sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Anh Năm Cam Anh Trương Vỗ Và Anh (Chị) Việt Kiều


Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ.
Tú Xương

Theo dõi loạt bài về Năm Cam …tôi cứ suy nghĩ một điều. Năm Cam là tên lưu manh thất học mà đã lũng đoạn hàng ngũ dảng và chính quyền cộng sản như vậy. Các tổ chức đấu tranh xưa nay cũng nhắm đến việc phá hoại và lũng đoạn bộ máy cai trị của cộng sản nhưng đã có tổ chức nào làm được như vậy đâu …
Phan Văn Sách (trích mục “Ý Kiến Ðộc Giả”, bán tuần báo ViệtLuận, Sydney, Australia, số 1692, ngày 5 tháng 7 năm 2002).

Trong cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan, do nhà Văn Nghệ in tại Hoa Kỳ (không ghi năm xuất bản), nơi trang 257, Võ Phiến viết rằng: “các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo được người xấu, kể nổi việc xấu. Ðọc sách ông thơm tho cả tâm hồn.” Khi nghe tôi “mách” lại điều này, nhà văn Doãn Quốc Sĩ mỉm cười hồn hậu:

– Anh ấy vì thương quá mà nói thế thôi…

Khi thương quá hay ghét quá, chúng ta đều hay nói … sảng. Ðó là lẽ thường tình. Ðâu phải đoạn văn nào trong tác phẩm của ông Doãn cũng khiến cho người đọc cảm thấy “thơm tho cả tâm hồn”. Tương tự, không phải tất cả những nhân vật trong truyện kể của ông ấy đều đáng yêu, dễ mến, chân thành, hào phóng, can đảm, chí tình, chung thủy, kín đáo, hiền đức, thánh thiện, lạc quan, tươi mát, quyến rũ, hoạt bát, dí dỏm, khả tín, hồn nhiên, trong sáng, hiền lành, đôn hậu, đẹp đẽ, tài hoa và khỏe mạnh…như nhau. Xin đơn cử một thí dụ: anh Trương Vổ. Vì đôi môi hơi dầy và hàm răng trước bị hô, lại thêm cái tính hay dở trò cớt nhả thô tục với phụ nữ nên anh bị những cô gái trong làng đặt cho cái tên hiệu là Trương Vổ. Tên thật của anh là Chủy. Thân phụ anh ta là một nhà nho lỡ vận, tính tình hiền lành sinh sống bằng nghề chấm số tử vi. Ông mất sớm, nhà nghèo, nên bà mẹ đành phải để con sang làng bên chăn trâu cho một nguời có họ xa.

“Sớm sớm Chủy thường bắt một con cánh cam buộc vào đầu sợi chỉ dài làm đồ chơi cầm tay suốt ngày; về chiều khi con cánh cam đã mệt lả giựt không buồn bay nữa, Chủy đặt nó xuống đất, dí mạnh gót chân lên, lắng tai nghe tiếng vỡ rạn của đôi cánh cứng cùng thân thể của con vật khốn nạn, khi nhất gót chân sang bên Chủy khoan khoái nhìn xuống, con vật đã bị nát bét, phần dưới tiết ra một chất vàng bầy nhầy. Mỗi lần dí gót chân như vậy Chủy nghe xao động trong tiềm thức sức mạnh của bản năng phá hoại và dường như còn vương chút tình cảm hãnh tiến của kẻ thấy mình nắm được quyền sinh sát trên một sinh vật”.

Lớn lên Chủy gia nhập Mặt Trận Việt Minh, và thi hành xuất sắc những nhiệm vụ được giao phó.

“Nhớ lại trước đây, càng những đêm mưa to gió lớn việc đi cảnh cáo Việt gian càng hào hứng. Gõ cửa. Cánh cửa hé mở. Aäp vào, dơ súng lên. Trước bầy người sợ xanh mắt, Chủy lớn tiếng khuyến cáo mấy lời đã thuộc lòng như cháo. Lũ kia gật đầu lia lịa. Không gật đầu sao được. Lời nói nhân danh tổ quốc. Kẻ nói vừa có súng vừa phải lặn lội mưa gió với bao gian nguy. Thường thường nói dứt lời, Chủy hầm hầm xông tới tát hoặc thoi quai hàm mấy cái tùy trường hợp kẻ có lỗi già yếu hay lực luỡng. Có người vì quá thương chồng vội vàng qùi xuống vừa lậy, vừa khóc lóc van xin… Sau mỗi lần đi cảnh cáo, Chủy thấy uy tín Mặt Trận rõ ràng cao cả lên gấp bội, lũ tay sai của địch nhanh chóng tan rã như xà phòng gặp nước. Làm cách mạng thực cũng giản dị và con đường vinh quang của cách mạng thực cũng thênh thang!”

Chủy nhanh chóng trở thành một viên huyện ủy, với bí danh là đồng chí Mạnh, khi mới ở tuổi ba mươi. Anh thích ứng với cuộc sống đầy quyền lực do cách mạng trao phó cũng mau lẹ và dễ dàng như khi được chuyển đổi công tác từ “cảnh cáo” sang “xử tử” Việt gian.

“…Ðội Sam bàng hoàng loạng choạng, ba phát súng lục nổ liên tiếp đều trúng đầu, y ngã xấp xuống, xương sọ vỡ toang, máu hoà với óc phòi ra bầy nhầy. Khi cúi xuống lật ngửa y lên để gài bản án vào ngực, Chủy nhận thấy thêm giây phút cuối cùng vì quá hoảng sợ đội Sam đã bĩnh ra quần, màu vàng thấm ướt đũng trông chẳng khác gì màu vàng phần dưới thân con cánh cam hồi nào bị cậu bé Chủy dẫm cho chết nát.”

Những đoạn văn in nghiêng và để trong ngoặc kép mà qúi vị vừa đọc – đuợc trích dẫn từ cuốn Ba Sinh Hương Lửa (trong bộ truờng thiên tiểu thuyết có tên là Khu Rừng Lau) do nhà xuất bản Sáng Tạo xuất bản năm 1962, tại Sài Gòn – hoàn toàn không thơm tho một chút xíu nào, nếu chưa muốn nói là ngược lại. Anh Chủy (còn có tên là anh Trương Vổ hay đồng chí huyện ủy Mạnh) rõ ràng không để lại một ấn tượng tốt đẹp, hay ho hoặc tử tế gì nơi độc giả.

Tuy vậy, tôi vẫn cứ đọc lại hoài vì (phần nào) nhà văn Doãn Quốc Sĩ giúp chúng ta lý giải được tại sao – hơn nửa thế kỷ qua – những kẻ nắm được quyền bính và vận mệnh của dân tộc Việt có thể nhẫn tâm để dìm sâu cả nước vào trong tình trạng khốn cùng và băng hoại. Họ bắt ép dân tộc lao hết vào cuộc chiến này đến cuộc chiến khác. Họ lạnh lùng đưa hàng trăm ngàn người vào chốn tù đầy, đẩy hàng triệu nguời ra biển, thản nhiên tàn phá môi sinh của nguyên một quốc gia, dửng dưng trước cuộc sống nghèo khốn đến độ cùng quẫn của muôn dân, và thờ ơ trước số phận của hàng vạn đứa bé thơ Việt Nam (đang) phải bán thân – nơi quê người đất khách!

Nghĩ cho cùng, có lẽ không điều gì mà Chủy từ nan nếu nó thoã mãn được ý chí quyền lực và bản năng phá hoại mãnh liệt trong con người anh ấy. Tôi có coi lại cuốn DSM – IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Washington, DC, American Psychiatric Association, 1994) nơi những trang 85, 86,ø87 và thấy rõ là anh Chủy có đủ những hội chứng của một người bị bệnh về nhân cách Chống Phá Xã Hội – Antisocial Personality Disorder, nếu nói theo ngôn ngữ của khoa Tâm Thần Học.

Những kẻ như Chủy có mặt ở mọi nơi và mọi thời. Riêng ở Việt Nam, vào một thời điểm và hoàn cảnh lịch sử nhất định, họ đủ điều kiện thuận lợi để lập băng lập đảng và đã tạo ra một xã hội bất nhân. Tôi (không may) phải sống trong xã hội bệnh hoạn và tàn ác của họ. Tôi (may thay) đã có cơ hội trốn thoát khỏi nơi đó.

Cái thứ người như tôi (loại người yếu ớt tới cỡ mà nếu chả may lỡ dẵm phải một con ốc sên “nghe cái rốp” là liền nổi da gà và cứ bần thần suốt buổi) khi phải đuơng đầu với những kẻ như Chủy thì chịu đời sao thấu! Thua là cái chắc. Bỏ chạy là chuyện bình thường, nếu chưa muốn nói là … khôn ngoan, nếu xét ở bình diện cá nhân.

Tuy nhiên ở bình diện tập thể (theo tinh thần trách nhiệm liên đới tối thiểu) những kẻ bỏ chạy như tôi đều có lỗi với những người không chạy kịp, và nhất là những kẻ vẫn ở lại để tiếp tục chống chỏi lại với cái ác cùng cái xấu và vẫn đang tiếp tục …thua – tiếp tục bị phiền nhiễu, vu khống, đấu tố, bắt bớ, giam cầm, hành hạ, tra tấn…

Nếu anh Chủy và những đồng đảng của anh ấy vẫn cứ giữ nguyên được cái ý chí quyền lực và cái bản năng phá hoại mãnh liệt mãi mãi thì (nghĩ cho cùng) có lẽ chúng tôi – nạn nhân của họ, dù còn kẹt trong vòng vây hay không – cũng đành phải…nuốt hận mà thôi! Nhưng thời gian cho thấy rằng anh Chủy và đồng bọn không ngon lành như vậy. Họ không bảnh như nhiều người đã tưởng. Họ cũng không phải là một thứ băng đảng Mafia như nhiều người đã nghĩ. Họ chơi không tới cỡ đó. Họ hèn hạ và kém cỏi hơn nhiều. Họ chỉ là những tay em cho một anh chị du đãng hạng nhì, cỡ Năm Cam thôi.

Trên tờ Việt Báo, số ra ngày 17 tháng 6 năm 2002, xuất bản tại California, tôi đọc được những nhận xét như sau của nhà báo Vy Anh về anh Chủy và những đồng chí của anh ta: “Vụ Năm Cam cho thấy rõ một điều, giá của Ðảng và nhà nuớc cầm quyền quá rẻ. Năm Cam chỉ là một tay cờ bạc cò con, nhà quê, không “anh chị bự” chút nào, không dám ló mặt ra ánh sáng. Y chỉ làm quen với một số du côn không tên tuổi, bảo kê sòng bài cấp phường khóm, nhà hàng không sao, ổ mãi dâm không tên. Aáy vậy mà ông lớn CS nào y cũng chi phối được. Cứ xem những người dính líu trong vụ án thì rõ : từ Thủ Tướng, Chánh Văn Phòng, Thứ Trường Bộ, Phó Giám Ðốc, Trưởng Phòng sở Công An, Viện Phó Kiểm Soát Nhân Dân Tối Cao y đều móc nối được. Số tiền lót tay, đóng hụi chết, chia chác của y, cao nhứt chưa đến một trăm ngàn đô la. Quá rẻ.”

Dù rẻ và hèn kém đến thế, anh Chủy và đồng bọn vẫn ngang nhiên tiếp tục bắt bớ giam cầm hết nguời này đến người khác trước những tiếng kêu ú ớ, vô vọng cùng với những phản ứng (rất) ngu ngơ và ngù ngờ của tập thể người Việt tị nạn ở hải ngoại. Thế giá của hai triệu đảng viên cộng sản Việt Nam và hai triệu người Việt tị nạn cộng sản, rõ ràng, đều không …”mắc” như nhau. Nói cách khác là đồng giá. Như vậy, hai bên, kể như huề. Chỉ có đại khối dân tộc Việt đang dở sống dở chết ở quê nhà là thua thiệt và thua đậm mà thôi.

Tưởng Năng Tiến

Advertisements

29/01/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: