ?

Dù bị đe doạ thường xuyên, trước thảm trạng của đồng bào, giới trí thức Việt Nam phải đành lên tiếng. Qua bản Kết Ước 2000, bản văn đúc kết một số nhận định chung của giới nguời này về tình hình đất nước, có đoạn nguyên văn như sau: “Thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba đến vào giữa lúc mà xu hướng toàn cầu hóa đã trở thành áp đảo. Trong kỷ nguyên mới này, cũng là kỷ nguyên của sáng kiến và sự hiểu biết, các quốc gia mà biên giới được coi như hàng rào ngăn chận đà tiến chung và những giá trị phổ cập của loài người sẽ không còn lý do tồn tại và sẽ không thể tồn tại. Các quốc gia như thế sẽ không được sự hưởng ứng của người dân, sẽ không động viên được nội lực, sẽ thua kém, sẽ bị giải thể trong lòng người và sau cùng sẽ tan rã.”

“Chúng tôi là những người Việt Nam cùng chia sẻ sự lo âu trước sự tụt hậu của đất nước, trước sự thờ ơ của quần chúng và sự thiếu tầm nhìn của những người lãnh đạo đất nước…sự kiện người dân mất lòng tin vào ý thức cộng đồng, mỗi người tự tìm một giải pháp cá nhân là rất nguy hại cho đất nước và cho mọi ngừơi. Chúng tôi muốn giữ đất nước mà ông cha đã đổ mồ hôi và xương máu tạo dựng cho con cháu. Chúng tôi muốn để cho thế hệ mai sau một đất nước đẹp hơn, đáng yêu và tự hào hơn.”

Trong một quốc gia mà “ngày ngày cả nước lo việc nhà” [nghĩa là ý thức cộng đồng và xã hội công dân (civil society) kể như đã… tiêu tùng] mà vẫn cứ thản nhiên kêu gọi ”động viên nội lực toàn dân” thì quả là một thái độ rất “thiếu tầm nhìn của nhiều người lãnh đạo đất nước… trước sự thờ ơ của quần chúng…”

Nhận xét vừa nêu của giới trí thức Việt Nam, về những người hiện đang nắm quyền bính ở xứ sở này, nói tình ngay, hoàn toàn không có gì quá đáng – ít nhất thì nó cũng không quá đáng đến độ phải ghép nhau vào tội …phản quốc! Bằng tội danh này, theo điều luật 78 của Bộ Luật Hình Sự hiện tại ở Việt Nam, những người “bị tình nghi” có liên quan xa gần đến việc soạn thảo bản Kết Ước 2000 ( như qúi ông Mai Thái Lĩnh, Hà Sĩ Phu…) có thể sẽ bị kết án tử hình.

Thiệt, nghe mà thấy ghê. Giết người sao mà dễ ợt, vậy kìa? Mai Thái Lĩnh, Hà Sĩ Phu… – rất có thể – cũng đã đi tầu suốt nếu như vào ngày 19 tháng 5 vừa qua một số nhân sĩ Việt Nam đã không khẳng khái lên tiếng phê bình chuyện ghép tội phản quốc cho hai ông là việc làm “tùy tiện, vô căn cứ”, và đã làm đơn yêu cầu ông Chủ Tịch và các vị Ðại Biểu Quốc Hội CHXHCNVN khoá X cứu xét lại vấn đề này.

Hơn ba tháng sau, qua nhật báo Người Việt – phát hành từ California Hoa Kỳ, số ra ngày 8 tháng 9 năm 2000- độc giả lại đọc được tờ đơn thứ hai của những nhân sĩ Việt Nam, chất vấn quốc hội xứ sở này vì sự im lặng (hay hèn hạ) khó hiểu của họ. Nội dung bức thư , có đoạn như sau:

Căn cứ luật khiếu tố tháng 12 năm 98, các điều 9, 34, 36, 66, 67, 85 và 97 đã qui định rõ ràng trách nhiệm của QH và đại biểu QH là :”Giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo…Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu QH khi nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền và đôn đốc theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời báo cho người khiếu nại, tố cáo biết việc chuyển đơn đó…chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận đơn tố cáo…”

“Hiến pháp và luật khiếu tố đã qui định như vậy. Tuy nhiên, từ ngày gửi đơn khẩn cấp đề ngày 19/5/2000 tới nay đã được 3 tháng giời rồi mà chúng tôi không hề nhận được thông tin nào từ phía QH, như pháp luật qui định. Chúng tôi yêu cầu QH thực thi đúng hiến pháp đã qui định và trả lời trên báo chí.”

Luật pháp (nói chung) hay tư pháp và lập pháp (nói riêng) chỉ là đồ trang sức, không mất tiền mua, của đảng CSVN. Ðòi hỏi quốc hội của xứ sở này phải “giám sát việc thi hành pháp luật…như hiến pháp đã qui định” chỉ là điều giễu cợt , nó cũng giễu cợt như chuyện bắt mấy con rối nước phải biết suy nghĩ và hành xử như người.

Cơ quan lập hiến thường là nơi qui tụ những tinh hoa của một quốc gia. Riêng ở Việt Nam (bây giờ) thì khác. Nó là nơi tập họp những phần tử đốn mạt nhất của dân tộc này. Cái gọi là nghị định 31/CP, ban hành ngày 14 tháng 4 năm 97, sẽ mãi mãi là một vết chàm trong lịch sử luật pháp Việt Nam vì nó cho phép các cơ quan hành pháp mọi cấp được quyền quản chế bất cứ người dân nào bị nghi ngờ rằng có thể phương hại đến an ninh chung mà không cần xét xử. Oâng Hà Sĩ Phu đã ở “diện quản chế” này nhiều năm. Mới đây, cùng với ông Mai Thái Lĩnh, ông “được” chuyển qua “diện tử hình treo” vì cả hai bị tình nghi…phản quốc – như đã trình bầy.

Kẻ viết những giòng chữ này chỉ là một thường dân nên không thể viện dẫn luật một cách rành rẽ và cũng không có khả năng tự chế để có thể xử dụng thứ ngôn ngữ khiêm cung và nhã nhặn của giới nhân sĩ như qúi ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Trần Dũng Tiến – những nhân vật đứng tên trong cả hai lá đơn vừa dẫn; tuy nhiên, trong tinh thần “thất phu hữu trách” nên cũng xin được mạo muội nêu lên ý kiến thô thiển như sau.

Thái độ của đảng CSVN đối với Hà Sĩ Phu và Mai Thái Lĩnh, cũng như đối với tất cả những nhân vật bất đồng chính kiến khác, nếu nói theo ngôn ngữ của đời thường, chỉ là lối tráo trở của những kẻ “vừa đánh trống vừa ăn cướp”. Giả dụ rằng chính Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh…có tham dự vào việc soạn thảo Bản Kết Ước 2000 đi nữa, không lẽ ước mong ” để lại cho các thế hệ mai sau một đất nước đẹp hơn, đáng yêu hơn và đáng tự hào hơn” – theo như ý nguyện của họ qua bản Bản Kết Ước 2000 – là một thứ tình cảm hay hành vi phản quốc hay sao ?

Vậy chứ xô đẩy cả chục triệu người, thuộc mấy thế hệ kế tiếp, vào những cuộc chiến hoàn toàn không cần thiết không lẽ là một cách bầy tỏ lòng trung thành với tổ quốc ? Ðưa cả nước đến mức khánh tận toàn diện về kinh tế cũng như luân lý và đạo đức thì gọi đó là tội trạng gì ? Phá nát môi trường sống của hết một giang sơn, “đất nước mà ông cha đã đổ mồ hôi xương máu tạo dựng” lại hành vi yêu nước hay sao ?

Hà khắc, bạo ngược – dù đi kèm với chính sách ngu dân – rồi cũng có lúc mang lại những hậu quả tai hại khó lường. Nó đã làm bật dậy nội lực của người dân, như đã diễn ra ở Thái Bình vào tháng 6 năm 97 (và vẫn âm ỉ tiếp diễn cho đến bây giờ), ở Nam Ðịnh vào tháng 6 năm 2000, và gần đây nhất , ở Ðắc Lắc – bởi đồng bào Thượng, vào ngày 8 tháng 8 năm nay. Nội lực tự phát, chắc chắn, vũ bão hơn thứ “nội lực được động viên”. Người ta đang chờ xem khả năng đàn áp và khủng bố của đảng CSVN còn “mạnh” đến cỡ nào trước nguồn nội lực mới của người dân Việt, trong bối cảnh mới và thời điểm mới của lịch sử toàn cầu – khi mà chuyện “giết người bịt miệng” đã trở thành một điều bất khả.

Bể khổ thì vô bờ, như Phật đã dậy tự ngàn xưa, và nếu buông đao đồ tể thì có thể thành Phật được. Thời của đức Thích Ca chưa có cái thứ người như người cộng sản Việt Nam nên, kể như, ngài đã “hớ” (ít nhất) một câu. Câu thứ hai, rất có thể, Phật cũng “hớ” luôn là “cửa thiền luôn rộng mở.” Nói thiệt tui quen biết rất nhiều người vô cùng chủ quan nhưng chưa thấy ai mà “khinh địch” như đức Phật. Phải chi cửa thiền chỉ mở he hé thôi thì đâu đến để lọt vô được cái thứ sư sãi quốc doanh.

Tui không tin là những ủy viên trung uơng đảng cộng sản Việt Nam có thể thành Phật được dù chút xíu nữa họ buông đao, và buông luôn cả búa liềm; tuy nhiên, tôi tin rằng họ có thể rút lui và chết trong an bình nếu làm như vậy. Và như vậy, may ra, nước Việt mới tránh được một cuộc tương tàn mà lần này thì máu của mọi người đều đổ – kể cả những người chỉ vào đảng (hôm qua) cho đỡ đói.

Tưởng Năng Tiến
(một thường dân Phật tử, mới qui y tuần rồi)

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sử Dụng Và Lạm Dụng

Việc ông Trần Trường treo cờ của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và chưng hình ông Hồ Chí Minh – vào tháng Giêng năm 99, ở phố Bolsa , thị xã Westminster, California Hoa Kỳ – gây phẫn nộ cho cộng đồng người Việt nơi đây, rồi ông ta bị bắt sau đó không lâu …mọi nguời đều biết, và đều tuởng đã chìm vào quên lãng.

Gần một năm sau, ngày 3 tháng 2 năm 2000, ông Trường đột ngột xuất hiện cùng với luật sư của mình, trong một cuộc họp báo, cho biết đã nộp đơn lên toà thượng thẩm của quận Orange County, để kiện thành phố Westminster cùng nhiều nhân vật khác , kể cả viên cảnh sát trưởng của thành phố này, vì đã “vi phạm quyền tự do ngôn luận của ông ta” (violating his free speech rights), và đòi bồi thường bốn triệu Mỹ Kim – theo như tường thuật của phóng viên Mai Trần của nhật báo Los Angeles Times ( số ra ngày 4 tháng 2 năm 2000, phát hành từ Los Angeles).

Cùng thời điểm ông Trường bị vào tù vì tội sang băng lậu. Tại Việt Nam, vào ngày 7 tháng 3 năm 99, một nguời đàn ông khác tên Lê Văn Hạnh cũng bị bắt khi đang rải đinh trên đoạn đuờng từ cầu Rạch Chiếc đến ngã tư RMK. Ông Hạnh cư trú tại làng Phước Long A (Quận IX), làm nghề vá vỏ xe, vì không kiếm đủ ăn nên đã dùng căm xe đạp cắt khúc, đập dập hai đầu và bẻ cong thành hình chữ Z, rồi đem rải trên xa lộ cho xe cán phải xẹp lốp để có thêm khách hàng. Toà án nhân dân huyện Thủ Ðức (Việt Nam) kết án ông ta tám năm tù, về tội phá hoại tài sản của nhân dân – theo tin nhật báo Thời Luận, phát hành từ Los Angeles, số ra ngày 10 tháng 7 năm 99.

Không hiểu khi bị bắt thì ông Hạnh cầm mấy cái đinh trong tay hay còn dấu bao nhiêu cái đinh trong túi, tang vật dùng để “phá hoại tài sản của nhân dân”, khiến ông ta phải lãnh án đến 8 năm tù ở. Riêng ông Trường – theo ký giả Catherine K. Enders, của nhật báo The Orange County Register, số ra ngày 4 tháng 2 năm 2000 – đã bị cảnh sát lục soát tiệm và tịch thu 147 đầu máy, cùng với 15.000 ngàn băng video, vì tin rằng ông đã phạm tội sang băng lậu. Ông Trường chỉ bị giam 90 ngày, đóng 200 đô la tiền phạt …; tuy thế, luật sư của ông ta cũng đã khiếu tố bản án này.

Ðã tám tháng trôi qua ( nếu tình từ ngày 24 tháng 6 năm 99, ngày mà toà án nhân dân huyện Thủ Ðức kết án ông Lê Văn Hạnh 8 năm tù về tội rải đinh cho xe đạp cán) nhưng “chưa” thấy chính cá nhân ông Hạnh hay luật sư của đương sự, nếu có, kháng cáo hoặc khiếu tố gì về bản án nặng nề này. Trong tương lai (rất không gần), hơn bẩy năm nữa, nếu “học tập tốt”, ông Lê Văn Hạnh mới được “tạm tha” cho về để địa phương quản lý.

Ðến lúc đó ông ta sẽ đâm đơn kiện huyện Thủ Ðức và nhân viên công quyền ở nơi đây hay không…(e) là chuyện còn hơi sớm để bàn. Và cũng chả ai “dám” bàn luận về một chuyện “phạm thượng” như thế, ở Việt Nam. Nơi đây – theo truyền thống, từ nhiều thập niên qua – người ta giữ im lặng trước những cảnh sống thê thảm, tả tơi như cái thứ đời sống của ông Lê Văn Hạnh. Gần đây, những mảnh đời tối tăm mù mịt như trưòng hợp của ông Hạnh mới được đưa lên mặt báo để…mua vui! Chuyện rải đinh cho xe đạp cán, với bản án tám năm tù, được báo chí trong nước mô tả một cách hết sức bình thường y như chuyện “xe cán chó”. Không ai thèm quan tâm đến chuyện hệ thống pháp lý mù loà và bất nhân của nhà nước CHXHCNVN đã cán ngang qua cuộc đời (vốn đã te tua và bầm dập) của ông Lê Văn Hạnh. Cũng không mấy ai để ý đến cái cách trình bầy vấn đề theo kiểu “cả vú lấp miệng em – mồm năm mép mười – vừa đánh trống vừa ăn cướp”, đổ diệt mọi tội lỗi cho nạn nhân (blame the victim) của những nguời đang cầm bút ở Việt Nam .

Chuyện (dài) của ông Trần Trường thì khác hẳn. Trong hai tháng liền, từ tháng một đến tháng ba năm 99, ông Trường là ngưòi Việt Nam đuợc giới truyền thông khắp nơi nhắc đến nhiều nhất. Sau khi Trần Trường bị bắt, nhật báo The Orange County Register còn cử phóng viên Phan Trần Hiếu, và nhiếp ảnh viên Eugeune Garcia về Việt Nam, đến tận nơi ông Trường sinh trưởng, để tìm hiểu “thân thế và sự nghiệp” của ông ta – nhân vật (mà theo họ) đã là một trong những biểu tượng của “cội nguồn bất an” trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Rồi ngay sau khi ông Trường tổ chức họp báo vào ngày 3 tháng 2 vừa qua, hai nhật báo lớn nhất của miền Nam California – Los Angeles Times và The Orange County Register – đều có bài viết về chuyện này (như đã dẫn) và đăng hình ảnh của ông ta. Ông đứng chống nạnh, vẻ mặt phởn phơ, bên ngoài toà án của thành phố Santa Ana, ve áo vét có gắn huy hiệu và cờ búa liềm của nuớc CHXHCNVN – như một hình thức khiêu khích và thách thức.

Theo phóng viên Phan Trần Hiếu, , ông Trần Trường sinh năm 1960 tại một làng quê nghèo khốn. Gia đình ông di cư từ miền Bắc Việt Nam vào miền Nam lánh nạn cộng sản năm 1954. Hiểm hoạ cộng sản lan đến miền Nam hai muơi mốt năm sau đó, năm 1975. Năm năm sau, năm 1980, khi mà bố mẹ ông Trường không còn đủ sức để chạy khỏi hiểm hoạ của cộng sản nưã thì ông ta cùng với anh chị em đã vượt biển để lánh nạn cộng sản thêm một lần nữa.

Ông Trường đã tìm được tự do ở California, Hoa Kỳ và đang dùng quyền tự do để trưng bầy những biểu tượng của cái chế độ đã khiến cho gia đình ông ta (từ thế hệ này đến thế hệ khác ) phải chốn chạy và ly tán. Theo ông Trường , việc làm của mình mới đích thực có ý nghĩa của sự tự do và ông muốn dậy cho cộng đồng nguời Việt về điều đó. “What I want is to teach my community what real freedom means”- nếu ghi nguyên văn theo phóng viên Phan Trần Hiếu, trong cuốn Roots Of Unrest, do nhật báo The Orange County Register xuất bản năm 99.

Ở Việt Nam, ông Lê Văn Hạnh không phải là nạn nhân duy nhất bị qui chụp là thủ phạm phá hoại tài sản nhân dân. Chính xác hơn, những kẻ bất hạnh như ông Hạnh chỉ là nạn nhân của một chế độ chỉ có khả năng phá hoại cuộc sống của mọi con người (không may) sống dưới sự cai trị hà khắc và bất nhân của nó. Ðây cũng là điều mà những người cầm quyền ở Việt Nam , đã sử dụng cũng như lạm dụng quyền lực của họ trong lãnh vực truyền thông, cố che dấu đến cùng.

Tuơng tự, ông Trần Trường cũng không phải là nguời Việt tị nạn duy nhất đang sử dụng và lạm dụng quyền tự do ngôn luận của mình nơi những phần đất bao dung cho ông đi lánh nạn.

Ở miền Bắc California Hoa Kỳ, nơi có đông đảo người Việt tị nạn định cư, nơi đuợc mệnh danh là “thung lũng tình thương” đã biến thành “thung lũng hận thù” bởi cách xử dụng quyền tự do ngôn luận của giới truyền thông tại địa phương này – theo như ghi nhận của Lâm Văn Sang, trong mục Sổ Tay Cộng Ðồng (Việt Mercury, phát hành tại San Jose, California, số ra ngày 4 tháng 2 năm 2000),.

Xử dụng (và lạm dụng) những phuơng tiện truyền thông để ném nón cối vào mặt nhau , để “đánh vào kẻ thù thì ít đánh vào anh em ta thì nhiều” (nếu trích dẫn nguyên văn lời phát biểu của chính những người trong cuộc, qua bài báo vừa dẫn), và biến những sinh hoạt cộng đồng thành những hoạt động “gió tanh mưa máu” không phải chỉ xẩy ra ở Thung Lũng Hoa Vàng của miền Bắc California hay ở phố Bolsa của miền Nam tiểu bang này. Nó xẩy ra hầu như ở khắp mọi nơi có nguời tị nạn đi tìm tự do quần tụ, và đã xẩy ra từ lâu lắm rồi.

Gần đây, cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật của ngành truyền thông, sự lạm dụng quyền tự do ngôn luận trong cộng đồng nguời Việt hải ngoại, nhờ thế, cũng tiến bộ theo. Qúi vị văn thi sĩ – “những người hướng dẫn dư luận” – đã bắt đầu mang đời tư của nhau lên…lưới! Cùng với sự nâng cấp của kỹ thuật truyền thông, nguời ta ghi nhận sự “xuống cấp” thê thảm, nếu không muốn nói là sa đọa, của những nguời cầm viết Việt Nam ở hải ngoại.

Khi qúi vị thức giả thuộc hàng trưởng thượng, những danh gia, những danh sĩ, những yếu nhân của cộng đồng… còn chưa biết xử dụng quyền tự do ngôn luận của mình cho phải cách thì thái độ trân tráo, lố bịch của môït thanh niên Việt Nam quê mùa thất học như “cậu” Trần Trường – nghĩ cho cùng – không có gì đáng trách. Cũng chả có gì là ngạc nhiên (nếu như) Trần Trường đang đuợc xử dụng như một con rối bởi chính kẻ thù chung của tất cả chúng ta, với hậu ý mà không cần tinh mắt lắm vẫn có thể nhận ra.

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Viết Báo Và Viết Láo


Ngày 11 tháng 3 năm 2001, tại Cung Văn Hóa Lao động Hữu Nghị Việt Xô, ở Hà Nội có tổ chức một buổi “Mít-tinh trọng thể kỷ niệm 50 năm báo Nhân Dân.” Tờ báo này được giới thiệu “vài nét” trên internet (www.nhandan.com) như sau:

– Tiếng nói của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

– Cơ quan Trung ương của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Mỗi ngày phát hành 180 nghìn số, báo Nhân Dân cuối tuần 110  nghìn số mỗi kỳ, báo Nhân Dân hàng tháng 130 nghìn số mỗi kỳ. Báo được in tại 7 địa điểm khác nhau: Hà Nội, Nghệ An, Ðà Nẵng, Cần Thơ, Bình Ðịnh, Ðắc Lắc, TP Hồ Chí Minh.

Tờ báo tầm vóc cỡ đó mà ông Nguyễn Ngọc Lan, khi trả lời phỏng vấn của đài Radio France International , dám biểu là thiên hạ không ai thèm đọc báo Nhân Dân. Họ chỉ dùng nó vào những việc gia dụng khác:” I was reminded of the time when there was a severe shortage of paper across the country. People literally lined up daily to buy the inexpensive Nhan Dan for household uses.”(Robert Templer, Shadows And Wind, Penguin Books, New York, 1988, 165). Dùng vô chuyện gì khác thì (dù bị ra tấn) ổng cũng nhất định không chịu nói.

Dân phương Tây không mấy khi nói năng úp mở hay “bóng và gió” theo kiểu đó. Tác giả cuốn sách vừa dẫn, ông Robert Templer – sau ba năm làm đặc phái viên cho Agence France-Press tại Việt Nam, từ 1994 đến 1997 – đã thản nhiên tuyên bố :” Dân Việt mua báo Nhân Dân để dùng trong cầu tiêu, chớ còn tin tức thì họ nghe từ chương trình phát thanh tiếng Việt của đài BBC, RFI và VOA. (Vietnamese may have found Nhan Dan useful in the bathroom, but for information they turned to their radios and the Vietnamese language services of BBC, RFI and VOA).

Tôi hoàn toàn và tuyệt đối không quan tâm gì đến cái gọi là báo Nhân Dân; tuy vậy, không hiểu sao thấy ái ngại quá cỡ cho những người sử dụng và những kẻ làm ra tờ báo bất hạnh này. Về phía người tiêu thụ, tôi tin rằng những cuộc nổi dậy ở Việt Nam trong vòng mấy năm vừa qua (rất có thể) đã ờ diễn ra ở một tầm mức ít nghiêm trọng hơn – nếu số lượng giấy khổng lồ dùng in báo Nhân Dân được chế biến thành loại giấy mịn màng hơn để dùng cho việc đi cầu. Dân chúng, chắc chắn, sẽ đỡ bất mãn hơn nếu (một phần) cơ thể của họ không bị tra tấn hàng ngày bởi những tờ giấy bẩn thỉu và thô nhám như giấy báo Nhân Dân. Về phía người sản xuất, tôi cũng tin là họ sẽ cảm thấy được an ủi phần nào nếu như biết “công trình tim óc” của mình được sử dụng vào một việc khác, ngoài nhà vệ sinh.

Quan niệm trên, tất nhiên, không chắc đã được sự đồng tình của mọi người. Trong một đất nước mà dối trá đã trở thành quốc sách thì làm báo có cần gì đến tim với óc ? Cựu phó biên tập báo Nhân Dân, nhà báo Bùi Tín đã tâm sự như sau:”Có người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân Dân chỉ có tin dự báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó.” (Bùi Tín, Hoa Xuyên Tuyết, 2d ed. Turpin Press, 1994, 42). Như thế nghề làm báo, trong trường hợp này, chỉ là “nói láo ăn tiền”. Có tốn công sức hay mệt nhọc chi đâu mà cần an ủi ?

Suy nghĩ như thế e hơi giản lược. Dối trá, trơ tráo, tôi tin rằng, không phải là một thái độ sống dễ dàng hay thoải mái gì – cho bất cứ ai? Cứ đọc thử bài phóng sự sau đây, được in trên báo Nhân Dân số ra ngày 8 tháng 3 năm 2001, mới thấy sự khổ tâm của những người làm báo Ðảng:

“Dư Luận Phê Phán Những Việc Làm Sai Trái của Ông Nguyễn Văn Lý”

Sau khi báo Nhân Dân đăng bài viết về hành vi tiếp tay cho các thế lực thù địch của linh mục Nguyễn Văn Lý (số ra ngày 6- 3), đông đảo bạn đọc cả nước đã gọi điện thoại, gửi thư hoan nghênh báo kịp thời phê phán luận điệu, hành động sai trái của linh mục Nguyễn Văn Lý, đồng thời vạch rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của linh mục này.

Phóng viên báo Nhân Dân xin ghi lại một số ý kiến của đồng bào giáo dân. Nội dung như sau:

Gặp chị Bùi Thị Thìn là giáo dân trước cửa nhà thờ giáo xứ Ða Minh 190 Lê Văn Sĩ, phường I, quận Phú Nhuận (TP Hồ Chí Minh) tôi hỏi chị biết chuyện một linh mục tên Nguyễn Văn Lý ở Huế gửi lời chứng cho quốc hội Mỹ tiếp tay cho các hoạt động của những kẻ thù địch can thiệp vào nội bộ của nước Việt Nam ta ? Chị nói:

– Tôi có được nghe qua báo chí và giáo dân xì xào.

– Ý kiến của chị việc này thế nào ?

– Tôi chẳng hiểu thế nào mà Quốc hội Mỹ lại cứ “xía” vào việc của người khác. Còn ông linh mục Lý sao lại đi làm cái việc phản dân, phản nước như vậy ? Cứ xem ở Sàigòn này, Nhà thờ Ðức Bà ngay trước cửa Hội trường Thống Nhất có phải rào chắn gì đâu, có ai phá phách cấm đoán ai tự do tín ngưỡng gì…

Ðược hỏi về chuyện ông linh mục Nguyễn Văn Lý ở Huế gửi ‘lời chứng’ cho Quốc hội Mỹ, ông Mai Phúc Kiến, một giáo dân xứ Tân Việt, rất phẫn nộ cho rằng việc làm của ông Lý chẳng khác gì kẻ phản bội đất nước. “Lời chứng” của ông Lý hoàn toàn xuyên tạc, xúc phạm đất nước, xúc phạm giáo dân, vì từ khi cách mạng đến giờ ở Việt Nam chưa bao giờ có chuyện nhà nước đàn áp, cấm đoán tôn giáo.

Ông Mai Văn Hạp, Trùm phó họ đạo Mác-ti-nô, ở phường 13, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh nói:”Là một giáo dân luôn sống Phúc âm trong lòng dân tộc, luôn mong muốn góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam đoàn kết, giàu mạnh, văn minh, dân chủ, tôi cảm thấy bị xúc phạm trước những điều mà ông Lý đã lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc”

Ông Ca-nát, dân tộc Châu Mạ, ở ấp Hiệp Nghĩa (huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai):” Hôm rồi, xem truyền hình, nghe đài truyền thanh tôi biết ở xã Nguyệt Bìu (thành phố Huế) có ông linh mục Nguyễn Văn Lý gửi một lá thư, gọi là “Lời chứng” , dài mấy nghìn từ cho ủy ban quốc tế tôn giáo của Quốc hội Hoa Kỳ, nói chính sách tôn giáo của Ðảng và Nhà nước ta “cực kỳ tàn bạo mang chủ đích bóp chết tôn giáo”.

Là một nông dân ở một miền núi xa xôi, chữ nghĩa không đầy lá mít, lại có ít điều kiện đi đây đi đó, cho nên cái sự hiểu biết xã hội Tây Âu tôi thua ông Lý, nhưng tại địa phương tôi, tôi khẳng định, một chục ông Lý cũng không qua tôi. Cho nên, tôi thấy những điều ông Lý nói quá xa lạ, thậm chí trái ngược hoàn toàn.

Ấp tôi có 210 hộ, 1.015 khẩu. Mỗi hộ một cách thờ, người thờ Chúa, hộ thờ Phật, thờ ông Bổn, cũng có hội chỉ thờ Bác Hồ. Nhà nước đâu có cấm đoán gì. Cả ấp còn có hai nhà thở Tin Lành và Thiên Chúa. Người theo đạo Thiên chúa vừa lễ ở nhà vừa đi lễ nhà thờ, ít nhất mỗi tuần một lần. Vào dịp lễ Giáng sinh, chính quyền địa phương cùng với các ban hành giáo tổ chức cho giáo dân đón lễ vui tươi, an toàn tiết kiệm. Riêng tôi theo đạo Tin lành, ở nhà có bàn thờ chúa ở chỗ trang trọng nhất, gắn bóng điện nhấp nháy suốt ngày đêm. Nguồn điện đó do nhà nước đầu tư, đường dây hạ thế kéo đến từng hộ cho 100% số hộ thuộc chương trình định canh định cư, bà con không phải đóng góp đồng nào.

Việc làm của Ðảng và Nhà nước thì nhiều, tôi nhớ không hết, tất cả đều nhằm mục đích cải thiện và nâng cao mức sống của bà con trong ấp, không phân biệt có đạo hay không có đạo. Hiện nay, 12 hộ xây được nhà, còn lại hầu hết là nhà lợp tôn, 34 hộ có máy thu hình, bốn hộ sắm xong máy cầy, hai hộ có máy suốt lúa, đời sống khá lên nhiều lắm..

Tôi đọc bài phóng sự của nhóm phóng viên báo Nhân Dân mà đỏ mặt và thấy nhột nhạt khắp cả người, thiếu điều còn muốn chết luôn vì ngượng. Tôi vẫn có cái tật hay ngượng thay cho người khác khi thấy họ lâm vào những hoàn cảnh lố bịch và trơ trẽn quá độ như thế. Cầm bút vốn dĩ không phải là một việc dễ dàng hay thoải mái gì; đã thế, cứ phải bịa chuyện để viết đại và viết lấy được – bằng cái thứ ngôn ngữ man trá và đểu cán như thế – khó khăn và khổ tâm lắm chứ!

Ðồng bào Thượng đâu có ai mà miệng cứ xoen xoét như là vẹt (hay vẹm) như vậy, hả Trời ? Nghe lại thử một đoạn xem :”ở nhà có bàn thờ chúa đặt ở chỗ trang trọng nhất, gắn bóng điện nhấp nháy suốt ngày đêm. Nguồn điện đó do Nhà nước huyện đầu tư, đường dây hạ thế kéo đến từng hộ cho 100% số hộ thuộc chương trình định canh định cư, bà con không phải đóng góp đồng nào.”

Ðã thế, là người dân miền núi, xuống ở đồng bằng theo “chương trình định canh định cư” mà ông Ca-nát để ý theo dõi và rành rẽ về phường ấp của mình cứ y như là công an khu vực vậy. Trong ấp có bao nhiêu hộ, bao nhiêu khẩu, nhà nào có máy thu hình, nhà nào có máy suốt lúa, nhà nào được lợp bằng tôn. .. ông ta đều biết hết trơn. Chắc chắc là trong túi của ông Ca-nát luôn luôn phải có cuốn sổ tay. Ðây là thói quen ít thấy nơi người dân sơn cước.

Qua lời ông Ca-nát tôi còn biết thêm rằng vụ cha Lý còn được mang lên cả truyền thanh và truyền hình nữa. Rõ ràng là linh mục Lý đã làm cho Ðảng và Nhà Nước rất phiền lòng. Ông bị nguyên cả hệ thống truyền thông của nước CHXHCNVN xúm lại “bề hội đồng” là phải giá.

Sự kiện một tu sĩ chiến đấu đơn độc “trong lòng cách mạng”, và đang bị nhà nước trói tay cho “nhân dân” ném đá khiến nhiều người sót ruột. Nhật báo Người Việt, số ra ngày 17 tháng 3 năm 01, đã chạy một bản tin với hơi ít khách quan và khá nhiều cảm tính – nguyên văn như sau:

“Báo Chí, Truyền Thanh, Truyền Hình Của Ðảng Tấn Công Toàn Lực Linh Mục Lý”

Tức tối trước sự can đảm của các vị tu sĩ tôn giáo thách thức nói lên sự thật về chủ trương đàn áp tự do tôn giáo của chế độ, Hà nội đã mở mặt trận báo chí rộng lớn và toàn diện chưa từng thấy để tấn công linh mục Nguyễn Văn Lý. Trên các báo Ðảng, phóng viên cộng sản nặng lời chửi bới với những tựa đề vu khống xuyên tạc như:”Lộ rõ bộ mặt kẻ phản bội dân tộc” (báo Nhân dân), “Khác nào cõng rắn cắn gà nhà”, hoặc bịa đặt như “Giáo dân Ðà Nẵng bất bình trước những việc làm sai trái của Nguyễn Văn Lý”, hoặc “Lợi dụng tôn giáo để làm điều xằng bậy” v.v. Nghĩa là không có một từ ngữ nào mà họ không dùng để thóa mạ. Nhưng độc hại hơn cả, CS đã ép buộc một số linh mục và giáo dân phát biểu rồi xuyên tạc thuật lại một cách méo mó như lời của LM Võ Văn Tân, Gò Vấp; LM Nguyễn Văn Luật, giáo xứ Hòa Bình, hoặc ông Nguyễn Văn Thiện, chủ tịch hội đồng giáo xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp v..v.. với những lời lẽ do họ bịa đặt ra (Ai mà chẳng biết trong chế độ CS, mọi người đều sợ bị trả thù đâu dám nói lên sự thật).

Dư luận trong nước đều nghĩ rằng màn tấn công hội đồng bằng báo chí của đảng báo hiệu một cuộc đàn áp thẳng tay sắp tới đối với nạn nhân là LM Nguyễn Văn Lý. Một số giới chức Việt Nam cho biết chính chiến dịch tấn công cha Lý này là một đòn phản hồi đánh ngược vào chế độ cộng sản, vì nếu để yên thì ít người biết vụ cha Lý dám đứng lên chống đối nhà nước. Ai mà chẳng biết CS đàn áp người dân suốt 25 năm nay, nhất là tôn giáo nhưng không có người nào dám lên tiếng, nay nhờ có báo đảng toàn nước biết có một linh mục can trường dám nói lên sự thật khiến cho mọi người đều hả dạ, nhưng vẫn lo âu cho số phận của cha Lý.

Theo tôi, “số phận của cha Lý” không có gì đáng lo đến thế. Dù vừa bị trói, vừa bị ném đá nhưng linh mục Nguyễn Văn Lý có hề hấn chi đâu? Ném đá nghe cũng thấy ghê thiệt nhưng ném trật lất thì kể như … huề, nếu như đừng trói người ta lại và dám đứng đối diện với họ đàng hoàng; bằng không, trước công luận, đâu có dễ huề như vậy ? Bộ tưởng linh mục Lý vẫn còn sống sau “bức màn sắt” hay sao mà có thể mang ông ấy ra “tòa án nhân dân” để “đấu tố” và “tố điêu” một cách trắng trợn như vậy, mấy cha?

Ðó là chưa kể đến chuyện nghịch lý này: giữa thời đại thông tín mà hệ thống truyền thông của Cộng Sản lại mất hết tác dụng thông tin. Sau mấy hôm sống ở Việt Nam, một nhà văn đã chán nản ghi nhận như sau :” Như tránh người ăn mày, tôi cũng dần dần làm ngơ tin tức trên đài truyền hình. Trong vài ngày đầu tiên ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên khi thấy mọi người vội tắt máy truyền hình đúng giờ có tin tức để làm những công việc khác trong giờ tin tức buổi chiều. Họ có thể ăn uống, vào nhà vệ sinh (Hoàng Mai Ðạt, Giữa Hai Miền Mưa Nắng, Văn Nghệ, 1999, 200).

Vào nhà vệ sinh thiên hạ mới cầm đến tờ báo Nhân Dân nhưng không phải để đọc mà lại để dùng vào chuyện khác. Chuyện này cũng rất cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày nên cuối cùng báo Nhân Dân cũng được biểu dương. Sáng ngày 11 tháng 3 năm 2001, tại Cung Văn hóa Lao Ðộng hữu nghị Việt-Xô, Ðảng CSVN đã công bố quyết định trao tặng báo Nhân Dân (cơ quan trung ương của Ðảng) danh hiệu Ðơn Vị Anh Hùng Lao Ðộng!

Tuy quyết định này có hơi lố bịch nhưng không phải hoàn toàn vô lý, nếu xét cho cùng. Làm báo liên tục trong năm mươi năm đòi hỏi rất nhiều can đảm và nhẫn nại, nhất là khi tờ báo chỉ được dùng vào mỗi một việc là chùi – như báo Nhân Dân!

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những Bức Tường Lòng

Khi còn bị phân chia bởi “bức tường ô nhục”, người dân Ðông Ðức hay kể lén câu chuyện sau đây:

Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít lại, tíu tít hỏi thăm:

–          Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không?
– Có chứ.
– Có nhà thương và bác sĩ thú y không?
– Có luôn.
– Có đồ hộp dành riêng cho chó không?
– Có tuốt.
– Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây?
– Tại vì bên âý chúng cấm không cho … sủa!

Năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Dân Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền … được sủa.

Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth – qua bài báo “Bức Tường Ô Nhục Vẫn Ngăn Chia Người Việt”, như sau:

“Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những nguời được mệnh danh là Người Việt miền Tây là những người miền nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.

“Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…”

“… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…”

Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng:”Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (” Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc”).

Nói như thế, nghe (tưởng) đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa “đã miệng” và… “hết ý”! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt -như sau:”Ils ne s’aiment pas” (Họ không ưa nhau đâu).

Cha nội Parisien nào đó đã nói một câu (mới) nghe tưởng tào lao nhưng – không chừng – dám …trúng lắm (à) nha. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Chỉ riêng với với dân Việt thì … không. Nhất định không. Người ngoại quốc có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau – trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin.

Dù đất nước đã “thống nhất” hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân … cưỡng bách vậy.

Theo “truyền thống”, người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của phe mình. Họ “thích” gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ …). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa xuất hiện – tụi … Bắc Cộng! Tụi này nhân danh “cách mạng” để nắm cướp đoạt hết quyền bính và tài sản quốc gia. Sau đó, chúng lập tức hành xử như “mấy chủ nhân ông da trắng thời thực dân” (Vạng Lộc, “Báo Ðộng Nạn Kỳ Thị Của Bắc Cộng,” Việt Báo, 12 Sept. 2002).

Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện … kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị “tưởng” là … “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác.

Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu. Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, ” bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin.

Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện dè bỉu, đố kỵ, chia cách, phân hoá… Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện – dường như – không đại diện cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự- cần người đại diện). Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Cũng thế, mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh!

Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, vài chục con cừu không thể biến thành một đàn cừu được. Vấn nạn của những cộng đồng người Việt hải ngoại là sự dư thừa loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là … chó dại!

Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt ” (Phan Nhật Nam, “Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá,” Nguyệt San Việt Nam, Jan. 2003: 36). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Hà Nội là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên.

Tôi vô cùng tiếc là đã không hoàn toàn chia sẻ được với nhà văn Phan Nhật Nam, một người mà tôi vô cùng qúi mến, về nhận định vừa nêu. Với ít nhiều chủ quan, tôi không nghĩ là Cộng Sản VN còn đủ sức để làm như thế. Cũng như cấp trên của họ ở Hà Nội, những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại (nếu có) cũng chỉ đang lăng xăng kiếm chác và cố gắng (chối chết) để lo một chỗ ẩn thân – trước khi quá muộn! Chính phạm không đến từ bên ngoài. Tôi “nghi” là chúng nằm vùng, từ lâu, trong tâm khảm của tất cả chúng ta.

Khi còn bé, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó, qua lời kể của Schopenhauer, một câu chuyện ngụ ngôn – nội dung (đaị khái) như sau:

Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành … chờ chết!

Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng của chính mình, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự tâm mình, và mỗi người – hay nhóm người – đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì chúng ta (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, và tan nát tanh bành – sau đó.

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hàng Mã

Dối như cuội.
(Thành ngữ Việt Nam)

Dối như vẹm.
(Thành ngữ CHXHCNVN)

Ở Hà Nội “…có Hàng Bún, Hàng Cá, Hàng Cháo, Hàng Chuối, Hàng Dầu, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Ðường, thậm chí có cả Hàng Rươi. Tiểu thủ công nghiệp có các Hàng: Bạc, Bài, Cót, Da, Ðiếu, Ðồng, Mã, Giầy, Giấy, Nón, Vải, Trống, Phèn, Quạt, Vôi, Thiếc, Mành, Tre, Thùng, Cân… Ða số các hàng chỉ còn là cái tên gọi, còn hàng hoá thì đã “hiện đại hóa”, phố nào cũng đầy quần áo dầy dép, hàng Trung Quốc và Thái Lan. Hàng Mã có lẽ là nơi duy nhất giữ nguyên truyền thống, bán toàn đồ mã“.

Nhà văn Phạm Xuân Ðài đã ghi nhận như trên, trong tác phẩm Hà Nội Trong Mắt Tôi, khi ghé thăm thành phố này, vào mùa thu năm 89. Dù vốn nhẹ dạ, và hoàn toàn không cóù ác cảm gì với giới người cầm bút, sao tôi vẫn thấy có điều gì “không ổn” khi đọc đoạn văn vừa dẫn.

Kinh nghiệm của tôi về người cộng sản tuy ngắn nhưng tương đối đủ. Ngay sau khi họ chiếm được miền Nam, có lẽ ngay cả rau cỏ và côn trùng của phần đất này cũng phải lập tức thay hình đổi dạng – để thích nghi với hoàn cảnh mới – chứ đừng nói chi đến những sinh hoạt của con người. Như thế, lẽ nào, sau nửa thế kỷ “cách mạng” mà vẫn có một thứ “truyền thống” nào đó (như Hàng Mã – ở Hà Nội) còn được “giữ nguyên”?

Hơn một thập niên sau, qua tờ Việt Báo – phát hành từ California, số ra ngày 7 tháng 10 năm 2000 – tôi được đọc bài viết của ký giả Hư Trúc về một “Cô Học Trò Dán Vàng Mã”. Em tên là Dương Thị Thanh Hương, nhà ở thị xã Thái Bình, trong hai năm liền thi đậu vào bốn trường đại học nhưng vẫn không bao giờ được cắp sách đến trường. Vì thương tật của bố nên Thanh Huơng phải ở nhà làm việc gia công. Em dán tiền vàng mã kiếm được 5.000 đồng mỗi ngày để phụ giúp mẹ nuôi sống các em…

Tôi thực áy náy vì đã thiếu niềm tin nơi một người cầm bút khả tín như nhà văn Phạm Xuân Ðài, và đã “ngờ oan” cho những người Cộng Sản. Ðồ mã, rõ ràng, vẫn còn phổ biến ở Việt Nam. Không những thế, tôi còn được nghe kể nhiều giai thoại lý thú về món hàng này – nhất là thứ đồ mã làm tại làng Ba Ðình, Hà Nội.

Nhiều nơi ở quê tôi cũng thường có những sản phẩm đặc thù tương tự như thế. Dân Việt ai cũng biết đến những mặt hàng nổi tiếng như nhiễu Bình Ðịnh, the La Khê, lụa Cổ Ðộ, bút Bạch Liên, mực Kiêu Kỵ, giấy Yên Thái, vải Thượng Hội, giày Trúc Lâm, chiếu Thiện Trạo, gốm Bát tràng, mây Phú Vinh, nón lông Kim Ðộng…

Bằng chính sách kinh tế hoạch định, những sinh hoạt ngành nghề riêng biệt kể trên đều được người cộng sản đưa vào tổ hợp. Với thời gian, tất cả đều chết dần, chết mòn, và chết ráo – trừ nghề làm đồ mã. Hiện tại ở Việt Nam có hai loại đồ mã: loại gia công, gồm những thứ vặt vãnh (nhà, cửa, ngựa, xe, con hầu, tầu thuyền, tiền giấy…) để đốt cúng cho người chết, không tiện đưa vào tập thể vì nó trái với chính sách bài trừ dị đoan của nhà nước; loại quốc doanh, gồm những mặt hàng chiến luợc là sản phẩm riêng biệt của dân làng Ba Ðình, Hà Nội – nơi tập trung những gia đình thuần túy hành nghề cách mạng và hiện đang là giới người thống trị ở Việt Nam.

Phần nhờ bản tính khéo léo, phần nhờ học hỏi thêm được nhiều tiểu sảo từ những nước xã hội chủ nghĩa anh em, nửa thế kỷ qua, dân làng Ba Ðình đã làm được nhiều thứ đồ mã nổi tiếng khắp nơi. Xin đơn cử một vài mặt hàng tiêu biểu.

Trước hết, xin giới thiệu qua về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Món đồ mã này được làm ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, và làm khéo đến độ khiến một số người dân miền Nam tưởng là đồ thật . Không ít kẻ đã bỏ mạng hay bỏ mẹ đời vì nó. Ðến lúc được mang ra đốt, nó cháy như điên. “Sự nghiệp cách mạng” của không ít người miền Nam cũng cháy theo luôn – như đuốc.

Trên danh nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chưa hoàn toàn cháy hết, nó chỉ bị “sát nhập” vào Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ðây là một sản phẩm đặc sắc khác của dân làng Ba Ðình, đượïc làm ra vào tháng 9 năm 1955. So với nó thì những thứ đồ mã vớ vẩn như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hoà Bình Việt Nam… đều là chuyện nhỏû, thứ mặt hàng lặt vặt, chỉ có tính cách giai đoạn mà thôi.

Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là loại hàng chiến lược, tập hợp nhiều món đồ mã linh tinh và thổ tả khác – đại loại như Hội Cựu Chiến Binh, Ủy Ban Tôn Giáo, Hội Nông Dân Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Công Ðoàn… Nó được dân làng Ba Ðình dụng công dụng sức rất nhiều, thỉnh thoảng vẫn được tu bổ hay sơn phết lại, để dùng lâu hay dùng luôn – nếu được.

Hiến pháp 1992, điều 9, của CSVN đã “tô điểm” cho nó như sau:” Mặt Trận Tổ Quốc và các thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân …chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân…động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước … Nhà nuớc tạo điều kiện để Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.”

Nghe cứ y như thật vậy. Sự thật, theo như nhận xét của một nhân sĩ Việt Nam, hơi khác:” Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bầy đặt cái gì cũng được, anh có dành cho nhân dân một hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thành ủy sang phụ trách luôn…cho nhất quán?” (Chia Tay Ý Thức Hệ.” Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 162).

Ðó không phải là thái độ của những người quân tử – nếu vẫn nói theo ngôn ngữ (rất lịch sự) của Hà Sĩ Phu, qua tác phẩm vừa dẫn. Cùng với cung cách tiểu nhân tương tự, theo điều 5 của Luật Bầu Cử Quốc Hội thì Mặt Trận Tổ Quốc có nhiệm vụ “chọn lựa giới thiệu nguời ứng cử đại biểu quốc hội…” Như thế gọi là “đảng cử dân bầu”, nếu nói một cách lươn lẹo – theo chính sách. Còn thấy sao nói vậy thì cái gọi là quốc hội Việt Nam (rành rành) chỉ là con đẻ của Mặt Trận Tổ Quốc, hay là một thứ đồ mã khác của dân làng Ba Ðình – thế thôi.

Và điều này đã được cố luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhìn thấy từ lâu. Khi đọc tham luận trước Hội Nghị Mặt Trận Trung Ương, hôm 30 tháng 10 năm 1956, ông thẳng thắn nêu rõ:”Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua chính sách mà thôi…với vai trò yếu ớt hiện thời quyền dân chủ của quần chúng không được thực hiện.”

Nửa thế kỷ sau, “vai trò yếu ớt” của quốc hội không còn là điều khiến “dư luận quần chúng” dị nghị nữa mà đã trở thành một sự kiện hiển nhiên, ai cũng biết. “It served as a rubber stamp for decision already reached by the Communist Party (Nó được dùng như con dấu chuẩn cho những quyết định đã rồi của Ðảng Cộng Sản ). Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2000 (một loại tự điển bách khoa vô cùng phổ thông) có ghi một câu nguyên văn như trên, khi đề cập đến ngành lập pháp ở Việt Nam – bây giờ.

Dân làng Ba Ðình Hà Nội không chỉ thiện nghệ trong việc làm những đồ mã có tính cách cơ chế như quốc hội, viện kiểm sát nhân dân, ủy ban tôn giáo … Họ còn làm những hình nhân nữa. Lênin, Stalin, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh…đều là những sản phẩm tiêu biểu cho loại mặt hàng này.

“Học thuyết Marx – Lénine, tư tưởng Mao Trạch Ðông và tác phong Hồ Chí Minh” đã từng là thứ đồ mã “vang bóng một thời” . Thời đó đã qua. Cả ba đều đã cháy. Dân làng Ba Ðình đang loay hoay với một thứ đồ mã mới: tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý do, có lẽ, vì tư tưởng dễ dấu hơn hơn tác phong. Và tác phong của một người đã “lỡ” viết sách để tự ca tụng mình, hay “trót” nộp đơn xin học Trường Thuộc Ðịa … e khó được coi là “con nhà tử tế” – theo tiêu chuẩn của người dân Việt .

Báo Nhân Dân – số ra ngày 7 tháng 1 năm 1999 – đã trích dẫn phần “cốt lõi” tư tưởng của ông Hồ, trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, và coi đó như đuốc soi đường cho cả nước, như sau :”Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển.” Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc!

Giời ạ! Mặt trời chứ bộ mặt trận sao mà đòi lấy lực lượng ra ngăn trở. Tương tự, có cái lực lượng mẹ rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội?Viết như thế mà cũng bầy đặt cầm bút.

Ðó mới là chuyện hình thức. Bây giờ xin xem qua chút đỉnh về nội dung tư tưởng “tinh túy” của bác Hồ. “Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển“. Coi, thằng chả hàm hồ dễ sợ chưa ? Chớ có ai chọc ghẹo hay đụng chạm gì tới nó đâu. Khi khổng khi không cái chủ nghĩa xã hội ngưng phát triển mình ên, vậy thôi. Rồi nó đột ngột “chuyển qua từ trần” (liền sau đó) mà không hề có một lời từ tạ – dù là “tạ từ trong đêm”, cũng không.

Có lẽ vì chủ nghĩa xã hội ra đi bất ngờ và âm thầm quá nên bác Phiêu và đám dân làm đồ mã ở làng Ba Ðình chưa phát hiện ra. Họ vẫn thản nhiên “bắt” nó phải “phát triển” như thường – theo như di chúc của bác Hồ.

Bị cô lập và thiếu thông tin như thế nên nghề làm đồ mã của dân làng Ba Ðình cứ lụt dần với thời gian. Món hàng mỗi lúc một thêm ế ẩm và tồi tệ là báo Nhân Dân. Nó được khai sinh vào ngày 11 tháng 3 năm 1951, trải qua nhiều đời chủ nhiệm và tổng biên tập. Tất cả đều là đảng viên cộng sản, đều xuyên suốt và nhất quán chủ trương dối trá. Do họ mà ngôn ngữ Việt có thêm một thành ngữ mới:”Dối như vẹm”. So với “vẹm” thì “cuội” chỉ là đồ bỏ; bởi vậy, từ khi người cộng sản xuất hiện ở Việt Nam thì thành ngữ “dối như cuội” vĩnh viễn biến mất khỏi ngôn ngữ của dân tộc này.

Có người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân Dân chỉ có tin dự báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó. Họ nói quá như thế để nhấn mạnh một cái tật.” (Bùi Tín, Hoa Xuyên Tuyết, 2d ed. Turpin Press, 1994, 42).

Nếu nói như thế mà gọi là “nói quá” thì tôi sợ rằng nhà báo Bùi Tín (lâu nay) đã thôi đọc “báo nhà”ø. Tờ Nhân Dân không còn “…hô hào xuông, đạo lý rỗng, nói lấy được, kiểu hoa ngôn và đại ngôn…” (svd, trang 50 và 51) tự lâu rồi. Nó sa đọa, tệ hại hơn thế nhiều lắm.

35 triệu lượt người đọc báo Nhân Dân điện tử”, đó là nguyên văn tựa bản tin của báo Nhân Dân số ra ngày 10 tháng 3 năm 2000. Và tờ báo này chỉ mới xuất hiện trên “net” từ ngày 21 tháng 6 năm 98. Ở một quốc gia hàng trăm người dân dành nhau một cái điện thoại, và hàng chục ngàn người chung nhau một cái computer mà mỗi ngày có đến 50.000 độc giả lên lưới để coi báo Nhân Dân sao ? (Vừa thôi Tám!) Chớ “công báo” Nhân Dân có cái con mẹ gì “hấp dẫn” dữ vậy, mấy cha?

Câu trả lời tìm được ngay hai hôm sau, cũng trên báo Nhân Dân (số ra ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong mục “bạn đọc góp ý và phê bình”), qua thư của một độc giả, ở California:”Ðối với kiều bào ở California là nơi có đông người Việt Nam, thì báo Nhân Dân điện tử là món ăn tinh thần lớn nhất, qúi nhất. Riêng đối với tôi việc làm đầu tiên trong ngày là mở trang báo Nhân Dân điện tử…Nhiều người chỉ mong sáng ra để đọc báo Nhân Dân…”

Ðêm ở California hẳn là dài lắm vì nơi đây (“hình như”) chỉ có điện ban ngày nên “nhiều người chỉ mong sáng ra để … đọc báo Nhân Dân.” Tôi chết được chứ chả bỡn đâu, Giời ạ!

Nhà báo lão thành Bùi Tín, cựu phó biên tập của nhật báo Nhân Dân (và cũng là người đã có thời trực tiếp phụ trách tờ tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật) – rõ ràng – đã không theo kịp những bước lùi (vĩ đại) của ngành truyền thông xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Còn cỡ thường dân, như kẻ đang viết những giòng chữ vớ vẩn này, chịu đời (thiệt tình) không thấu. Viết thêm nửa chữ , về đồ mã của dân làng Ba Ðình, tôi sợ cũng thừa. Nên thôi vậy.

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Mùa Xuân (Chợt) Nhớ Chuyện Mai Sau

Ở mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc sẽ phải cam chịu hay có một số phận xứng đáng với sự lựa chọn và cách sống của họ.
(Ngô Thế Vinh)


Có lẽ do ảnh huởng khí hậu cũng như thời tiết của mùa Xuân, và vì – dường như – bữa đó, trong không khí, có thoang thoảng chút hương vị Tết nên tôi uống (chắc) nhiều. Cao hứng tôi cất tiếng ngợi khen một nhà văn thứ dữ, ông … Võ Phiến:

–          Cái bài anh viết về những bản thảo cũ của Nhất Linh, đăng trên Thế Kỷ 21 (số tháng 7 năm 2002) đọc hay quá xá. Sao anh minh mẫn, hóm hỉnh và trí nhớ vẫn còn tốt quá trời quá đất như vậy – há?

Thỉnh thoảng thăm hỏi và nói với nhau đôi lời chân thành và tử tế – kể cả vào lúc (có hơi) quá chén như thế – vốn không phải là chuyện vẫn thường xẩy ra giữa hai người Việt! Bởi vậy, tôi cứ ngỡ là ôngVõ Phiến sẽ cảm động chết luôn và sẽ mỉm cười (vô cùng) sung sướng.

Tôi lầm. Ổng không cười (cười gượng cũng không luôn); đã thế, còn hoá đăm chiêu rồi bỗng dưng trông nghiêm và buồn – thấy rõ:

–          Tui đọc cuốn Xóm Cầu Mới của Nhất linh vài chục năm trước, nhiều đoạn bây giờ vẫn còn nhớ như in.… Nhưng cái đầu của mình bây giờ lạ lắm, nó chỉ linh hoạt khi nghĩ tới những chuyện xa xưa, và hay loay hoay tìm về dĩ vãng, chớ không thiết tha gì đến tương lai nữa.

Nghe rồi, tôi cũng thấy buồn luôn, và cũng ” hoá đăm chiêu”, đâu chừng … nửa tháng. Ông Võ Phiến, dù lập gia đình muộn chăng nữa, vẫn dư sức có một thằng con trai út – lóc nhóc cỡ tuổi tôi. Tôi trẻ hơn ổng rất nhiều mà sao cái đầu cũng quyết liệt từ chối không nghĩ tới tương lai nữa. Coi có ghê chớ không chớ? Mà đây không phải chỉ là “chuyện riêng” của tôi và ông Võ Phiến đâu nha. In tuồng như là cả dân tộc Việt Nam – bất kể tuổi nào, bất kể đang sống nơi đâu – cũng đều như vậy tuốt!

Cầm thử bất cứ một cuốn đặc san nào đó xuất bản ở hải ngoại mà xem. Khỏi cần coi kỹ, chỉ cần đọc tựa của mấy bài viết không thôi là cũng đủ thấy ngậm ngùi, xót dạ và buồn rầu quá cỡ : quê xưa – chốn cũ, thầy xưa – trường cũ, chiến trường xưa – đồng đội cũ, người xưa – tình cũ, giòng sông xưa – con đò cũ, xóm làng xưa – bè bạn cũ …

Và đó mới chỉ là những nỗi buồn hạng nhẹ, của những người không nặng ký – chỉ tầm tầm cỡ thường dân – những kẻ mà tâm sự có thể giải bầy trong những bài thơ nhỏ, hoặc vài ba trang tùy bút. Những nhân vật quan trọng thì họ viết nguyên cả một cuốn hồi ký đàng hoàng.

Cuốn nào cũng đều mang nặng cả “trời tâm sự”. Ðôi khi, tâm sự của người này lại đụng chạm đến tâm sự của người kia – hoặc của nhóm người kia – nên sinh ra tùm lum xung đột, hiềm khích, oán thù, tranh chấp …rất ồn ào và (thuờng khi) rất không cần thiết!

Ðó là chưa kể đến những bài khảo cứu công phu về “chuyện xưa tích cũ” (liên quan đến nhân vật này, áng văn kia hay những lỗi lầm – trong quá khứ – của tôn giáo này hoặc tôn giáo nọ), cùng với những giòng thơ văn hoài cổ … đầy nhóc trong sách báo xuất bản ở hải ngoại.

Một đám người thua cuộc, nhà tan cửa nát, hớt ha hớt hải bỏ của chạy lấy người – thoát thân, rồi nằm buồn rầu thoi thóp ở một góc trời xa lạ – và cứ ngoái trông về cố lý mà thương nhớ mãi bến nước xưa, cây cầu cũ, hay cứ tiếc nuối hoài những ngày tháng an bình (hoặc vàng son) đã mất thì (tưởng) cũng là chuyện bình thường thôi chớ? Có gì lạ đâu mà kiếm chuyện (cà khịa) nẫy giờ vậy, cha nội?

Ý Trời, đừng nói vậy chớ! Như vậy là gieo tiếng ác và mang tội chết (mẹ) à nha. Tui thiệt tình không (bao giờ) dám kiếm chuyện đâm hơi hay châm chọc gì ai. Nói tình ngay, chả qua vì sợ dĩ vãng của chúng ta quá nặng nề khiến mọi người hoá lề mề (khi xoay trở với hiện tại) và ái ngại khi nghĩ đến tương lai (nếu không phải là chuyện tương lai của riêng mình) nên tôi thấy có hơi kỳ (và “bàn ra”) chút đỉnh – vậy thôi.

Hơn nữa – như đã thưa – cái tâm cảm “nước còn cau mặt với tang thương“, không phải chỉ tìm thấy nơi những kẻ sống ở nước ngoài hay những nguời bại trận. Nhà thơ Nguyễn Duy (một chiến sĩ và thi sĩ nổi tiếng của phe thắng trận) ghé về thăm quê – sau hơn một thập niên, kể từ ngày “đất nước được hoàn toàn giải phóng” – cũng đã không nén được bùi ngùi:

Cha ta cầm cuốc trên tay
nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa
lưng còng bạc nắng thâm mưa
bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì
(Thanh Hóa – cuối năm Thìn 1988)

Bây giờ là đầu năm Mùi, thêm mười lăm năm nữa đã trôi qua. Dân quê Việt Nam vẫn cứ sống trong những căn “nhà xơ xác hơn ngày xa xưa”, và vẫn tiếp tục “cầm cuốc trên tay”- như nông dân của Thời Trung Cổ. Những kẻ sinh sau đẻ muộn, không còn đất để cuốc, dắt díu nhau rời bỏ làng quê, lần vào thành phố kiếm ăn.

Họ đi xin (nếu không có máu hay có thân hình bán được), hoặc bán sức lao động – dưới mọi hình thức – để sống qua ngày. Giản dị nhất là trở thành cửu vạn. Khỏi phải làm đơn, khỏi tốn tiền “cò”, không cần hộ khẩu, và cũng chả lo đến lý lịch – kể cả loại lý lịch trích ngang – vì dân cửu vạn chỉ làø một thứ một thứ phu phen (xuống cấp) của thời đại mới. Họ là những kẻ sống bên lề, lề đường, của xã hội cộng sản Việt Nam.

Họ đứng ngồi chờ trực suốt ngày (và suốt đêm) để đợi người “ới” đi làm. Họ sẵn sàng làm tất cả việc nặng nhọc và bẩn thỉu: khuân vác, dọn nhà, dọn vườn, móc cống, vét rãnh, thông cầu… Và tiền công thì hoàn toàn tùy thuộc vào lòng hảo tâm của người đối diện!

“Giảng Võ, 12 giờ đêm. Ðám người lao động ngoại tỉnh, kẻ đứng người nằm la liệt trên suốt hơn 1 km đoạn đường từ đầu ngã tư Cát Linh – Giảng Võ – Ðê La Thành. Thôi thì đủ quê từ Hà Tây, Thái Bình, Nam Ðịnh nhưng đông hơn cả vẫn là Thanh Hoá … “

“Trung bình một ngày họ kiếm được từ 15-20 ngàn đồng, rất vất vả. Thông thường mỗi buổi sáng họ thức dậy từ 6h, quấn vải mưa, chăn chiếu dúi vào một góc nào đó để tản ra ‘đứng đường’ chờ việc. Trưa và tối thì tạt vào những hàng cơm bụi với mỗi xuất ăn giá khoảng 2.000 đồng, thậm chí những hôm không có ai thuê, đành nhịn.”
(Quang Hiệu và Vương Linh,” Cửu Vạn Ðêm,” Lao Ðộng 11/8/2002).

Dễ có đến chừng nửa dân số Việt Nam đang sống (dở) và chết (dở) – như thế – trong những căn “nhà xơ xác” ở thôn quê, hay trên những vỉa hè ở phố thị. Với họ, khi “bàn” đến tương lai, có lẽ tất cả sẽ đều nghĩ ngay đến một … nắm xôi – cho buổi sáng sớm mai!

Phần dân chúng còn lại ở Việt Nam thì hẳn là phải có một mức sống khả kham (hoặc khá giả) hơn như vậy. Dù ở thôn quê hay thành thị họ cũng có đủ cơm ăn áo mặc, có nhà cửa (hay “cơ ngơi”) tử tế. Dự phóng về tương lai của họ, đối với không ít kẻ, đã vượt qua những nhu cầu vật chất “cơ bản” (như đồng hồ hay xe đạp …) từ lâu. Với những người này – cũng như phần lớn những đồng bào “ăn nên làm ra” của họ ở nước ngoài – khi nói đến chuyện mai sau, họ có thể nghĩ đến tuốt … cái sân sau (đang trồng cây ăn trái) hoặc mảnh bằng trước mặt của đứa con vừa (hay sắp) vào đại học. Không ít kẻ còn lo xa cả đến một chỗ để nằm, sau khi tắt thở!

Chung cuộc -xem ra – dường như chỉ có những người đang nắm quyền ở Việt Nam là có khả năng thích ứng với thực tại, và có viễn kiến về tương lai. Sau khi mở cửa với thế giới bên ngoài, chấp nhận luật chơi của kinh tế thị trường, đến khoá họp trung ương đảng kỳ V – từ 18 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 2002 – CSVN đã chính thức cho phép đảng viên được phép làm kinh doanh tư nhân.

Quyết định “lột xác” biến (cái rẹt) từ cộng sản sang tư sản của họ, tiếc thay, đã không được dân Việt hoan nghênh hayï khích lệ. Không những thế, một công dân hiện đang sống trong nước đã đưa ra một nhận định (vô cùng) khinh thị – như sau:

“Như thế là mọi chuyện bất chính, bất luơng, bất hợp pháp nay trở thành danh chính ngôn thuận hết. Cứ việc nhân danh Ðảng mà phù phép biến hoá của công thành của riêng, xí nghiệp quốc doanh thành xí nghiệp tư nhân, của tham nhũng hối lộ thành bổng lộc hợp pháp. Một tuyệt chiêu lưu manh vô địch” (TTN, “Tư Bản Ðỏ”, Ðàn Chim Việt, Sept. 2002:31).

“Tuyệt chiêu” này cũng không được tán thưởng bởi những người Việt khác, dù họ đang sống ở (tận) nước ngoài:

Ðừng để bị huyền hoặc vì danh xưng “tư sản đỏ”. Tư sản không có màu sắc, không có tư sản đỏ và tư sản xanh, chỉ có tư sản kinh doanh trong một nước dân chủ pháp trị lành mạnh và tư sản lưu manh trong một chế độ độc tài tùy tiện. Tư sản đỏ tại Trung Quốc và Việt Nam hiện nay là bọn tư sản lưu manh. Chúng không kinh doanh, chúng bóp nghẹt kinh doanh và làm giàu bằng hối mại quyền thế. Chúng không làm kinh tế thị trường, chúng bóp nghẹt thị trường và làm giàu bằng đặc quyền đặc lợi. Chúng không mưu lợi cho đất nước, chúng cướp đoạt tài nguyên và tiềm năng đất nước để mưu lợi cho riêng chúng. Chúng không cần tài năng dù chúng đứng đầu những công ty lớn, vì chúng không phải cạnh tranh với ai cả. Chúng không cởi mở và tiến bộ dù chúng đi xe hơi sang trọng và du lịch khắp thế giới. Chúng càng không phải là một chặng đường trong cuộc chuyển hóa về dân chủ, trái lại chúng chống lại cuộc đấu tranh cho dân chủ để giữ nguyên đặc quyền đặc lợi“. (Nguyễn Gia Kiểng, “Ai Cầm Quyền”, Thông Luận, Dec. 2002:06).

Khi mà gần nửa dân tộc chỉ nghĩ được tới nắm xôi, nửa còn lại cũng không mấy kẻ nghĩ xa hơn … tô phở – hay bún bò hoặc hủ tíu … gì đó – và những người lãnh đạo đất nước lại là những kẻ “lưu manh vô địch”, chỉ chăm chăm ” cướp đoạt tài nguyên và tiềm năng đất nước để chỉ mưu lợi riêng cho chúng” thì chuyện non sông (“gấm vóc”) kể như là … rồi – chớ còn (khỉ) gỉ nữa?

Vậy mà vẫn còn có một … nhúm người – có tên là Nhóm Bạn Cửu Long, http://mekongriver.org – cứ băn khoăn mãi về sinh mệnh của một dòng sông. Theo họ : ” Cửu Long Cạn Dòng (là) Biển Ðông Dậy Sóng“. Ðây cũng là tên tác phẩm mới nhất của nhà văn Ngô Thế Vinh, đã được nhà Văn Nghệ (Hoa Kỳ) tái bản hồi đầu năm 2002.

Khi trả lời phỏng vấn của Tập San Hợp Lưu (số 56, tháng 12/2000 & 1 năm 2001 – do Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện) Ngô Thế Vinh đã bầy tỏ sự quan ngại về tình trạng toàn vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long có nguy cơ bị tràn ngập bởi nước mặn, với hậu quả là”… vĩnh viễn chẳng còn đâu một nền Văn Minh Miệt Vườn và cũng không còn đâu vựa lúa để nuôi sống ngót 100 triệu dân của cả nước.”

Nếu ‘cả nuớc” – từ trong ra ngoài – chỉ quay đầu nhìn về dĩ vãng (để nuối tiếc hay hậm hực) hoặc chỉ cúi đầu (vì bận kiếm ăn hay vì sợ bị ở tù), và “trọn gói” non sông mang giao cho những kẻ “lưu manh” – những kẻ đủ nhẫn tâm để tháo cạn nước của một giòng sông và đốt cháy nguyên một khu rừng, khi cần vài con cá nướng trui cho bữa ăn chiều trong gia đình họ – thì hiểm họa đang đe doạ dòng sinh mệnh của cả dân tộc Việt, chứ đâu có riêng chi một dòng sông.

Nói chuyện tương lai, giữa những mùa xuân ly loạn, đã không có gì vui mà (dám) còn làm cho không ít người buồn. Nếu lỡ như vậy thì tôi mong được sự bao dung và độ lượng của “toàn thể đồng bào” trong ba ngày Tết. Nếu không có Tết, và không có rượu, bà nội mẹ tui cũng không dám làm mích lòng – cùng lúc – cả đống người như thế!

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chui

Từ hang Pắc Bó chui ra
Vươn vai một cái rồi ta chui vào.
(Ca dao tân thời)

So với những động tác thông thường khác như nằm, ngồi, nhẩy, đứng, xoay, nghiêng, ngửa, nhổm, cúi, với, lăn, lộn, vặn, ngoái, chồm … thì chui là chuyện không thường thấy ở loài người – nhất là những người đã qua thưở ấu thời. Cơ thể chúng ta, rõ ràng, không thích hợp với chuyện chui nhủi hay trườn bò – như những động vật khác.

Rắn, cá, gà, chó, mèo, ngan, ngỗng, vịt, chim, chồn, cáo, cọp, beo, sóc, trăn, nai, nhím, mển, thằn lằn, kỳ nhông, kỳ đà, tắc kè, cắc ké, chuột, bọ… đều hay chui hơn loài người. Giun, sán, bọ hung, bọ xít, bọ rầy, bọ ngựa, bọ cam, bọ quýt, bọ dừa, bọ cạp, dế, gián… cũng thế.

Tuy vậy, những sinh hoạt như – ăn chui, ở chui, uống chui, ngủ chui, tắm chui, nhảy chui, đi chui… lại không hề có trong thế giới của loài vật mà chỉ phổ biến trong xã hội loài người – nhất là những người sống ở Việt Nam (và các nước xã hội chủ nghĩa anh em), khi mà đảng cộng sản còn cai trị ở nơi đây. Chỉ tại những xứ sở này mới có những sản phẩm và sinh hoạt chui – đại loại như: cà phê chui, phở chui, tu sĩ chui, bác sĩ chui hay viết chui, đọc chui, nghe nhạc chui, họp hành chui, nhảy đầm chui, dậy chui, học chui, nghe giảng chui, cứu lụt chui, làm lễ chui, chịu lễ chui, dự lễ chui …

Vì phở quốc doanh “không có người lái”, cà phê quốc doanh không có người uống, cửa hàng quốc doanh không có hàng bán, tu sĩ quốc doanh không có tín đồ, bác sĩ quốc doanh không có bệnh nhân, văn sĩ và thi sĩ quốc doanh không có độc giả …; do đó, mới có phở chui, cà phê chui, hàng hóa chui, bác sĩ chui, tu sĩ chui , văn sĩ chui, thi sĩ chui …

Với thời gian, những sản phẩm và những hoạt động quốc doanh mỗi lúc một thêm tồi tệ, và khả năng bao cấp của nhà nước mỗi lúc một thêm xuống cấp nên những sản phẩm và sinh hoạt chui (từ từ) biến dạng. Chúng biến nhanh đến độ cả nước phải ngỡ ngàng và cả Ðảng phải bàng hoàng. Cà phê chui (underground) bỗng trở thành cà phê internet.

Và đây không phải là hiện tượng “chui lên” (rất đáng phàn nàn) duy nhất. Như mới hôm nào, nông dân còn nhẫn nhục trồng chui vài ba liếp rau, nuôi lén con gà con qué để cải thiện rồi tự nhiên … cả tỉnh Thái Bình đùng đùng nổi giận và nổi loạn.

Tương tự, tu sĩ và giáo dân của mọi tôn giáo cũng thôi kiếp sống chui nhủi mà họ đã phải chịu đựng từ hơn nửa thế kỷ qua. Họ đã cương quyết đứng lên đòi lại quyền ” tự do tôn giáo hay là chết “, và sẵn sàng vào tù hay tự thiêu để bày tỏ sự quyết liệt của mình.

Chưa hết, làm lễ chui tuốt ở trên núi như những đồng bào sơn cước thì ai mà biết và ai mà để ý, vậy mà người Thượng cũng đã quyết định thôi … chui. Họ đứng dậy đòi lại đất đai và quyền tự do tôn giáo đã bị cướp đoạt từ bao lâu nay.

Cũng vậy, chuyện đàn đúm và hội họp chui trong thời gian vừa qua đã được Ðảng và Nhà Nước làm ngơ mà giới sĩ phu Bắc Hà vẫn chưa bằng lòng. Họ được chân lân đầu. Họ mạnh dạn xé rào mà bước tới. Bữa nay có ông còn đòi lập đảng và qúi ông qúi bà khác thì đòi lập hội này hội nọ…

Nói tóm lại là toàn dân (bỗng) hết chịu chui. Ðã đến hoàn cảnh này thì Ðảng và Nhà Nước đành … chui! Theo nguồn tin của AP đánh đi ngày 27 tháng 9 năm 2001 thì trước đó một hôm, nhà đương cuộc Việt Nam đã lập hai toà án chui tại Ðắc Lắc và Gia Lai để xử lén 14 người dân sơn cước từ 6 đến 15 năm tù – về những tội danh như sau: “xúi dục nổi loạn”, “làm mất an ninh công cộng” và “chống chính phủ” – vào tháng Hai vừa rồi.

Bốn ngày sau, ngày 1 tháng 10, Reuter loan tin rằng cả Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền lẫn Hội Ân Xá Quốc Tế đều đã lên tiếng tố giác “những phiên toà chui õ áp đặt những bản án khắc nghiệt cho mười bốn người thiểu số” (closed trials to impose harsh prison terms on fourteen minority people).

Hai tuần sau nữa, trong một vụ xử chui khác – tại tỉnh Thừa Thiên, vào ngày 9 tháng 10 năm 2001 – linh mục Nguyễn Văn Lý cũng bị lãnh án 15 năm tù vì đã: ” vi phạm luật quản chế ” và ” phá hoại đoàn kết dân tộc” (Ly was found guilty of violating a probationary order and the more serious charge of “undermining national unity“. “Priest’s 15-Year Jail Term A Blow To Reform Efforts.” South China Morning Post, 22 October, 2001).

Cùng vấn đề này, trong bản tin của báo Người Việt, số ra ngày 20 tháng 10 có nhiều chi tiết thú vị hơn: “Trong một phiên xử kín chỉ có một buổi, chỉ những nguời có giấy phép tham dự mới được vào, và kẻ bị lôi ra tòa không có quyền biện hộ, không có luật sư. Linh mục Nguyễn Văn Lý năm nay 54 tuổi, bị kết án 15 năm tù về hai tội danh: Không thi hành lệnh quản chế (2 năm tù) và phá hoại đoàn kết dân tộc (13 năm)”.

Bản án 15 năm dành cho những người dân sơn cước và linh mục Nguyễn Văn Lý (nghe ra) có vẻ hơi dài, nếu so với những ngày tháng còn lại – có thể đếm được – của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Trong bản tin “Về Cuộc Ðấu Tranh Cho Tự Do tôn Giáo Ở Huế” (phát hành ngày 9 tháng 10 năm 2001), có một tiểu mục mang tựa đề ngộ nghĩnh như sau: ” Bọn cướp ngày đang âm thầm ‘làm đêm’ tại Thiên An”. Khi một chế độ phải sử dụng quyền tư pháp lẫn hành pháp vào “ban đêm” như thế có nghĩa là nó sắp phải … chui – đúng như sự dự đoán của dân gian:

Từ hang Pắc Bó chui ra
Vươn vai một cái rồi ta chui vào.

Vấn đề hiện tại cần quan tâm, theo thiển ý, không phải là sự an nguy của đồng bào Thượng hay của linh mục Nguyễn Văn Lý mà là sự chuẩn bị (tối thiểu) để xây dựng lại quê hương – sau khi bọn ngợm chui trở lại vào hang. Chúng ta có quá nhiều tổ chức, quá nhiều hội đoàn và quá nhiều “lực lượng” (cùng với vô số những hoạt động không cần thiết) nhưng – dường như – không có ai lưu tâm đến những việc “tối thiểu” nói trên.

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | 1 phản hồi

Tấm Lòng Con Bẩy Ðưa Ðò

Ngày xưa, tại vàm Cái Cau có một cô gái nổi tiếng vì nhan sắc, thùy mị và hò hay.

Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nuớc. (Sơn Nam. “Con Bẩy Ðưa Ðò”. Hương Rừng Cà Mau). *

Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sống trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc.

Thuở còn con gái, tình cờ cổ gặp rồi thương một người trên sông Cái Lớn. Chàng đẹp trai, đứng đắn, từng trải và lịch thiệp. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không “thuộc diện” … thường dân, không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lưá và sống an phận thủ thường – như những đám lục bình trôi nơi ao hồ sông rạch. Nói gì thì nói, chàng vẫn nhứt quyết lên đường – nằng nặc đi theo tiếng gọi của non sông.

“Lúc chia tay, con Bẩy nói:

– Bao giờ chàng trở lại em xin chờ.

“Chàng cười mà đáp:

– Cảm ơn.

– Lời em hứa là chắc. Hay là chàng không tin nơi lời nguyền của gái đưa đò.

– Ðâu phải vậy. Chỉ sợ tôi không giữ đúng lời hứa…Chí trai bốn biển là nhà. Không có sức như chim bằng, như cá kình chớ phận con se sẻ, con tép, con tôm này cũng học đòi ngao du trong vòng đất nước nhỏ hẹp.

“Dứt lời chàng đứng dậy cất mái chèo. Con Bẩy xúc động rưng rưng nước mắt. Duyên may một đời chưa chắc gặp hai lần.”

– Vậy thì xin chàng dậy cho em một hai câu hò để em nhớ đời.

– Cô hò đã hay mà lại có duyên. Tôi còn biết gì mà dậy thêm. Họa chăng chỉ có một tấm lòng này…

“Một tấm lòng!” Con Bẩy mãi suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại thì chàng đã khuất dạng trong lớp sương khuya.”

Cô Bẩy chờ hoài, chờ hủy nhưng người xưa không bao giờ trở về bến cũ. Thời gian thì đâu có chịu đợi ai. Tuổi đời khiến cô Bẩy Ðưa Ðò phải bỏ nghề và xoay ra bán thịt heo bên hông nhà lồng của chợ Vàm. Thịt luộc của dì Bẩy nổi tiếng là “ngon hết biết” luôn.

Một hôm, có người năn nỉ xin chỉ cho cách luộc thịt heo. Dì Bẩy thoáng ngậm ngùi:

– Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.

– Công phu là thế nào dì Bẩy?

– Ở đây, hồi đó có người nói là cần “một tấm lòng“.

Tấm lòng của dì Bẩy, của chàng trai mà dì đã trao duyên – đối với nhau, cũng như đối với đất nước non sông – sao mà thiết tha và cao đẹp quá chừng, quá đỗi. Một đất nước đầy nhóc những con dân với tấm lòng quả cảm và vị tha như thế thì “kẻ thù nào mà không đánh thắng, khó khăn nào mà không vượt qua”, và mọi người đều có quyền đặt nhiều kỳ vọng ở tương lai của dân tộc chớ – đúng không?

Tưởng vậy mà không phải vậy đâu nha! Từ hơn nửa thế kỷ qua, sau khi được động viên để đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, rồi bị kéo lê kéo lết qua hết trở ngại này đến trở ngại kia, người dân Việt in tuồng như kiệt sức. Tấm lòng của họ đối với tha nhân cũng như đối với xã hội và tổ quốc (chắc) không còn nữa.

“Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải giữ gìn các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… Con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá (Phạm Xuân Ðài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ, Hoa Kỳ 1994, 32-33).

Và những chuyện “thô bạo” hay “tệ quá” như thế không phải chỉ xẩy ra ở Hà Nội mà thôi. Ðó là “chuyện thường ngày vẫn xẩy ra ở huyện” và là tình trạng chung của cả nước mà.

Tổ quốc đã trở thành đao phủ…Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc… Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc hăm hoạ, khống chế bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường…Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp…Tổ quốc đểu cáng và lật lọng. Tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày… nguời dân phải chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng.” [Nguyễn Gia Kiểng. Tổ Quốc Ăn Năn. Paris 2001, 570 – 571).

“Chịu đựng” mãi, hết thế hệ này sang thế hệ khác, khiến luân lý và đạo đức của người dân Việt cứ suy yếu dần và có nguy cơ phá sản.”Ý thức xã hội rất thấp, trước một khó khăn chung thì phản xạ ứng xử là tìm lối nhỏ để thích nghi riêng. Lâu ngày nhược điểm ấy phát triển thành thói vị kỷ, vô cảm và trơ trơ trước nỗi đau chung” (“Dắt Tay Nhau Ði Dưới Những Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ.” Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 201). Thản hoặc, có vài ba người chịu không nổi “trước nỗi đau chung” lên tiếng đòi hỏi những cải cách đổi thay tối thiểu để cải thiện tình trạng “tệ quá” của xã hội thì lần luợt đều bị hăm dọa, khống chế, sách nhiễu, đấu tố, quản thúc, tù đầy…trước sự dửng dưng (“vô cảm và trơ trơ”) của những người còn lại!

Chỉ trong vòng tháng 10 năm 2002, đã có mấy chuyện kỳ dị như sau xẩy ra ở Việt Nam – xin ghi lại theo thứ tự thời gian:

Ngày1 tháng 10 năm 2002, cả đài VOA lẫn hãng thông tấn DPA cùng loan tin hai công dân Việt Nam là ông Phạm Trọng Sơn và bà Nguyễn Thị Thảo đã bị kết án 3 năm và 8 tháng tù vì tội “biểu tình gây rối trật tự công cộng”.

Ngày 22 tháng 10 năm 2002, tại thành phố Ban Bê Thuộc, tỉnh Ðắc Lắc ba công dân khác (ông Y Tim Ê Ban 34 tuổi, Y Coi B Krông 30 tuổi, và Y Tho Mas Ê Ya 47 tuổi) bị kết án tám năm tù và hai năm quản chế vì tội… “ép buộc người khác trốn đi nước ngoài” – nếu ghi theo như nguyên văn bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam và nhật báo Nhân Dân, số ra ngày 24 tháng 10 năm 2002.

Còn theo bản tin của Xinhua News Agency, phát đi ngày 30 tháng 10 năm 2002, ba nhân vật vừa nêu bị kết tội “kích động dân chúng địa phương trốn ra khỏi nước” (The defendents were found guilty of inciting local people to flee the country). “Kích động” (incite) và “ép buộc” (force) là hai hành động hoàn toàn khác hẳn nhau.

Làm thế nào để có thể “ép buộc người khác đi nước ngoài”, có lẽ, là điều mà những thông tín viên ngoại quốc không thể nào hiểu nổi. Do đó, họ “đành” phải chuyển ngữ “sai ý” của viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Ðắc Lắc!

Mà ba ông Y Tim Ê Ban, Y Coi B Krông và Y Thomas Ê Ya đã “xúi dục hay khích động” dân chúng cách nào vậy cà? Họ cho cán bộ đóng chốt trong nhà nạn nhân rồi tuyên truyền rỉ tai hay chõ loa phóng thanh vào nhà con người ta và nói ra rả suốt ngày rằng:”đừng ở với “bọn xấu, bọn ác, bọn bất lương, bọn khốn nạn” đó nữa và bằng mọi cách phải chạy khỏi tụi khốn nạn, tụi chó đẻ…’ đó đi…” – hay sao?

Cứ cho là ba ông Y Tim Ban, Y Coi B Krông và Y Thomas Ê Ya có làm đúng như thế chăng nữa, việc khuyến khích hay kêu gọi người khác bỏ đi khỏi một vùng đất mà “nếu cái cột đèn có chân nó cũng không chịu ở” thì cũng là chuyện “tốt thôi”, chớ đâu phải là một cái “tội” – hả Trời? Căn cứ vào hình luật nào để nhà đương cuộc Hà Nội kết án ba người dân Ban Mê Thuộc 8 năm tù và 2 năm quản chế?

Cũng thế, ông Phạm Trọng Sơn và bà Nguyễn Thị Thảo (hai cư dân ở Phú Nhuận, Sài- Gòn) đã lãnh một bản án gần 3 năm tù, chỉ vì đã biểu tình phản đối chính sách giải toả nhà đất bất công của nhà cầm quyền địa phương – sau khi điền sản của họ bị tịch thu và đã làm đơn khiếu nại nhiều lần không có kết quả!

Chưa hết đâu, cuối tháng 10, vào ngày 30, báo Nhân Dân lại hân hoan sung sướng loan tin “Hai Tên Tội Phạm Ra Ðầu Thú”. Hai ông Y Sú Nie (58 tuổi) và Y Khai (không rõ tuổi) – cả hai đều là cư dân của huyện Ma Ðrac, tỉnh Ðắc Lắc – đã ra “đầu thú” và đã nhận tội “móc nối với những thế lực phản động ở nước ngoài để hoạt đông chống phá nhà nước Việt Nam“!

Cách đây chưa lâu – vào khoảng tháng tư 1988, nếu tôi nhớ không lầm – giới truyền thông của làng Ba Ðình, Hà Nội cũng hớn hở chạy một bản tin tương tự về một nhóm Fulro ra “đầu thú” tại tỉnh Lâm Ðồng. Cái đuợc mô tả là nhóm Fulro kể trên gồm có … năm người: hai đứa bé (có đứa mới mười mấy tháng), một ông già, một phụ nữ, và một người đàn ông trung niên có trang bị vũ khí – một cái… cung!

Nhóm người này, may mắn, không bị kết án “móc nối” với bất cứ ai. Lý do, tôi trộm nghĩ, vì Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Lâm Ðồng không đủ bằng chứng để buộc tội. Cung và tên không thể dùng để khều hay móc bất cứ cái gì. Khi “ra đầu thú”, ngoài cung tên và xà gạc trên vai ra, tôi sợ rằng hai ông Y Sú Nie và Y Khai đã trót dại cầm theo một hay hai cái … cù nèo gì đó!

Làm sao để “lôi kéo, ép buộc người khác trốn đi nước ngoài” (nếu ghi nguyên văn theo tiêu đề của báo Nhân Dân http://www.nhandan.org.vn/vietnamese/20021024/bai-tsdem24.html) là chuyện mà tôi e rằng chỉ có Trời hay Yàng mới biết. Còn làm cách nào để “móc nối với những thế lực phản động quốc tế” bằng những cái cù nèo thì chắc có lẽ ngay cả đến Yàng và Trời, cùng với Phật Chúa thánh thần các thứ hợp sức lại, cũng phải chào thua thôi!

Có thể vì không hoàn toàn am tường tiếng Việt (nhất là cái thứ xảo ngữ của những “toà án nhân dân” ở miền xuôi) và vì thấp cổ bé miệng nên những đồng bào miền núi đành chấp nhận những những tội danh và những bản án dành cho họ. Chuyện không đành lòng là thái độ dửng dưng của cả hàng triệu triệu người Việt khác trước những lời buộc tội ngang ngược và xấc xược như thế của nhà đương cuộc Hà Nội.

Mềm nắn rắn buông  hay được chân lân đầu  là thái độ và chiến thuật  cố hữu của đảng CSVN. Vì mọi người đều im lặng, nghĩa là “đồng lòng”, với những “bản cáo trạng” tháng 10 nên qua tháng 11 họ thản nhiên kết án một công dân khác (ông Lê Chí Quang) bốn năm tù và ba năm quản chế vì những tội danh rất mơ hồ: “tuyên truyền chống nhà nước” và “gây nguy hại nền an ninh của nước CHXHCVNVN”!

Họ tiếp tục áp chế cả dân tộc Việt vì tin rằng sẽ không gặp một phản ứng nào đáng kể, đến từ bất cứ ai. Tấm lòng của chúng ta đối với nhau, cũng như đối với non sông đất nước, đâu còn nữa! Họ đã cố tình giết cho nó chết và chúng ta thì đành lòng để cho nó …chết luôn. Có phải vậy không? Tôi ước ao là đã vừa nói bậy và sẽ có vô số dịp để hối hận về sự hàm hồ và nông nỗi của mình, trong những ngày tháng tới!

Tưởng Năng Tiến

(*) Sách được in lại (và in “lậu”) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tuổi Ba Mươi

Khổng Tử (551 – 479 B. C.) sinh sống trước công nguyên. Ở thời đại của ông, tuổi thọ của con người hẳn ngắn; bởi vậy, vấn đề lập thân đã được đặt ra (hơi sớm) vào tuổi ba mươi. Tam thập nhi lập.

Ðến thời Apollinaire (1880 – 1918), tuổi thọ của nhân loại dường như cũng chưa lấy gì làm dài; do đó, nên mới hai mươi bẩy tuổi mà ông thi sĩ này đã lo lắng bồn chồn vì cuộc sống “không được như ý” của mình:

Je vais avoir vingt – huit ans.
Mal vecu à mon envie.
(Tôi sắp hai mươi tám mất rồi.
Mà đời thì vẫn rất lôi thôi. tnt)

Tới cuối thế kỷ hai mươi thì (ôi thôi) phần lớn nhân loại đều trở nên lè phè thấy rõ. Tiêu chuẩn “tam thập nhi lập” gần như bị lãng quên, và nỗi lo lắng “gái ba mươi tuổi đã toan về già” cũng không còn được mấy ai chia sẻ. Nói theo ông Phạm Thế Mỹ – tác giả bản nhạc “Trăng Tàn Trên Hè Phố”, sáng tác vào khoảng cuối thập niên 1960 ở miền Nam Việt Nam – chúng ta sống ở “tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ …”

Thực phẩm dồi dào và y tế tiến bộ đã làm tăng tuổi thọ và kéo dài tuổi trẻ. Ðó thực là điều đáng qúi. Duy có điều đáng tiếc là hương vị phong phú của những năm tháng thanh xuân không phải là món quà tặng được mang chia sẻ đồng đều cho tất cả mọi người. Với một phần nhân loại, dù đang ở tuổi ba mươi, chuyện áo cơm và những quyền sống tối thiểu vẫn còn là điều xa xỉ. Xin đơn cử một vài trường hợp, về những kẻ không may mắn ấy.

Ông Lê Văn Hạnh, một công dân Việt Nam, ba mươi tuổi, sống bằng nghề vá ruột xe. Vì làm ăn ế ẩm nên ông Hạnh đã “kiếm thêm khách hàng” bằng cách lấy căm xe đạp mang cắt khúc, đập dập hai đầu và bẻ cong thành hình chữ Z, rồi đem rải trên xa lộ cho xe cán. Ngày 7 tháng 3 năm 99, ông Hạnh bị bắt quả tang khi đang rải đinh trên đoạn đuờng từ cầu Rạch Chiếc đến ngã tư RMK. Toà án nhân dân huyện Thủ Ðức đã kết án ông ta tám năm tù, về tội “phá hoạïi tài sản của nhân dân” – theo như tin đã loan của nhật báo Thời Luận, phát hành từ Los Angeles, số ra ngày 10 tháng 7 năm 99.

Mười ngày sau, tôi lại đọc phải một bài báo khác, về một trường hợp không may khác: Ông Lê Sức, một nông dân Việt Nam, góa vợ, 32 tuổi, vì mùa màng thất bát nên bỏ thôn quê lần vào thành phố. Ông không đi ăn xin hay đi bán máu để sống qua ngày, như những người Việt khác vẫn thường làm – khi lâm vào hoàn cảnh tương tự; thay vào đó, ông Sức tìm cách mưu sinh bằng cách buôn bán vặt vãnh trên đường phố.

Ông ta bưng một cái khay nhỏ, chào mời du khách mua hàng, trước cửa một viện bảo tàng mới khai trương ở Khe Sanh – Quảng Trị. Ông bán những món hàng cũ kỹ – những thứ đã có lúc là vật dụng tùy thân quen thuộc của những chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam – đại loại như dao, nĩa, bật lửa, đồ cạo râu cũ, và độ hơn một chục cái thẻ bài. Giá ông ta rao bán thẻ bài là 5 Mỹ Kim 3 cái.

And all of them are fakes. Tất cả đều là đồ dởm, theo tường thuật của ký giả Mac Donald – “Battling ‘Ghoulish’ Trade In Dog Tags Sale Of Counterfeit Items Offends Officials And U.S. Veterans Groups,”(San Jose Mercury News, 17 Mar. 1999:A15). Cũng theo bài báo này thì “business” của ông Lê Sức bị kết án hết sức nặng nề bởi cả hai phía: Hoa Kỳ và cộng sản Việt Nam.

Về phía Hoa Kỳ, một đại diện của tổ chức cựu chiến binh “American Legion” đã phát biểu rằng đây là một việc bẩn thỉu. Về phía Việt Nam, ông Vũ Khắc Nhu – phó giám đốc Văn Phòng Tìm Kiếm Người Mất Tích (the Vietnam Office for the Search of Missing Persons) – tuyên bố rằng Hà Nội đã nghiêm cấm việc này, và công an đã bắt nhiều người buôn bán hài cốt cũng như những vật dụng tùy thân của lính Mỹ.

Như thế, ông Lê Sức, một “nông dân thất bại” – a failed farmer, nếu ghi nguyên văn theo Anh Ngữ của Mark Mc Donald – bỗng trở thành một “doanh gia thất nghiệp”. Với sự lục đục cố hữu trong quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Ðốn (trong tương lai gần), tôi còn ngại rằng – nếu có bất cứ “sự cố” nào liên quan đến thương ước Việt / Mỹ – ông ta còn có thể bị kết án là đã “làm phương hại đến bang giao Mỹ / Việt”. Tội danh này, trong hoàn cảnh “tế nhị” hiện tại, dám bị coi đồng nghĩa với chuyện … “phá hoại kinh tế nhà nước”!

Nếu chỉ vì làm thủng vài cái bánh xe đạp của nhân dân mà ông Lê Văn Hạnh phải lãnh một bản án tám năm tù thì chuyện làm hỏng thương ước giữa hai quốc gia, e rằng, có thể khiến ông Lê Sức phải đi cải tạo đến … tám chục năm hay hơn nữa (không chừng).

Phen này, ông ta chắc chết – chết chắc. Tuy thế, nghĩ cho cùng, dù bị kết án bao nhiêu năm tù chăng nữa, những vấn đề pháp lý liên quan đến ông Lê Sức không nhằm nhò gì (và cũng không có gì đáng để ầm ỹ) nếu so sánh với tội danh của một nhân vật khác – một người đàn ông khác, thuộc giới trí thức, cũng ở tuổi ba muơi, ông Lê Chí Quang.

Theo biên bản của cuộc đấu tố hôm 19 tháng 10 năm 2001 tại Hà Nội (được ghi lại và phổ biến trên internet bởi ông Ðặng Kim Giang, một người láng giềng của ông Lê Chí Quang) thì ông Quang đã bị đảng ủy và công an phường, thay mặt thành phố và Trung ương, kết án bẩy tội (động trời) như sau:

–          Hoạt động có tổ chức.
– Phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.
– Phủ nhận chủ nghĩa xã hội ưu việt và tươi đẹp con đường mà đảng, bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn…
– Phủ nhận tính đúng đắn và sự trong sáng tuyệt đối của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
– Nhận tiền của đế quốc và nước ngoài để hoạt động chống đảng và nhà nước.
– Thành lập hội chống tham nhũng bất hợp pháp.
– Tổ chức phát tán tài liệu phản động của các thành phần chống đối trong và ngoài nước…”.

Chuyện ông Lê Chí Quang “hoạt động có tổ chức” và có “nhận tiền của đế quốc để chống đối nhà nước” hay không thì tôi (hoàn toàn) mù tịt nhưng việc ông ấy “phủ nhận tính đúng đắn và trong sáng tuyệt đối của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, cũng như “phủ nhận chủ nghĩa xã hội ưu việt và tươi đẹp” thì cả thế giới ai cũng biết. Chính ông Quang đã nhiều lần xác nhận như vậy:”Theo tôi được biết, tất cả những nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin hoặc làm theo học thuyết Mác-Lênin đều đói nghèo, lạc hậu, mất dân chủ và đều đã sụp đổ. Chúng ta rồi cũng không thể tránh khỏi vết xe đổ đó. Những kẻ dóng dả họïc thuyết Mác-Lênin chẳng qua chỉ cốt để duy trì sự thống trị vĩnh viễn cho tiện bề vơ vét và bóc lột nhân dân” (Lê Chí Quang, “Góp Ý Sửa Ðổi Hiến Pháp,” Thông Luận, tháng 10 năm 2000, tr. 07).

Sau khi miệt thị chủ nghĩa Mác-Lênin và lãnh đạo, ông ấy còn đi xa hơn nữa bằng cách làm “sứt mẻ” tình cảm giữa “ta” và nước xã hội chủ nghĩa bầu bạn anh em khác – bởi những lời lẽ rất không ôn hòa và (hình như) hơi vô căn cứ, đại loại như:”Việt Nam trong con mắt Trung Quốc là một miếng mồi ngon có vị trí chiến lược về địa lý, chính trị, lại là miếng mồi dễ nuốt nhất vì được sự hậu thuẫn của các thế lực đen tối, bảo thủ và tay sai luồn sâu leo cao trong bộ máy nhà nước (http://www.conong.com/chiquang_1018.htm).

Tất nhiên không phải mọi thanh niên Việt Nam ở lứa tuổi 30 đều là những phần tử “bất hảo” như ba nhân vật vừa kể. Bên cạnh những kẻ chuyên môn “phá hoại tài sản của nhân dân” như ông Lê Văn Hạnh, “phá hoại bang giao Việt Mỹ” như ông Lê Sức, hay phá hoại “tình hữu nghị Việt Hoa đời đời bền vững” như ông Lê Chí Quang”… thì vẫn có những công dân gương mẫu – những người luôn luôn sống trong khuôn khổ, chỉ thích sống trong khuôn khổ vì đã quen như thế, và (có lẽ) cũng không biết gì khác thế hay hơn thế.

Xin đơn cử một nhân vật tiêu biểu cho loại người này, đó là ông Nguyễn Việt Nam. Trong bức thư ngỏ gửi cho ông Lê Chí Quang (được luân lưu trên internet, và in lại trên Nguyệt San Cánh Én – phát hành từ Ðức Quốc, số tháng 12 năm 2001), ông Nguyễn đã tự giới thiệu về mình và nhắn nhủ với ông Quang như sau:

“Anh Lê Chí Quang thân mến, theo như lời giới thiệu trên báo Cánh Eùn thì anh là một cán bộ (?) trẻ, cử nhân luật, năm nay ngoài 30 tuổi. Như vậy, tôi cũng trạc tuổi anh. Một điều giống nhau nữa, tôi cũng sống ở Hà Nội. Ðiều khác là tôi không được can đảm như anh. Tôi không dám trực tiếp góp ý cho đảng (Cộng Sản Việt Nam) và nhà nước (chuyên chính vô sản). Tôi không dám ghi tên thật dưới những bài viết của mình, mặc dù đó chỉ là những bài ký và chuyện ngắn. Anh còn ghi cả địa chỉ và số điện thoại dưới mỗi bài viết của anh nữa.

Ðọc những bài viết của anh tôi thấy ý kiến anh nêu lên thẳng thắn lắm. Chỉ có điều chúng không chứa đựng một điều gì mới mẻ cả, không thể hiện một thái độ trí thức. Tất cả những điều anh góp ý cho chính quyền đương đại ở Việt Nam đều được mọi người biết cả rồi…”

“Nguyễn Việt Nam”, chắc chắn, chỉ là bút hiệu hay biệt hiệu gì đó. Ông Nguyễn, như đã tự nhận, chưa bao giờ dám ghi tên thật dưới những gì mình viết – kể cả khi viết một bức thư. Và ông ta hoàn toàn không có vẻ bối rối hay xấu hổ gì ráo, khi “thể hiện thái độ trí thức” của mình, với cung cách ấy!

Trong một bức thư ngỏ khác, gửi một vị thầy học cũ (cũng được in lại trên nguyệt san Cánh Eùn, số đã dẫn), ông Nguyễn còn đặt vấn đề như sau:” Giả dụ chính quyền ở Việt Nam hiện nay sụp đổ thì có ai hay tổ chức chính trị nào xứng đáng để chèo lái đất nước tiến lên không? Chắc là không có! Ðây không phải là nghi vấn của riêng tôi mà còn là của một bộ phận đông dân chúng. Nguời dân lo sợ rằng, một chính quyền mới có khi chỉ làm cho tình hình tồi tệ và rối ren hơn.”

Ông Nguyễn đúng là một người sinh trưởng “trong lòng cách mạng”. Thái độ “cẩn trọng” của ông ta khiến tôi nhớ đến một hiện tượng tâm lý (rất không bình thường) gọi là “institutionalization”, trong khoa tâm thần học. Có những tù nhân hay bệnh nhân xin được ở lại (hoặc tìm cách trở lại) nhà giam hay bệnh viện tâm thần chỉ vì họ quá quen với cuộc đời bị giam hãm sau bốn bức tường. Nói cách khác họ không còn khả năng hội nhập với nếp sống tự do và độc lập, như những người bình thường nữa.

“Ngoài lòng cách mạng”, nghĩa là từ hải ngoại, người Việt có một thái độ hoàn toàn khác. Ông Nguyễn Xuân Hiệp, một thành viên của Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên (cũng vào lứa tuổi ba mươi) và là trưởng ban tổ chức của buổi ra mắt Dự Án Chính Trị của Tập Hợp này – vào ngày 25 tháng 11 năm 2001, tại thành phố San Jose, tiểu bang California. Khi ngỏ lời chào mừng quan khách đến tham dự, ông Nguyễn Xuân Hiệp đã tuyên bố nguyên văn và “chắc nịch như sau:”Chế độ cộng sản là chế độ độc tài cuối cùng trong lịch sử nước ta” – theo tường thuật của ký giả Lâm Văn Sang, trên tờ Việt Mercury, số ra ngày 30 – 11- 2001.

Thái độ quyết liệt và dứt khoát của ông Lê Chí Quang và ông Nguyễn Xuân Hiệp, đối với chủ nghĩa cộng sản và chế độ hiện hành ở Việt Nam, khiến tôi hoá băn khoăn. Những kẻ đang nắm quyền bính ở nơi đây không hy vọng gì thu được thuế từ những công dân nghèo khốn như ông Lê Văn Hạnh, hay ông Lê Sức. Họ cũng không được sự đồng tình của những người thuộc thành phần ưu đãi hơn, dù ở trong hay ngoài nước -như ông Lê Chí Quang hay ông Nguyễn Xuân Hiệp.

Thành phần duy nhất còn lại ủng hộ chế độ, như ông Nguyễn Việt Nam, lại không phải là những một kẻ … bình thường. Vì nghi ngại rằng “không có ai hoặc không có tổ chức nào xứng đáng để chèo lái đất nước tiến lên” nên ông Nguyễn mới “chịu” sống vĩnh viễn trong nghèo đói, dốt nát và áp bức cho nó … đỡ mất công – thế thôi! Lập luận của ông Nguyễn khiến tôi nhớ đến câu ngạn ngữ: “Nếu vì sợ què chân mà bạn không dám bước đi thì có khác chi chân bạn đã bị què rồi”!

Những đồng tiền viện trợ và những kẻ bệnh hoạn (như ông Nguyễn) không có khả năng kéo dài sự sống cho bất cứ một chế độ nào. Và chuyện “người dân lo sợ rằng một chính quyền mới có khi chỉ làm cho tình hình tồi tệ và rối ren hơn …”, nghĩ cho cùng, cũng không phải là sự lo sợ hoàn toàn viển vông và vô căn cớ. Xóa bỏ nghèo đói, kỳ thị, bệnh tật, sợ hãi, tham lam, dốt nát, oán thù … không phải là chuyện “tự nhiên” có thể xẩy – qua đêm – ở bất cứ nơi đâu.

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?