sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Bãi Mả

Phi kỳ quỉ nhi tế chi, siểm giã.
(Luận ngữ: Vi chính, II)

Trong những câu thơ bút tre, một loại thơ đang lưu truyền rộng rãi ở Việt Nam, tôi thích nhất hai câu:

Tin nghe như xét đánh ngang
Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần!

Khách quan mà nói, ý thích của tôi dễ gây ngộ nhận là mình có ác cảm hay tư thù chi đó với ông Hồ Chí Minh. Xin thưa: dù không có cái hạnh của nguời quân tử, và dù chỉ là một thuờng dân đứng bến, tôi hoàn toàn và tuyệt đối không hề có cái ý nghĩ tiểu nhân như thế. Tôi khoái hai câu thơ trên chỉ vì sự duyên dáng của chính nó, vậy thôi. Có những câu thơ bút tre khác nữa, cũng nói đến cái chết của ông Hồ, tôi lại không thích mấy — thí dụ như:

Tin nghe như xét đánh gần
Bác Hồ đang sống từ trần chuyển sang!

Hoặc:

Vào trong hang Bác âm u
Chị em phụ nữ dở “mu” ra chào!

Riêng hai câu này, theo thiển ý, đã kém duyên dáng lại thiếu phần thanh nhã. Nó diễn tả sự khinh miệt của “chị em phụ nữ”, một cách quá sỗ sàng, truớc vong linh của ông Hồ Chí Minh. Mà tỏ sự bất kính đối với một nguời đã khuất (cho dù họ là ai chăng nữa) là điều trái với phong tục và văn hoá của dân tộc Việt, ở khắp mọi miền – nhất là miền nguợc, nơi mà phong tục tập quán có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày hơn ở miền xuôi.

Nhân nhắc chuyện phong tục / tập quán của miền xuôi / miền nguợc, tôi lại chợt nhớ cách đây không lâu, thi sĩ Trần Ðăng Khoa, lúc ao hứng – qua tạp chí Cánh Eùn, số tháng 12 năm 99, phát hành từ Ðức Quốc , trong “Câu Chuyện Bên Bàn Trà” – có tâm sự như sau:”Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Ðam. Nguời Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có nguời chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nuớc ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả. Ðó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với nguời chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn nguời chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần. Tôi cũng đã làm xong cái lễ bỏ mả cho thơ ca thời niên thiếu của tôi.”

Bỏ mả không phải là tục lệ “rất đặc biệt” của nguời Eđê ở Tây Nguyên mà là tập tục chung, ở nhiều nơi, của nhiều nhóm nguời khác nữa.Nguời Roglai, nguời Rhadé, nguời Bahnar, nguời Djarai … ở miền Nam và miền Trung nưóc Việt đều có tục lệ tương tự. Gần bốn mươi năm trước, học giả Toan Aùnh có một bài viết ngắn và rất cô đọng về tập tục này – xin trích dẫn một đoạn ngắn:

“Ðối với nguời Roglai – sắc dân sống rải rác các tỉnh Khánh Hoà, Ninh thuận, Bình Thuận, và Lâm Ðồng – lễ cúng bỏ mả có nghĩa là nguời sống từ giã nguời chết. Lễ này đuợc cử hành sau mùa gặt hái đầu tiên, tính từ ngày nguời chết qua đời. Mùa gặt hái hòan tất, mọi nguời đều rảnh rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh đình lắm. Có giết trâu mổ bò, mới thầy cúng làm lễ cho nguời khuất rồi đãi làng nuớc. Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không đưọc ai chăm sóc nữa.

Nguời Rhadé, đa số sinh sống tỉnh Darlac và Quảng Ðức, cũng có lệ bỏ mả vào mùa gặt năm sau. Nguời nhà ra mộ khóc lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ niệm của người chết cũng chìm dần vào quên lãng.

Người Bahnar — sắc dân sống ở Ðông Nam Kômtum, Tây Bắc Pleiku, và phía Tây Bình Ðịnh — cũng chỉ chăm sóc mộ phần một năm.. Sau đó họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đây không còn ai ngó tới.

( “Tang Lễ Của Ðồng Bào Thượng” – nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, xuất bản tại Sài Gòn , số ra ngày 1 tháng 9 năm 1963).

Trong phần kết luận của bài báo này, Toan Aùnh viết như sau:”Gần đây nhiều đồng bào thuợng đã di cư về gần chúng ta, có lẽ rồi đây phong tục của họ sẽ bị ảnh huởng của chúng ta mà có sự biếncải. Aùnh sáng văn minh đã rọi vào nuớc Việt Nam, lẽ tất nhiên sự tiến bộ của chúng ta sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của đồng bào Thượng, anh em chúng ta.”

Tôi rất qúi trọng tinh thần bao dung, coi tất cả mọi nguời sống trong nuớc Việt đều là anh em đồng bào, của học giả Toan Aùnh; tuy nhiên, khi quan niệm là “có lẽ rồi đây phong tục của họ sẽ bị ảnh huởng của chúng ta mà có sự biến cải” nhưng không viết thêm rằng “và nguợc lại để cùng tiến bộ” thì tôi sợ ông hơi quá tự mãn về phong tục và tập quán của văn hoá miền xuôi. Nói cách khác, và nói một cách hơi vô lễ, tôi e là Toan Aùnh có hơi ethnocentric. (Và nói thiệt tình thì tôi chưa bao giờ gặp được bất cứ một nguời Việt Nam nào, ở miền xuôi, biết tỏ ra khiêm tốn chút đỉnh về văn hoá của họ)!

Giao lưu là hệ quả tất yếu khi có sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều nền văn hoá dị biệt. Ðây không phải là con đuờng một chiều như nhiều nguời vẫn nghĩ. Xin đơn cử một thí dụ về vấn đề này, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở – chuyện “Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần.”

Tập tục bỏ mả của nguời miền cao, tôi trộm nghĩ, có nguồn gốc từ đời sống du canh. Do sự di chuyển không ngừng để tìm đất đai canh tác mới nên cơ hội trở lại nơi chốn cũ thăm viếng mộ nguời đã khuất rất mỏng manh; do đó, người ta cần làm lễ tạ mả để bớt áy náy khi phải bỏ mồ mả nguời thân.

Với thời gian, dân số mỗi lúc một tăng nhưng đất đai thì không. Diện tích canh tác giới hạn không cho phép phương thức canh tác du canh tiếp tục mãi mãi. Con người phải từ dần bỏ nếp sống này và làm quen với đời sống định canh hay bán định canh nơi miền sơn cuớc.

Từ đây, tuy có nhiều cơ hội gần gũi với mồ mả của những nguời đã khuất hơn nhưng tập tục bỏ mả vẫn còn được lưu truyền. Lý do, phần vì văn hoá bao giờ cũng biến đổi chậm hơn những đổi thay trong đời sống thường nhật; phần khác, quan trọng hơn, vì lý do kinh tế.

Khi những phuơng tiện kỹ thuật để hổ trợ cho việc canh tác vẫn còn ở mức độ thô sơ, khi đất đai canh tác bị giới hạn, và khi nhân khẩu mỗi lúc một tăng thì việc “hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nuớc ra mộ” cho nguời đã khuất — theo phong tục của người Eđê, qua lời kể của Trần Ðăng Khoa – là một thứ lễ nghi xa xỉ không thể kéo dài; do thế, bỏ mả là một tập tục thực tế và cần thiết cho chuyện sinh tồn của những nguời còn sống. Cũng theo Toan Aùnh, qua bài báo đã dẫn:” Lễ tạ mả có thể cử hành ngay sau khi chôn cất nếu tang chủ qúa nghèo. Chôn cất xong là thôi, nguời nhà cũng như dân làng không ai nhắc nhở đến nguời quá cố nũa vì mộ đã tạ rồi.”

Tôi uớc ao sao một số những nguời dân “làng Ba Ðình” ( ở đất ngàn năm văn vật) học được một phần nào sự khôn ngoan và thực tế – về tục lệ bãi mả này – từ những đồng bào Eđé, Rhađé, Bahnar, Djarai…của họ. Họ sẽ ra lăng hay ra mả ông Hồ Chí Minh khóc lóc thảm thiết một lần cuối rồi … san bằng nó đi cho cả nuớc được nhờ!

Báo Nhân Dân — phát hành từ Hà Nội, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1999 – có đi tin “Cố Vấn Ðỗ Muời Thăm Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng Hồ Chủ Tịch”. Chỉ cái tiêu đề của bản tin không thôi cũng đủ khiến cho một nguời vô tâm nhất hoá phải băn khoăn. Có cả một Bộ Tư Lệnh để bảo vệ mộ phần của một nguời đã chết sao?

Nguời dân Việt sùng bái ông Hồ Chí Minh đến độ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc mà vẫn hy sinh một lực lượng lao động hàng vạn con nguời chỉ để thoả mãn cái thị dục hiếu danh của ông ta hay sao? Theo chỗ tôi biết, e rằng không phải vậy đâu. Chỉ qua vài câu thơ bút tre, đã dẫn, cũng đủ biết dân chúng chán ngán ông Hồ (và cái lăng thổ tả của ông ấy) đến cỡ nào rồi.

Mà đâu có riêng chi quần chúng. Hãy nghe lời ta thán của một cán bộ cộng sản, ông Hoàng Hữu Quýnh: “…cái nấm mồ của bác quá khổng lồ, quá tốn kém. Dại dột xây to hơn cả nấm mồ của Lê-nin. Cái lăng nằm trơ trọi ở Ba Ðình, trong đó chỉ có một cái xác xanh xao tái nhợt mà có đến hàng ngàn, hàng vạn con nguời cung phụng ở đó…” ( Tôi Bỏ Ðảng, tập I, trích từ Minh Võ. Phản Tỉnh Phản Kháng Thựïc Hay Hư, California: Thông Vũ 1999) .

Vì dân trí thấp, và toàn toàn là đồ mất dậy vô giáo dục, nên không ai nhìn thấu được công ơn của Bác đối với dân tộc Việt chăng? Tất cả thành tích của Hồ Chí Minh đều được thêu dệt, tuờng tượng và ghi lại thành sách bởi chính ông ta nhưng làm bộ đề tên nguời khác — cho nó có vẻ khách quan và khả tín. Loại “sử liệu qúi báu” này được Ðảng khai thác đến cùng để thần thánh hóa ông Hồ, và biến ông ta thành một thứ mộc che cho tội ác của họ. Nó cũng được dịch ra rất nhiều ngoại ngữ để các sử gia nước ngoài có cơ hội tìm hiểu về “thân thế và sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ”, một ông “Thánh Francois bưng biền” Việt Nam, nếu nói theo nguyên văn – một cách cuờng điệu và ngu xuẩn – của một ông ký giả ngoại quốc thổ tả nào đó.

Suốt cuộc đời ông Hồ Chí Minh chỉ chuyên sài bạc giả. Sở dĩ ông ta bịp được nhiều nguời, trong nhiều năm là nhờ vào sự đồng lõa tích cực của cả một băng đảng chuyên làm bạc giả — Ðảng Lao Ðộng Việt Nam.

Cái lăng của ông Hồ Chí Minh cũng chỉ là biểu tượng cho sự tôn kính giả tạo đó mà thôi. Thực chất, “dân làng Ba Ðình Hà Nội” đang thờ cúng ông Hồ Chí Minh như một thứ ma xó (với hy vọng) để giữ nhà và hù doạ những nguời yếu bóng vía. Muốn thế, theo ý tôi, thà nuôi một bầy chó còn ích lợi thiết thực hơn, đỡ tốn kém hơn (và cũng đỡ tuyệt vọng hơn) nhiều!

Tôi thực tình không muốn xía vô chuyện phong tục tập quán và tín nguỡng của bất nhóm nguời nào, kể cả những nguời sống bằng xác chết. Tôi cũng không có lý do gì để cứ tiếp tục đá mãi vào thân xác của một con chó chết. Tôi sẽ thôi không nhắc nhở đến ông Hồ Chí Minh nữa, nếu những nguời “dân làng Ba Ðình Hà Nội” cũng thôi dùng những đồng tiền mồ hôi nuớc mắt của đồng bào tôi vào chuyện thờ phượng ông Hồ. Bòn rút xuơng máu của nguời sống để cung phụng cho nguời chết là điều bất trí. Dựa hơi nguời chết để sống là chuyện bất nhân. Có cái dân tộc nào bất hạnh đến độ phải chịu sự “lãnh đạo” của một đám nguời vừa bất nhân vừa bất trí như vậy không ?

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: