sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Từ Chế Lan Viên Đến Phạm Hồng Sơn


Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
cầm lên nhấm nháp
chả là nếu anh từ chối
chúng sẽ bảo anh phá rối
đêm vui!
Chế Lan Viên (“Di Cảo” – 1987)


Tôi đã nghe thấy từ “dân chủ” từ lâu nhưng chưa bao giờ được nghe và được đọc để hiểu bản chất thực sự của nó là gì và nhiều cái hiện được gọi là “dân chủ” có thực sự là dân chủ không?
Phạm Hồng Sơn (“Thư Gửi Ông Nông Ðức Mạnh” -2002)


Thi sĩ Chế Lan Viên sinh năm 1920, bác sĩ Phạm Hồng Sơn chào đời năm mươi năm sau đó. Giữa hai ông có một khoảng cách khá xa về tuổi tác, và hoàn cảnh sống. Tôi nhỏ tuổi hơn Chế Lan Viên và lớn tuổi hơn Phạm Hồng Sơn. Nói một cách hơi kiểu cọ, tôi là người thuộc thế hệ bắc cầu. Và hôm nay, vì rảnh, tôi tình nguyện làm gạch nối cho câu chuyện (thời sự) liên quan đến hai ông.

Trước khi bàn tiếp về họ, tôi xin được phép nói thêm xíu xiu nữa về mình. Ðúng ra, tôi chỉ xin vài phút để kể lại một mẩu kỷ niệm rất ngắn, vào thưở ấu thời thôi.

Khi còn nhỏ, cũng giống như bao nhiêu đứa bé mất dậy (khó dậy hay khó nuôi) khác, tôi trốn học hoài à. Và nếu không đi câu cá, bắn chim hay xem phim cọp, tôi và mấy đưá bạn thường lân la ra chợ xem Sơn Ðông Mãi Võ – nếu may mắn vào đúng lúc họ đang bán thuốc ở thành phố bé bỏng của chúng tôi.

Với lũ trẻ con sống trong những phố thị của miền Nam – vào thưở thơ ấu của tôi – xem Sơn Ðông Mãi Võ là một thú vui mà dường như đứa nào cũng khoái. Chưa cần đến nơi, chúng tôi đã cảm thấy hào hứng và bị kích thích bởi âm vang của tiếng trống cùng tiếng phèng la. Vòng người bao quanh đông và rộng. Lũ nhóc chúng tôi thì háo hức len người vào sát tận phiá trong.

Ngay giữa sân là một tấm phản gỗ đóng lỉa chỉa những hàng đinh mười phân, thẳng tắp và nhọn hoắc. Một người mang dầy ba ta, mặc quần túm ống, bắp thịt trên tay nổi cuồn cuộn nằm ngay lưng trên đó. Vài người lui cui xếp những chồng gạch thẻ trên bộ ngực để trần, vạm vỡ của ông ta. Một nguời khác, trông cũng lực lưỡng không kém, dơ cao búa tạ,ï đập thật mạnh vào chồng gạch.

Tôi cố nén một tiếng kêu thảng thốt và nhắm vội mắt lại cho đỡ sợ. Nhưng không có gì để sợ mà chỉ có tiếng vỗ tay vang dội mà thôi. Gạch vỡ tan như bụi, người đàn ông thản nhiên đứng dậy. Ông cầm chai ruợu, rót đầy ly, ực một hơi cạn láng, rồi khà một tiếng vô cùng sảng khoái. Người đứng cạnh ngậm rượu phun phì phì và xoa mạnh tay lên lưng ông ấy.

Sau đó, đương sự xoay một vòng cho mọi nguời xem. Chỉ có những vết đinh nhọn đâm đỏ ửng da chứ không hề thấy máu. Khán giả lại trầm trồ khen ngợi. Ông ta cung tay, trang trọng tỏ dấu cảm ơn, rồi bắt đầu … quảng cáo!

– Ðây là Thần Tửu Lực (lùng – tùng – xà).
– Ðược chế biến bằng cao hổ cốt, mật trăn và mật gấu (lùng- tùng- xà).
– Có pha thêm sâm nhung, cùng với hải cẩu bổ thận hoàn, theo công thức gia truyền (lùng – tùng- xà).
– Ai có cha già mẹ yếu (lùng- tùng- xà), ai có chồng con hàng ngày phải làm việc nặng (lùng- tùng- xà), ai trèo cao té nặng bị đọng máu bầm (lùng- tùng- xà)… uống Thần Tửu Lực đều thấy công hiệu và gia tăng sức khoẻ (lùng- tùng- xà)…
– Giá thường một chai là hai chục đồng (lùng- tùng- xà), thay mặt ông chủ (lùng tùng xà), xin đại hạ giá còn mười đồng một chai (lùng tùng xà), hôm nay để cảm tạ thịnh tình của bà con cô bác (lùng-tùng-xà), ai mua một chai (lùng- tùng-xà) chúng tôi tặng không một chai nữa (lùng- tùng- xàø) …
– Quí ông quí bà ăn trầu nhả bã (lùng- tùng- xà), hút thuốc phà hơi (lùng tùng xà), chỉ cần bỏ ra mười đồng là có hai chai Thần Tửu Lực (lùng tùng xà), để dành trong nhà (lùng- tùng- xà) phòng khi bệnh tật (lùng tùng xà)…
– Ông Hai bên nầy mua một chai (lùng- tùng- xà), tặng không một chai (lùng tùng xà).
– Bà Hai bên kia mua hai chai (lùng-tùng-xà), tặng không hai chai khác (lùng tùng xà).
– Thần Tửu Lực còn có công dụng tráng dương (lùng tùng xà), chồng uống vợ khen ngon (lùng tùng xà), ông uống bà khen tốt!
– Buồn buồn nhậu chơi “sương sương” vài ly (lùng-tùng-xà) cũng lên tinh thần (lùng tùng xà) và vui nhà vui cửa (lùng tùng xà)…

Những người bán thuốc Sơn Ðông thường không ở lâu bất cứ nơi đâu. Họ di chuyển trước khi ‘‘bà con cô bác” thấy rõ được giá trị mơ hồ của những món hàng đã bán. Lũ bé con chúng tôi thì chả mua bán gì ráo nên không có gì để mà phiền hà. Tất cả những “gánh” Sơn Ðông Mãi Võ đều được chúng tôi đón chào nhiệt liệt. Tôi ước sao mình cứ giữ được mãi cái tâm cảm háo hức và nồng nhiệt như thế với cuộc đời và với mọi người.

Người đời và dòng đời, tiếc thay, thường hơi…lộn xộn. Khi những năm tháng ấu thơ đã qua đi, thời gian còn lại (thường khi) chỉ là những chuỗi ngày mỗi lúc một dài và một thêm … khó sống! Tôi vĩnh biệt tuổi thơ, từ giã gia đình và học đường rất sớm. Tôi bỏ thành phố mù sương (cùng với đám bạn bè thân thuộc) để đi vào chiến chinh, lửa đạn – khi chưa đến tuổi đôi mươi. Rồi tôi bị bắt giam và (cuối cùng) tôi đã bỏ chạy khỏi phần quê hương tù ngục của mình – dù thực tâm tôi không muốn thế!

Trong quãng đời lưu lạc, thỉnh thoảng, mỗi khi có dịp, tôi vẫn hỏi thăm về những người mãi võ Sơn Ðông. Ai cũng lắc đầu cho biết là họ không còn nữa. Thoạt nghe, tôi cũng thoáng thấy buồn; tuy vậy, nghĩ cho cùng, đây là một chuyện đáng mừng.

Dù đói nghèo, dù thất học, dù bị đủ thứ thế lực giam hãm mãi trong cùng quẫn, sự hiểu biết của đồng bào tôi (rồi) cũng tăng tiến dần dần – theo với thời gian. Những lời quảng cáo cách quá xa sự thực về sự vạn năng, chữa được bá bệnh, của những thần dược (cỡ như Thần Tửu Lực) không còn sức thuyết phục được bất cứ ai. Thêm vào đó, từ hơn một thập niên qua, nhà nước Cộng Sản Việt Nam cũng đã chủ trương đổi mới, mở cửa nên hàng hoá thuốc men từ thế giới bên ngoài đã có mặt ở nhiều nơi. “Cao đơn hoàn tán” của những “gánh” Sơn Ðông không còn được dùng như thuốc để trị “bá bệnh” nữa!

Duy có điều đáng tiếc là người ta chỉ chịu thay đổi ít nhiều trong lãnh vực kinh tế thôi. Về phương diện chính trị thì nhà đương cuộc Hà Nội vẫn cứ tiếp tục đường lối và chính sách y như cũ. Họ vẫn tiếp tục diễn trò mãi võ Sơn Ðông …

Ngày 4 tháng 3 năm 2002, trong hội nghị lần thứ 5 của ban chấp hành trung ương Ðảng khóa IX – ông Nông Ðức Mạnh, đương kim Tổng Bí Thư của ÐCSVN, đã “khẳng định dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu là động lực phát triển kinh tế – xã hội – đất nước được xác định rõ trong chủ trương, đường lối hơn 72 năm qua của Ðảng” (Nhân Dân 04/03/02). Qua ngày hôm sau, cũng tại hội nghị này, ông vẫn nhắc lại ý đó và còn trích dẫn thêm “đôi lời vàng ngọc” của ông Hồ Chí Minh : “Dân chủ là cái quí báu nhất của nhân dân, thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” (Lao Ðộng 05/03/02). Trong dịp này, ông Mạnh còn nhắc nhủ toàn thể đảng viên rằng Ðảng không chỉ hứa hẹn xuông mà “lời nói phải đi đôi với việc làm”.

Sau ông Hồ, và trước ông Mạnh, nhiều người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã đều lớn tiếng ca tụng và đề cao dân chủ, theo kiểu chiêng trống phèng la (lùng- tùng- xà) ồn ào như thế. Ai cũng “khẳng định” rằng “dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa” và “chế độ ta dân chủ gấp trăm lần thứ dân chủ giả hiệu của phe tư bản …” – dù chính người nói, cũng như kẻ nghe, đều biết rằng :”nói vậy chớ không phải vậy đâu!”

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
cầm lên nhấm nháp
chả là nếu anh từ chối
chúng sẽ bảo anh phá rối đêm vui…!

Cho đến lúc viết di cảo, Chế Lan Viên mới dám thú nhận là suốt đời mình đã bị cho ăn toàn là bánh vẽ. Thái độ can đảm này, tuy muộn, vẫn khiến tôi quí mến ông ta ở “nhất điểm lương tâm” đó. Tôi sẽ quí ông hơn, nếu ông thành thật hơn …tí nữa! Ông đã không dám từ chối cái bánh vẽ của Ðảng CSVN không phải là vì nể “chúng sẽ bảo rằng anh phá rối đêm vui” mà (đúng ra) là vì … sợ!

Mà sợ là phải chớ. Có ai dám trách ai về chuyện này đâu. Mấy ai không sợ khủng bố và “bạo lực chuyên chính vô sản” của những người cộng sản, vào thời điểm đó? Nhưng thời đó đã qua (lâu lắm) rồi! Những người thuộc thế hệ mới ở Việt Nam hôm nay, những kẻ sinh trưởng “trong lòng cách mạng” – như Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Thư Lê…. đâu có chịu nghe cái thứ ngôn ngữ quảng cáo về dân chủ- theo như kiểu Sơn Ðông Mãi Võ nữa. Họ cũng thẳng thắng từø chối dự những bữa tiệc vui, thiết đãi bằng … bánh vẽ!

Ðảng CSVN tổ chức hội nghị toàn quốc để sơ kết việc thực hiện chỉ thị 30/CT/TW của bộ chính trị (khoá VIII) về việc xây dựng và thực hiện qui chế dân chủ chấm dứt vào ngày 5 tháng 3 năm 2002…thì ngay hôm sau, 6 tháng 3 năm 2002, Phạm Hồng Sơn đã gửi thư cho Nông Ðức Mạnh và lịch sự khen rằng đó là “Những Tín Hiệu Ðáng Mừøng Cho Dân Chủ Tại Việt Nam”. Tuy nhiên, liền sau đó, Phạm Hồng Sơn cho biết ông chỉ được “nghe đến dân chủ” nhưng “chưa bao giờ biết được bản chất thực sự của nó là gì” nên đã bắt toàn đảng phải thử trước xem món hàng dân chủ mà họ vừa rao bán cho mọi người là thật hay giả đã.

Phạm Hồng Sơn đòi hỏi phải làm cho dân chúng nhận thức được thế nào là dân chủ vì, theo (nguyên văn) lời ông “…nếu người dân không xác định được như thế nào là Dân chủ thì làm sao dân chúng có thể phát hiện và ngăn chặn các vi phạm Dân chủ của người khác (đặc biệt là người lãnh đạo), khi đó “chiếc chìa khóa vạn năng” bị cất đi hoặc bị đánh tráo bằng chiếc chìa khóa vạn năng giả, người dân cũng không thể biết được. Và như thế, nghị quyết vẫn chỉ nằm trên tờ giấy hoặc chỉ được phát vào không khí…!

Phạm Hồng Sơn cũng thách thức đảng CSVN “hãy công bố các góp ý, kiến nghị với đảng và nhà nước của những nhân vật như Hoàng Minh Chính, Trần Ðộ, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Trần Khuê, cũng như nhiều ý kiến đóng góp, thậm chí phê phán của những người Việt Nam định cư ở nước ngoài – theo đúng như châm ngôn “lời nói phải đi đôi với việc làm” mà Nông Ðức Mạnh nhắc đi nhắc lại hôm 5 tháng 3 tại hội nghị vừa qua.

Chỉ giản dị có thế thôi mà ba tuần sau, ngày 29 tháng 3 năm 2002, Phạm Hồng Sơn bị công an mời lên làm việc rồi “biến mất luôn”. Ðến ngày 18 tháng 4 năm 2002, theo tường thuật của AFC, gửi đi vào lúc 5 giờ 59 phút sáng, từ Hà Nội, Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters sans frontières – RSF) đã lên tiếng phản đối việc bắt giữ ông Sơn, và kết án nhà đuơng cuộc Hà Nội đã mưu toan loại bỏ quyền tự do phát biểu ý kiến của người dân.

Nói cách khác, “cái bánh dân chủ” mà CSVN vừa quảng cáo ồn ào đã được Phạm Hồng Sơn mang ra thử và đã có kết quả ngay: vẫn chỉ là bánh vẽ! Chuyện này không làm ai ngạc nhiên, nó chỉ khiến cho một số người dân làng Ba Ðình ở Hà Nội đâm ra lúng túng và bối rối. Rõ ràng họ vừa bị bắt gặp quả tang đang rao bán một món hàng giả hiệu. Do đó, họ đã bắt ông Phạm Hồng Sơn. Họ phải dấu ngay nhân chứng.

Bước kế tiếp phải lo là tang chứng, và đây mới thực sự là chuyện phiền hà. Cái thời mà đảng CSVN bắt buộc được người khác phải nhấm nháp bánh giả rồi làm bộ khen ngon, hay liếm cho sạch hết tội ác của họ đã qua rồi! Bây giờ chính họ sẽ phải ăn bằng hết những của giả mà mình đã tạo ra thôi. Xem chừng không dễ nuốt đâu. Nó cũng khó như việc họ sẽ phải đương đầu với thế hệ của Phạm Hồng Sơn vậy. Chuyện này lôi thôi lắm, lôi thôi lâu và (chắc chắn) sẽ lôi thôi lớn. Ở Việt Nam bây giờ đâu phải chỉ có một mình Phạm Hồng Sơn là cần phải bắt, đúng không?

Tưởng Năng Tiến
3/02 – 6/03


Advertisements

29/01/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

%(count) bình luận »

  1. ĐƠN KÊU CỨU

    Kính Gửi: Ngài Tổng Thống Mỹ, Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, ủy Ban Nhân Quyền Của Liên Hợp Quốc, Ngài Đại Sứ Mỹ Và Các Ngài Đại Sứ Các Nước, Các Tổ Chức Và Cá Nhân Thực Sự Vì Nước Vì Dân Việt Nam

    Hai hộ gia đình chúng tôi là Nguyễn Thị Nga và Phạm Văn Quý là công dân của nước CHXHCN Việt Nam. Hiện trú tại xã Hố Nai 3 và Bắc Sơn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.
    Điện thoại: 0918 072 918.
    Vì không thể trông mong, chịu đựng thêm việc làm vi phạm hiến pháp và luật của chính quyền tỉnh Đồng Nai cũng như của thủ tướng, chính phủ Việt Nam đối với quyền cơ bản của chúng tôi nên chúng tôi làm đơn này khẩn thiết kính mong Ngài Tổng Thống Mỹ, Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, ủy Ban Nhân Quyền Của Liên Hợp Quốc, Ngài Đại Sứ Mỹ Và Các Ngài Đại Sứ Các Nước, Các Tổ Chức Và Cá Nhân Thực Sự Vì Nước Vì Dân Việt Nam lên tiếng can thiệp giúp đỡ chúng tôi là những dân đen Việt Nam thấp cổ bé họng một việc như sau:
    Vì chưa có nhà ở ổn định nên những người dân đen chúng tôi bỏ ra số tiền mồ hôi nước mắt đã dành dụm mua đất đã có giấy đỏ của ông Xuyên bà Lụa.

    Chính quyền nhà nước đã thu nhiều thứ thuế hết mấy chục triệu đồng từ việc mua bán này bao gồm thuế mua bán đất, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ rồi còn cấp giấy đỏ cho chúng tôi.

    Như vậy chúng tôi mua bán ngay tình, hợp pháp và theo hiến pháp và pháp luật thì đảng và nhà nước Việt Nam phải bảo vệ và tôn trọng quyền sử dụng đất này.
    Hiến pháp và pháp luật của đảng và nhà nước Việt Nam là như vậy nhưng không thể tưởng tượng được; cũng chính những người nhân danh đảng và nhà nước này là chính quyền tỉnh Đồng Nai mà cụ thể là phó chủ tịch tỉnh- Huỳnh Thị Nga , tệ hơn cả lũ đạo tặc đã ra lệnh cho ủy ban huyện Trảng Bom tịch thu đất đai và giấy đỏ của chúng tôi mà không hề đền bù một cắc bạc nào kể cả tiền thuế mấy chục triệu chúng tôi đã nộp cho chính họ từ việc mua bán đất này.

    Ba năm nay chúng tôi đã liên tục gửi hàng trăm lá đơn kêu oan, khiếu nại, tố cáo đến khắp các cơ quan đảng, nhà nước, tòa án của cả hệ thống chính trị Việt Nam để đòi lại công bằng, đòi lại mồ hôi nước mắt của mình, đòi lại quyền cơ bản của con người nhưng các cơ quan đảng và nhà nước từ tỉnh đến trung ương vẫn dẫm đạp lên hiến pháp và pháp luật do chính họ ban hành, bỏ mặc làm ngơ không giải quyết để trả lại đất hoặc cho chúng tôi một cắc bạc nào.
    Kính Thưa Ngài Tổng Thống Và Các Quý Ngài!
    Mấy trăm triệu đồng việt nam là mồ hôi nước mắt mà chúng tôi đã bỏ ra để nộp thuế và mua đất so với những quan chức Việt Nam giàu có thì chẳng đáng kể gì nhưng nó là cả khối tài sản lớn mà chúng tôi đã dành dụm. hơn thế nữa qua việc chính quyền tỉnh tịch thu đất của chúng tôi một cách trắng trợn trái pháp luật nhưng chính phủ, thủ tướng dù đã nhiều lần nhận đơn khiếu tố kêu oan của chúng tôi vẫn làm ngơ bỏ mặc có thể nói lên một điều: ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều luật nhưng hễ luật nào dùng để trừng phạt nhân dân thì được chính quyền thực thi triệt để, còn luật nào bảo vệ nhân quyền thì chính quyền dẫm đạp công khai.
    Vì lẽ đó, vẫn biết rằng thì giờ của các ngài vô cùng quý báu, hy vọng được các vị quan tâm thật mong manh nhưng chẳng còn biết cậy trông và kêu cứu với ai nên chúng tôi tha thiết kính xin Ngài Tổng Thống Mỹ, Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, ủy Ban Nhân Quyền Của Liên Hợp Quốc, Ngài Đại Sứ Mỹ Và Các Ngài Đại Sứ Các Nước, Các Tổ Chức Và Cá Nhân Thực Sự Vì Nước Vì Dân Việt Nam lên tiếng giúp đỡ để hành vi hành xử như đạo tặc “ thu thuế xong tịch thu luôn tài sản hợp pháp vừa nộp thuế” của chính quyền như nêu trên phải bị lên án, quyền cơ bản của con người phải được tôn trọng.
    Chúng tôi xin chân thành biết ơn và kính chúc quý ngài những lời chúc tốt đẹp!
    Đồng nai, ngày 8 tháng 3 năm 2010
    Đồng kính đơn

    Nguyễn Thị Nga và Phạm Văn Quý

    Bình luận bởi Nguyễn Thị Nga | 24/03/2010 | Phản hồi


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: