sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Gẫy Súng Rồi Gẫy Viết


Một lời tử tế làm ấm lòng người suốt cả mùa Ðông.
(Ngạn ngữ Nhật Bản)

Tháng 3 năm 1975, lúc đang còn ở lứa tuổi đôi mươi, khi khổng khi không, ông Cao Xuân Huy – một cựu sĩ quan của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, thuộc Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà – giã từ vũ khí. Bỏ súng đạn, dù ở vị thế của một kẻ chiến bại, để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã triền miên tàn phá quê hương đất nước, không chừng, cũng là kỳ vọng hay ước mơ tiềm ẩn của trung úy Cao Xuân Huy (nói riêng) và của cả nước (nói chung).

Sau đó (theo như lệnh của những nguời thuộc phe thắng trận)  ông Cao xuân Huy cầm cuốc, cuốc tới tấp, cuốc túi bụi, cuốc không ngừng, cuốc tưng bừng, và cuốc liên tục (rất nhiều năm) trên những thửa đất … vô phương canh tác – ở nhiều trại cải tạo khác nhau. Ðiều này, dường như, không nằm trong “dự kiến” của cả nước (nói chung) và “học viên” Cao Xuân Huy (nói riêng).

Cây cuốc, một nông cụ rất hữu ích và phổ biến kể từ khi loài người bắt đầu đời sống định canh cho đến hết Thời Trung Cổ, nếu đuợc tận dụng và thiện dụng, trong điều kiện đất đai và thời tiết lý tưởng – may ra – mới có thể mang lại vừa đủ cơm áo cho chính bản thân người sử dụng. Còn dùng thứ cuốc do tập thể làm chủ, bằng hình thức lao động cưỡng bách, trong điều kiện làm việc khắc nghiệt, trên những nông truờng quốc doanh, theo những kế hoạch kinh tế cứng rắn và hoang tưởng, vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi… thì chỉ là một sự phí phạm nhân lực vô cùng tai hại và đáng tiếc– nếu nói một cách bao dung. Nói cách khác, chính xác hơn, đây là một phương cách trả thù hèn hạ đê tiện của những kẻ tiểu tâm.

Bởi vậy, sau khi rời trại cải tạo, ông Cao Xuân Huy đã không đến những vùng kinh tế mới để tiếp tục cuốc cầy – theo ý muốn của những người thuộc phe thắng trận. Ông bỏ đất nước ra đi. Nơi những vùng đất tạm dung, ông Cao Xuân Huy (đương nhiên) được thừa nhận là một người tị nạn. Lý do: “Nơi ông rời bỏ, nếu cái cột đèn có chân nó cũng không thể ở” – và nơi đó, ngoài  lũ cột đèn, vẫn còn vài chục triệu người ngậm đắng nuốt cay ở lại để bảo đảm cho cái căn cước tị nạn chính trị của những kẻ ra đi !

Tháng 3 năm 1975, không phải chỉ có một mình trung úy Cao Xuân Huy bỏ súng. Sau đó, ông ta cũng không phải là kẻ duy nhất bỏ đi. Ông Huy chỉ là một trong hàng triệu triệu dân Việt, trong cơn quốc biến, hốt hoảng, ù té, bỏ chạy; rất nhiều nguời đâm xầm ra biển, lênh đênh, tứ tán, phiêu bạt khắp bốn phương trời.

Giữa ông Cao Xuân Huy và phần lớn những người Việt tị nạn cộng sản khác chỉ có một chút dị biệt nho nhỏ. Sau khi bỏ súng, bỏ cuốc – thay vì cầm kìm, cầm búa hay một dụng cụ nhẹ nhàng nhưng thiết thực nào khác để kiếm sống nơi quê người đất khách – ông Cao Xuân Huy (thương ơi !) lại vớ ngay cây bút, một vật dụng mà hiệu quả trong việc mưu sinh vô cùng giới hạn  và vẫn thuờng gây vô số chuyện phiền lòng (nếu không muốn nói là “tai nạn”) cho khổ chủ!

Ông Cao Xuân Huy trở thành một nhà văn lưu vong (đương đại), nếu nói một cách nghiêm trang, và nói theo kiểu… thời trang, của thời hiện đại. Ông ta chính là tác giả cuốn Tháng Ba Gẫy Súng – một tác phẩm đuợc nhiều nguời tìm đọc (và đã khiến không ít kẻ ngậm ngùi) vì nội dung giản dị nhưng chân thật và bi tráng của nó về cái chết oan ức, tức tưởi của một đạo quân thiện chiến.

Cùng lúc, nhà văn Cao xuân Huy còn tích cực góp phần vào nhiều sinh hoạt văn hoá khác nữa. Có thời ông đã từng là tổng thư ký của tạp chí Văn Học, một tạp chí được tiếng là uy tín và danh giá – dù chưa bao giờ nó có khả năng trả nhuận bút hay thù lao cho bất cứ ai, kể cả chủ bút và chủ nhiệm. Hiện tại, ông Huy đang cộng tác với nhật báo Nguời Việt (tờ báo bề thế nhất của người Việt tị nạn) và là Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – Nam California.

Phần đời tị nạn của ông Cao Xuân Huy – xem ra và trông xa – có vẻ hiển đạt. Trong thực tế, dường như, ông ta không thành công gì cho lắm. Những chức tước hay địa vị (nhà văn, nhà báo, tổng thư ký, chủ tịch…gì gì đó mà ông Cao Xuân Huy đã có can đảm  nhận lãnh) và những công việc liên quan đến chúng – như đã thưa – đều mang lại rất ít, hoặc chả có tí ti lợi nhuận nào.

Theo như cách nói của đời thuờng, ông Cao Xuân Huy là một người ưa vác ngà voi – một việc làm chỉ có khả năng mang lại cho chủ thể sự phong phú thuần túy về phương diện…tinh thần, nếu mọi chuyện diễn biến bình thuờng hay tốt đẹp!

Còn nếu xét toàn thể, khách quan mà nói, cuộc đời của ông Cao Xuân Huy hoàn toàn không suôn sẻ . Ông cầm súng, súng gẫy. Ông cầm cuốc, cuốc cong. Và sự nghiệp cầm bút của nhà văn Cao Xuân Huy, với tư cách là Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút – Nam California (nếu nhích chút xíu vào chi tiết), cũng không ít chuyện não lòng.

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại mà ông Cao Xuân Huy là một thành viên có đến hai vị chủ tịch và chia làm hai hệ phái hay phe phái. Cả hai đều quyết liệt phủ nhận lẫn nhau, và đều không được Văn Bút Quốc Tế thừa nhận.

Nói cách khác, hiện tại, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại có mà như không. Nó ở tình trạng tạm thời không hiện hữu (temporary non existence). Và nó sẽ biến mất vĩnh viễn, “nếu không có sự dàn xếp kịp thời – nghĩa là, nếu chúng tôi không thể thông báo một cách chắc chắn đến Hội nghị Ðại biểu họp tại Moscow , vào tháng 5 năm 2000, là đã có giải pháp ổn thoả cho vấn đề (?) thì tôi tin chắc rằng Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại sẽ bị giải tán vào kỳ họp tới ở Manila vào năm  2001…”– theo như văn thư đề ngày 13 tháng 12 năm 1999 của ông Terry Carlbom, Tổng Thư Ký Văn Bút Quốc Tế, gửi đến nhị vị Chủ Tịch Của Văn Bút Việt Nam. (…if an early settlement is not reached – that is, if we can not reliably inform the Assembly of Delegates in Moscow, in May 2000, that the problem is well on the way to solution ? I am quite sure that the Centre will be disolved at the Assembly of Delegates in Manila in 2001…).

Như thế, nhà văn Cao Xuân Huy (thành viên chủ lực của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút – Miền Nam California) sẽ có nguy cơ bị gẫy bút trong những ngày tháng tới.

Một phần tư thế kỷ trước, trung úy Cao Xuân Huy (và đồng ngũ) vì gẫy súng đã mang đến thảm họa cho nửa phần đất nuớc mà họ được “giao khoán” cho nhiệm vụ phải bảo vệ. Sau đó thêm nửa phần dân Việt phải chịu đọa đầy, và vài triệu người phải sống tha hương. Hậu quả cay đắng này vẫn đang là đề tài tranh cãi giữa những nạn nhân của nó.

Nguời ta vẫn cố tìm cho bằng được thủ phạm của sự thất bại thê thảm và nhục nhã này. Nó thê thảm và nhục nhã đến độ không ai muốn hoặc dám nhận lỗi (dù chỉ một phần) về phía mình. Mọi người đều tìm cách đổ lỗi cho tha nhân, cho phe nhóm khác, cho tôn giáo khác, cho đảng phái khác, cho người bạn đồng minh bất nghĩa, cho đám lãnh đạo bất tài… Chung cuộc, “thủ phạm” vẫn không được nhận diện nhưng không khí nghi kỵ và hận thù bao trùm khắp  cả mọi nơi, và sự phân hoá trong cộng đồng thì kéo dài triền miên từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

Hai mươi lăm năm sau, sau khi gẫy súng, nhà văn Cao xuân Huy (và đồng nghiệp) có nguy cơ sẽ làm gẫy bút. Chuyện này,  đã và đang được tiếp tục tranh cãi (giữa những người trong cuộc) với cùng một tinh thần và phương cách tương tự như về chuyện gẫy súng hai mươi lăm năm trước – nghĩa là (theo như dư luận) sẽ có rất ít hy vọng nhìn thấy “ánh sáng cuối đường hầm”.

Khác với chuyện gẫy súng, nguyên do của việc gẫy bút có phần giản dị  và dễ tìm hơn. Ông Tổng Thư Ký Văn Bút Quốc Tế, trong văn thư dẫn thượng, đã đề cập đến sự “tranh chấp nội bộ” (internal disputes) như là nguyên do chính dẫn đến việc Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại phải tạm ngưng hoạt động từ hai năm qua. Nếu một lời tử tế có thể làm ấm đuợc lòng nguời suốt cả  mùa Ðông, theo như tin tưởng của dân tộc Nhật, thì sợ là đã nhiều mùa Ðông qua nhưng những thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – của cả hai phe – chưa bao giờ gửi đến nhau một lời tử tế. Có chăng (e) chỉ là lời qua tiếng lại, tiếng bấc tiếng chì  mà – đôi lúc – khiến cho kẻ bàng quan cũng phải cau mày vì nội dung vô cùng khiếm nhã  của chúng. Hậu quả, như đã thưa, có thể dẫn đến việc Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại sẽ ngủ giấc ngàn thu.

Cũng có dư luận cho rằng nếu bút viết chỉ  đuợc dùng vào việc bới móc hay vẩy mực (vào mặt lẫn nhau) thì nếu gẫy cũng đâu có gì đáng tiếc. Nói như thế e phũ phàng và giản lược quá chăng ? Sự cáo chung của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nếu xẩy ra, e còn là dấu hiệu chẳng lành cho cả một cộng đồng – chứ chả riêng chi cho những thành viên của nó.

Khi một cá nhân thất bại trong việc học hỏi từ kinh nghiệm, luôn tìm cách đổ thừa mọi lỗi lầm cho kẻ khác, thuờng xuyên sống trong tâm trạng oán hận, không có khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách ôn hòa…là họ có đủ những triệu chứng bất ổn về phuơng diện sức khoẻ tâm thần.

Ở bình diện tập thể, khi một nhóm nguời, một cộng đồng, một dân tộc…cũng có những hội chứng tương tự  (giữa lúc nhân loại đang có xu hướng tiến dần tới một nền văn hoá cách toàn cầu, vào Thời Ðại Thông Tin) thì dù lạc quan cách mấy cũng nên cứu xét – khẩn cấp và nghiêm chỉnh- đến khả năng thích nghi để sinh tồn của họ, trước khi quá muộn !

Giữa những người đồng hương, đồng bào, đồng cảnh và cùng chiến tuyến (như vẫn thường tự nhận) – sao lại có thể tiếp tục sống bên nhau với tinh thần phân hoá, nghi ngại, đố kỵ và thù hận mãi mãi như thế đuợc ?

Và công tâm mà nói, cũng không ai có quyền làm như vậy đâu. Vì ngoài lũ cột đèn (không có chân nên không đi được) còn có vài chục triệu con nguời khác nữa, dù có chân vẫn phải ở lại quê nhà – như những con tin – để bảo đảm với nhân loại về tư cách tị nạn của những kẻ đã ra đi. Như thế, rất khó biện minh cho việc tự động đánh tráo căn cước tị nạn của mình để nghiễm nhiên trở thành du khách về “tham quan” quê hương xứ sở – hàng năm.

Tương tự, không một nguời tị nạn chính trị nào (kể cả những nhân vật  “lãnh đạo cộng đồng” hay những văn thi sĩ “hướng dẫn dư luận”) có lý do gì để tự nhiên biến mình thành những kẻ côn đồ quanh năm suốt tháng chỉ chăm lo và say mê có mỗi một việc là đánh đấm cấu xé lẫn nhau – nơi quê người đất khách.

Trong “Thơ Ngỏ Ngày 20 Tháng 2 năm 200: Kính Gửi Toàn Văn Hữu Và Hội Viên VNVNHN Của Ðặng Văn Nhâm”, một trong hai vị Chủ Tịch của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, có câu kết luận thống thiết như sau: “Tôi mong uớc quí văn hữu kể cả trong và ngoài hội, nếu thấy cần làm gì cỏn con hay nói lên lời tối thiểu nào của lương tri, của lòng trắc ẩn, để giúp sức cứu nguy chính đáng và kịp thời cho văn bút xin quí vị hãy tự động và tùy nghi…

Dù văn thư vừa dẫn không gửi đến những người dân thường, trong tinh thần trách nhiệm chung (và còn nước còn tát), hy vọng những ý kiến thô thiển vừa được giải bầy vẫn sẽ đuợc sự lưu tâm – với sự bao dung – của nhị vị Chủ Tịch, tất cả thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, những vị thức giả, và những nhân vật lãnh đạo cộng đồng.

Hy vọng quí vị sẽ có thể ngồi lại được với nhau, cùng nhau đối thoại với sự tương kính và chân thật để tìm đuợc những giải pháp khả thi cho những bế tắc hiện tại.  Nếu chỉ vì thiên kiến, vì tự ái, vì một chút hư danh hay chỉ vì “hà tiện” gửi đến nhau đôi lời đàng hoàng tử tế …mà nỡ tung hê  mọi chuyện thì e rằng ngay lũ cột đèn ở Việt Nam – nếu chúng  có ruột – chắc cũng phải đau.

Tưởng Năng Tiến


Advertisements

28/01/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: