sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Những Bức Tường Lòng

Khi còn bị phân chia bởi “bức tường ô nhục”, người dân Ðông Ðức hay kể lén câu chuyện sau đây:

Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít lại, tíu tít hỏi thăm:

–          Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không?
– Có chứ.
– Có nhà thương và bác sĩ thú y không?
– Có luôn.
– Có đồ hộp dành riêng cho chó không?
– Có tuốt.
– Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây?
– Tại vì bên âý chúng cấm không cho … sủa!

Năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Dân Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền … được sủa.

Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth – qua bài báo “Bức Tường Ô Nhục Vẫn Ngăn Chia Người Việt”, như sau:

“Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những nguời được mệnh danh là Người Việt miền Tây là những người miền nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.

“Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…”

“… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…”

Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng:”Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (” Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc”).

Nói như thế, nghe (tưởng) đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa “đã miệng” và… “hết ý”! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt -như sau:”Ils ne s’aiment pas” (Họ không ưa nhau đâu).

Cha nội Parisien nào đó đã nói một câu (mới) nghe tưởng tào lao nhưng – không chừng – dám …trúng lắm (à) nha. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Chỉ riêng với với dân Việt thì … không. Nhất định không. Người ngoại quốc có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau – trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin.

Dù đất nước đã “thống nhất” hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân … cưỡng bách vậy.

Theo “truyền thống”, người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của phe mình. Họ “thích” gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ …). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa xuất hiện – tụi … Bắc Cộng! Tụi này nhân danh “cách mạng” để nắm cướp đoạt hết quyền bính và tài sản quốc gia. Sau đó, chúng lập tức hành xử như “mấy chủ nhân ông da trắng thời thực dân” (Vạng Lộc, “Báo Ðộng Nạn Kỳ Thị Của Bắc Cộng,” Việt Báo, 12 Sept. 2002).

Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện … kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị “tưởng” là … “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác.

Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu. Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, ” bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin.

Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện dè bỉu, đố kỵ, chia cách, phân hoá… Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện – dường như – không đại diện cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự- cần người đại diện). Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Cũng thế, mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh!

Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, vài chục con cừu không thể biến thành một đàn cừu được. Vấn nạn của những cộng đồng người Việt hải ngoại là sự dư thừa loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là … chó dại!

Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt ” (Phan Nhật Nam, “Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá,” Nguyệt San Việt Nam, Jan. 2003: 36). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Hà Nội là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên.

Tôi vô cùng tiếc là đã không hoàn toàn chia sẻ được với nhà văn Phan Nhật Nam, một người mà tôi vô cùng qúi mến, về nhận định vừa nêu. Với ít nhiều chủ quan, tôi không nghĩ là Cộng Sản VN còn đủ sức để làm như thế. Cũng như cấp trên của họ ở Hà Nội, những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại (nếu có) cũng chỉ đang lăng xăng kiếm chác và cố gắng (chối chết) để lo một chỗ ẩn thân – trước khi quá muộn! Chính phạm không đến từ bên ngoài. Tôi “nghi” là chúng nằm vùng, từ lâu, trong tâm khảm của tất cả chúng ta.

Khi còn bé, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó, qua lời kể của Schopenhauer, một câu chuyện ngụ ngôn – nội dung (đaị khái) như sau:

Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành … chờ chết!

Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng của chính mình, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự tâm mình, và mỗi người – hay nhóm người – đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì chúng ta (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, và tan nát tanh bành – sau đó.

Tưởng Năng Tiến

Advertisements

28/01/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: