sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Kết Đoàn và ”Tiếng Chày Trên Sóc Bombo”


Ngày đi, Đảng gọi Việt gian
Ngày về Đảng lại chuyển sang Việt kiều
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.

(Cao dao thời mới)

Nói vậy chớ (có khi) không phải vậy. Không phải ai “về Đảng (cũng) chuyển sang Việt Kiều” một cách gọn gàng, dễ dàng, và trìu mến như vậy đâu. Còn tùy vào cách về, và nơi về nữa à nha. Về không đúng chỗ, và đi bằng xe … Molotovav là (kể như) chết mẹ!

Báo Nhân Dân – số ra ngày 16 tháng 3 năm 2002 – có đăng một mẩu tin (rất ngắn) về chuyện “đi và về cùng một nghĩa như nhau,” như sau:

“Ngày 15 tháng 3, tại cửa khẩu Lệ Thanh, huyện Ðức Cơ, tỉnh Gia Lai, các cơ quan chức năng của tỉnh tiếp nhận 35 người vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia trở về quê hương. Những người trở về vui mừng xúc động khi được trở về tổ quốc. Nhiều người khóc vì ân hận đã bị kẻ xấu lừa bịp…”

Cũng báo Nhân Dân, vài tuần trước đó, số ra ngày 5 tháng hai năm 2002, có nguyên một bài phóng sự, về chuyện hồi hương, với cái tựa rất dài và nội dung (hoàn toàn) khác hẳn:

“Hai Buổi Gặp Mặt Thân Mật Giữa Các Vị Lãnh Đạo Ðảng, Nhà Nước Với Kiều Bào Việt Nam Về Thăm Quê Hương Nhân Dịp Tết Nguyên Đán Nhâm Ngọ”.

Xin trích một đoạn ngắn:

(Tại Hà Nội), ”… những người có mặt rất phấn khởi và xúc động lắng nghe Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh đọc bài phát biểu gửi toàn thể bà con Việt Kiều.”

Thêm một đoạn (ngắn) nữa:

(Còn ở Sài Gòn), ”… phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm và bí thư thành ủy Nguyễn Minh Triết đã thay mặt Đảng và Nhà Nước bầy tỏ sự tin tưởng và mong muốn cộng đồng kiều bào Việt Nam ở nước ngoài – một bộ phận không thể tách rời của dân tộc – tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa, thiết thực hơn nữa vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước”.

Ủa, cùng là dân “vượt biên trái phép” hết trơn, và ai cũng ra đi chỉ vì “nghe theo lời bọn xấu” (chỉ trừ những cái cột đèn không có tai và không có chân nên mới chịu ở lại) nhưng sao cái cách mà Ðảng và Nhà Nước đón tiếp những người trở về tại Sài Gòn hay Hà Nội – rõ ràng – ồn ào và đình đám hơn ở tỉnh Gia Lai, vậy cà? Mà Cao Miên cũng là nước ngoài chớ bộ, đúng không?

Trong những trang sổ tay trước, khi đề cập đến vụ này, người viết đã (ngây thơ) mà rằng:

”Tôi không tin là có sự kỳ thị Kinh-Thượng trong vụ này. Tôi cũng không dám nghĩ là có sự đối xử phân biệt giữa “Việt Kiều” và “Thượng Kiều” ở nước ta đâu. Nghĩ như vậy (lỡ trật) mang tội chết mẹ.”

“Do đó, tôi phỏng đoán, sự dị biệt (chả qua) là vì vấn đề phong tục. Thượng Kiều về không đúng lúc, không phải dịp Tết, vậy thôi. Tết mới vui chớ. Ngày thường, ai cũng bận thấy mồ tổ, đâu có rảnh mà lên tới tuốt Gia Lai để đón tiếp người về cho được.”

”Nếu không vì phong tục thì (có lẽ, tôi trộm nghĩ) cũng chỉ vì phong thổ mà thôi. Tại Thượng Kiều về không đúng chỗ mà. (Wrong time and wrong place, too). Thay vì đi bằng xe tải đến tỉnh Gia Lai, nếu họ dùng phản lực cơ, đáp cái ào xuống phi trường Tân Sơn Nhất (rồi lon ton đi vô cổng, với chút đỉnh tiền đô kẹp hờ trong passport) thì chuyện đón tiếp – không chừng – đã khác!”

Tuy chuyện đón tiếp có hơi lạnh nhạt nhưng cuộc sống của những kẻ hồi hương rồi cũng đâu vào đó, và cũng vui như tết, theo như lời tường thuật của ông Huỳnh Lê Nhật Tấn – tác giả bài viết “Gió Núi”, đăng trên tập san Hợp Lưu số 89 (phát hành từ California) tháng 6 & 7 năm 2006:

“Tôi cảm tưởng cuộc hành trình về với Tây Nguyên mừng lễ đón bằng của Unesco, nhuộm thắm săc màu không gian Cồng Chiêng sống động, đã khơi dậy trong lòng tôi ngọn lửa Cao Nguyên ngàn đời quyến rũ…”

“Từ sớm tôi tranh thủ thức dậy lang thang vào từng khu phố chợ Pleiku. Mới biết là mỗi buôn làng chỉ đâm vài cây số đường là đến phố, từng đoàn người dân tộc Baba, Ê – Đê, trên lưng họ là chiếc gùi đựng đầy rau quả và ngô hái trên nưong rẫy bầy ra bán khắp chợ, người mua kẻ bán bắt đầu nhộn nhịp cho ngày mới bắt đầu ở Pleiku…Tôi cho rằng lễ hội đoàn kết cộng đồng người anh em Tây Nguyên là niềm vui lớn…”

Niềm vui lớn lao của tác giả, tiếc thay, rất tương phản với phúc trình buồn bã của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW), được phổ biến cùng lúc, vào ngày 14 tháng 5 năm 2006:

“Nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giữ, hạch hỏi, và ngay cả tra tấn những ngươi dân tỵ nạn thiểu số Tây Nguyên khi họ trở về Việt Nam từ các trại tỵ nạn của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Cambodia” (Vietnamese authorities have detained, interrogated, and even tortured Montagnard refugees and asylum seekers who have returned to Vietnam from U.N. High Commission for Refugee (UNHCR) camps in Cambodia, Human Rights Watch said in a report released today).

Và điều đáng tiếc hơn nữa là phúc trình của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền lại hoàn toàn phù hợp với bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam, đọc được vào ngày 21 tháng Sáu năm 2006, là toà án nhân dân tỉnh Dăk Nông đã tuyên xử từ 5 đến 7 năm tù 6 người dân miền núi có tên như sau: Y Khen, Y Klan, YDjê, Y La, Điểu Quyền, Điểu Xuôi.

Lý do: “Hành vi của Y Khen cùng đồng bọn đã gây chia rẽ các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, phá hoại chính sách đại đoàn kết các dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây hoang mang dao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và an ninh chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”

Bằng cách nào để qúi ông Y Khen, Y Klan, YDjê, Y La, Điểu Quyền, Điểu Xuôi “đã gây chia rẽ các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền” và đã “gây hoang mang dao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và an ninh chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số” là chuyện mà (có lẽ) chỉ có Yàng hay Trời mới biết được. Và ngay cả Trời với Yàng (nói riêng) và toàn thể dân tộc Việt Nam (nói chung) cũng không ai, không – một – ai, có xíu xiu khái niệm gì về cái gọi là “chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà Nuớc Việt Nam.”

Để có thể tìm hiểu (chút đỉnh) về vấn đề này, cách duy nhất là thử nhìn lại xem người CSVN đã thực thi “chính sách đại đoàn kết dân tộc” ra sao – kể từ lúc họ nắm được quyền bính đến nay.

– Vào những năm đầu của thập niên 1950, nhân danh chuyện “cải cách ruộng đất,” họ đã “nâng thành phần” vài trăm ngàn nông dân (ở miền Bắc Việt Nam) lên thành phú nông hoặc trung nông, để mang ra đấu tố, rồi giết hại.

– Cuối thập niên 1960 (trong cái gọi là Trận Tổng Công Kích Mậu Thân) họ đã chôn sống hàng chục ngàn người dân miền Nam, sau khi dán cho nạn nhân cái nhãn hiệu là “thành phần ác ôn”, cần phải thủ tiêu.

– Cũng chính họ – trong một phần tư thế kỷ – đã chia người dân miển Bắc thành nhiều giai cấp riêng biệt và dùng chính sách tem phiếu “gạo ngô, từng lạng từng cân (để) cắt nhỏ tình thâm cốt nhục” của mọi gia đình.

– Sau đó, sau khi chiếm được cả nước, họ đã khai tử cấp kỳ (cái được mệnh danh là) Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Mặt Trận Giải Phóng Tây Nguyên. Rồi họ phân định dân chúng miền Nam ra nhiều thành phần khác (đối nghịch hoặc thù nghịch với nhau) để bắt cả trăm ngàn “ngụy quân” vào trại cải tạo, lùa hàng triệu gia đình “ngụy dân” đi kinh tế mới, đánh cho tán gia bại sản những kẻ bị gọi là “tư sản mại bản.”

– Rồi cũng chính họ đã biến cả nuớc Việt Nam thành một trại tù ngột ngạt, đói khát khiến hàng mấy triệu nguời đã phải liều chết để bỏ trốn, và ít nhất là một phần tư trong số những người này đã vùi thây dưới lòng biển Đông vì lạc huớng hay vì giông bão.

Nếu đúng là các ông Y Khen, Y Klan, YDjê, Y La, Điểu Quyền, Điểu Xuôi – cũng như hàng ngàn những người dân thiểu số khác, đang bị giam cầm ở Hà Nội – đã phá hoại tình đoàn kết dân tộc bằng cách tham dự vào một trong những tội ác tầy trời vừa kể thì những nhân vật này cần phài bị bắt giữ, để bảo đảm an toàn cho toàn xã hội.

Bằng không, hãy trả những người dân chân chất đáng thương này lại cho núi rừng cao nguyên, nơi mà đã có thời đều đặn vang lên những tiếng chầy – như “Tiếng Chầy Trên Sóc Bombo” – khi cả bản làng cắm cúi “giã gạo ban đêm vì ngày bận làm mùa,” để … nuôi cách mạng!

Bất nhân, bất tín, bất nghĩa, bội bạc, ác độc … là thuộc tính của đám dân dưới miền xuôi – đặc biệt là ở làng Ba Đình, Hà Nội. Người miền núi chúng tôi không ai có cái thói trí trá, gian xảo vừa đánh trống vừa ăn cướp như thế.

K’ Tien

01/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Dân Tộc Có Đuôi


Tác phẩm Thằng Người Có Ðuôi, của Thế Giang, do Người Việt xuất bản năm 1987. Vào thời điểm này, tác giả vừa mới đến được Thế Giới Tự Do. Tuy đã thoát, ông vẫn cứ còn phập phồng bất an, giao tiếp với ai cũng lo sợ họ (có thể) là người thuộc Cục Tình Báo Hải Ngoại. Nói cách khác, theo lời của chính tác giả, ông “luôn luôn sống với cảm giác sau lưng mình có mọc một cái đuô
Con cá nó sống nhờ nước, nhà đương cuộc Hà Nội sống nhờ vào tiền cứu trợ từ nước ngoài; do đó, cái gọi là Cục Tình Báo Hải Ngoại – nếu có thực – chắc chắn cũng chưa bao giờ làm được trò trống gì ra hồn. Bởi vậy, với thời gian, nỗi ám ảnh bị canh chừng và theo dõi của đại đa số những người Việt tị nạn cộng sản thưa dần và nhạt bớt. Cái đuôi của họ cũng teo lại, rồi biến mất.

Ðời sống mới tạo ra những nỗi bận tâm và lo âu mới. Tựu trung thì cũng chỉ là những bận tâm bình thường, hay tầm thường, của kiếp nhân sinh, nơi vùng đất mới. Chuyện cũ, ở chốn xưa, rồi cũng phai mờ trong tâm trí của mọi người.

Quê nhà xa lắc, xa lơ đó.
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.

Mây trắng bay ra sao thì chỉ có Trời (hay Nguyễn Bính) may ra mới biết nhưng ai cũng biết rõ là những người còn ở lại Việt Nam – phần lớn – đều không có cái may mắn được sống một cách bình thường (hoặc tầm thường) như thế. Họ vẫn thường trực phải đối phó với những cái đuôi, mỗi lúc một thêm nhiều, ở khắp mọi nơi.

Từ Sài Gòn, ông Nguyễn Chính Kết, đã có lời than phiền như sau: ”Sáng hôm 23/3/2006 (hôm anh Phương Nam bị bắt), có người báo cho tôi biết ít nhất có 5 người lạ mặt bắt đầu xuất hiện trong sân nhà này với 3 chiếc gắn máy luôn luôn quay đầu ra ngoài trong tư thế sẵn sàng lên đường. Họ hầu hết là những thanh niên khoảng 25-30 tuổi … Vì họ phải canh gác tôi cả ngày lẫn đêm, nên tôi đoán có người thay thế họ ban đêm, nghĩa là số người canh chừng tôi còn nhiều hơn nữa. Vì họ không thể nào thức luôn cả ngày lẫn đêm trong tình trạng căng thẳng như thế”

Ở Hà Nội … cũng thế – theo lời của một công dân khác, ông Bạch Ngọc Dương:

“… để theo dõi tôi trong suốt buổi sáng ngày hôm nay, tức ngày 8-6-2006, họ đã phải huy động tới khoảng gần 10 cán bộ an ninh mật vụ thay thế nhau để bám theo tôi, điện thoại di động và máy bộ đàm luôn được họ sử dụng để thông báo cho nhau, thông báo ngay cho trụ sở của họ về vị trí của tôi, họ còn bố trí người đóng ở các chốt cần thiết như trước cửa nhà tôi đang ở, trước cửa văn phòng của luật sư Nguyễn Văn Đài”

Và ở Huế … cũng vậy – theo như lời cằn nhằn của ông Nguyễn Thanh Giang: ”Ba chúng tôi đành rủ nhau ra bờ Sông Hương ngồi nghỉ trưa. Công an lại vẫn vòng trong, vòng ngoài và hai cậu quen mặt vẫn áp sát bàn chúng tôi. Tôi khó chịu quá, thấy mình như một tên tù bị công an áp tải… mặc trang trang trưa nắng, hai chiếc Honda của công an cứ thế bám theo ôtô của chúng tôi suốt non trăm kilomet, cho đến khi xe chúng tôi ra khỏi địa phận Huế”.

Nghe thiệt là ớn chè đậu. Quí ông Nguyễn Chính Kết, Bạch Ngọc Dương, và Nguyễn Thanh Giang – rõ ràng – đều rất oải chuyện họ có quá nhiều đuôi, và đều tưởng lầm rằng họ bị nhà nước VN chú ý … cách riêng!

Tưởng vậy là tưởng năng thối. (Don’t take it personally, men). Đây thực ra là tình trạng chung của cả nước cơ đấy. Xin hãy nghe cô Nguyễn Thị Tuyết, một công nhân thuộc nhà máy làm bao bì (chủ Ðài Loan) ở Sài Gòn cho biết về hoạt động của những cái đuôi nơi hãng xưởng: ”công đoàn là bộ phận an ninh của Đảng và an ninh nội bộ luôn bám sát chúng tôi. Bộ phận công đoàn sẵn sàng lợi dụng những người nhẹ dạ không biết thương nhau trong đám công nhân, để phát triển thành đoàn viên, là cánh tay hậu bị của đảng làm công cụ cho công đoàn, sẵn sàng đàn áp chúng tôi bằng những tờ báo cáo mật hay chỉ trích một khi chúng tôi có sự đòi hỏi chính đáng”

Tôi tin rằng cô Nguyễn Thị Tuyết – cũng như qúi ông Nguyễn Chính Kết, Bạch Ngọc Dương và Nguyễn Thanh Giang – sẽ cảm thấy bớt bị xúc phạm hơn nếu biết rằng, chả riêng chi ở công trường hay nhà máy, bất cứ nơi đâu (kể cả nhà thờ, chùa chiền, hay đền miếu … ) đều có người canh chừng và làm những báo cáo mật tương tự (y) như vậy.

Nói tóm lại – ở Việt Nam, bây giờ – thánh thất hay tư thất đều có thể biến thành… lao thất bất cứ lúc nào. Cứ nhìn cảnh nhà ông Hoàng Minh Chính – theo như tường thuật của nhà báo Nguyễn Khăc Toàn, vào ngày 12 tháng 6 năm 2006 – sẽ thấy hoạt cảnh này: ”Hiện nay cuộc sống của gia đình ông Hoàng Minh Chính không khác gì mấy một nhà tù, lối đi duy nhất vào nhà ông hiện nay tại ngõ 26 phố Lý Thường Kiệt, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội bị công an Việt Nam lập hẳn một trạm canh gác nghiêm mật suốt ngày đêm chỉ còn cách nhà ông Chính có 5 mét, họ bố trí người thay ca nhau liên tục túc trực 24/24 giờ”.

Sau khi mất đuôi, loài nguời sống dễ chịu hơn. Họ nằm ngồi thoải mái hơn, và đi đứng nhanh nhẹn hơn. Nguời Việt, tiếc thay, không cùng chung qui trình tiến hoá như thế với đa phần nhân loại. Đến thế kỷ 21, dân tộc này vẫn loẵng ngoẵng có đuôi. Và đó là lý do khiên họ lạc hậu, hay nói theo ngôn ngữ “đương đại” là tụt hậu.

Họ tụt lại bao xa?

Báo Tiền Phong – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – có đăng bài Chúng Ta Chưa Tự Làm Ðược Cái Ðinh Vít, như sau: “Mỗi năm kinh phí cho hoạt động NC&PT lên tới 200 triệu USD. Chúng ta cũng đã có trên 1,4 vạn tiến sĩ và 1,6 vạn thạc sĩ. Đây là niềm tự hào bởi con số này cao gấp gần năm lần so với Thái Lan và gần 6 lần so với Malaysia. Nhưng nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì thật đáng buồn … dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren)” .

Làm được một con ốc cho xe máy, loại vặn vẫn (cứ) còn ren, kể như là chuyện nhỏ. Người Việt chưa làm vì bận, chứ không phải là không làm được. Sau mấy mươi năm nửa nước Việt Nam bị ép buộc phải chiến đấu chí tử để giải phóng nửa nuớc kia, bây giờ thì nửa phần dân tộc Việt đang được giao cho nhiệm vụ phải canh chừng (ráo riết) nửa phần còn lại. Có ai còn được chút tâm trí sức lực nào nữa, để nghĩ đến những điều nhỏ nhặt – cỡ như chuyện làm một con ốc cho xe máy?

Dư luận, gần đây, xem ra có vẻ kỳ vọng nhiều vào nhân sự lãnh đạo mới ở Việt Nam – trong “sứ mệnh” hòa nhập đất nước vào thế giới bình thường. Tân thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, kẻ được coi là có khuynh hướng cấp tiến và “muốn tăng tốc tiến trình đổi mới kinh tế” (“who wants to accelerate the process of economic change”) – theo như nhận xét của ông Jonathan Pincus, người đứng đầu Chương trình Phát triển Kinh tế của Liên Hợp Quốc ở VN. Tương tự, tân chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, cũng là người miền Nam, và vốn được tiếng là chống tham nhũng. Theo nhận xét chung thì ông sẽ năng nổ hơn người tiền nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực cải tổ kinh tế và pháp luật, làm nền cho VN gia nhập tổ chức WTO trong năm nay (“And there is a widespread perception he will be more active than his predecessor, particularly in implementing economic and legal reforms that pave the way for Vietnam’s accession to the World Trade Organization (WTO) this year” – Karl D John, Vietnam’s south takes leadership wheel

Nghe thế cũng mừng nhưng nghĩ lại vẫn lo. Đi vào WTO với cái đuôi là hình ảnh rất khó coi. Và hòa nhập vào thế giới văn minh cũng là chuyện rất khó khăn, với cái đuôi (cộng sản).

Tưởng Năng Tiến


7/2006

01/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vĩnh Biệt Sơn Nam


Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

(Câu hò miền Nam, VN)

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…


Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dông giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! — Ảnh: tuoitre.com.vn

“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Copyright @ DCV online 2006


(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Tưởng Năng Tiến
5/2006

01/02/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sơn Nam và Rừng U Minh

Mới đây, khi về lại Việt Nam, giáo sư Nguyễn Văn Lục ghé thăm giáo sư Lý Chánh Trung. Ông có nhận xét như sau về người bạn đồng nghiệp cũ:

“… sau 1975 … có mấy mấy nhà văn, nhà báo trong Nam được cầm bút lại như Lý Chánh Trung. Con số đếm chưa hết một bàn tay… Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay”

Tôi có ngồi học với giáo sư Lý Chánh Trung đâu chừng… nửa giờ, ở trường Văn Khoa Đà Lạt. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Tôi không dám bàn luận lôi thôi gì (thêm) về một người thầy học cũ của mình.

Tuy thế, không hiểu sao, nhận xét vừa nêu của giáo sư Nguyễn Văn Lục lại khiến tôi nhớ đến nhà văn Sơn Nam. Ông là một trong những người may mắn hiếm hoi của miền Nam (trong “con số đếm chưa hết một bàn tay”) vẫn được phép cầm viết, sau khi vùng đất này đã được hoàn toàn… giải phóng! Ông cũng là một trong những nhà văn mà tôi thích đọc.

Tác phẩm (có lẽ) đắc ý nhất của Sơn Nam là cuốn Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Tác giả kể lại chuyện một người dân ở U Minh Hạ, đặt mua báo dài hạn nhưng không trả tiền nên nhà báo phải cử người đi đòi nợ. Xin trích vài đoạn đọc chơi – cho đỡ ghiền – bảo đảm là không dở:

– Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?

Thầy xã trưởng đáp:

– Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Để tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó lên công sở…

Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình:

– Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quí vị độc giả thân mến gần xa.

Thầy xã hỏi:

-Phái viên là gì vậy thầy?

– Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thu tiền.”

(Sơn Nam. “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Hương Rừng Cà Mau, tr. 99).(1)

Nhân vật chính trong truyện, ông Trần Văn Có, theo như lời dân cùng xóm, là một người độc thân, làm nghề giăng câu, nuôi heo, lấy tổ ong, và hơi có máu ba hoa trời biển: “Anh ta công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang Sa gởi xuống công sở; đi ăn giỗ thì nói chuyện Hít-le, chuyện nước Ý đánh nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện Tầu…”

Nghe nói vậy nhưng không phải vậy đâu. Khi phái viên báo Chim Trời giáp mặt độc giả Trần Văn Có, tại nơi cư trú của ông, cuộc hội kiến – rõ ràng – rất là đàng hoàng và (vô cùng) thắm thiết:

“Buổi cơm chiều ngon lành làm sao! Ăn cá lóc nướng trui, uống rượu… Tư Có kèm thầy phái viên ở lại ngủ một đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy trở lại công sở mà đón tàu đi. Thếp đèn dầu cá kéo thêm một tim thứ nhì nữa, cháy khá sáng. Bếp un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ rõ từng sợi khói mịn màng như mành lưới tơ giăng bủa khắp căn chòi nhỏ hẹp.

Tư Có bỏ mùng xuống, chun vơ tấn ba phía rồi mời:

– Thầy Hai vơ trong này ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngồi muỗi cắn. Khói như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh trong thếp đèn dầu cá đó.

Ngượng nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí mùng, chui lẹ vào ngồi kế bên:

– Xứ gì lạ quá! Anh Tư ở đây hồi sanh bịnh chết.

Tư Có đáp:

– Xứ Cà Bây Ngọp, tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học.

Thầy phái viên trố mắt:

– Vậy à? Còn mấy làng khác?

– Ðông Thái, Ðông Hồ, Ðông Hưng, Vân Khánh Ðông… không làng nào có trường hết. Thầy nghĩ coi…

– Hèn chi miệt này chỉ một mình anh Tư là độc giả báo Chim Trời của chúng tôi… Báo có thích hợp không anh Tư?

– Làm báo thì cần nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên? Tiếc là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó, ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, từ cứ. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?

Thầy phái viên cười:

– Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách toòng teng bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.

Tư Có nói:

– Chắc là thầy muốn nói bài “chốn quê hương đẹp hơn cả” chớ gì?

Rồi chú đọc một hơi:

– Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy…

– Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá… Người du lịch mới trả lời: ở chốn quê hương… từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan… Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.

– Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ… Không, chăn trâu sướng lắm chứ.

Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:

– Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ…

Không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim…

Giọng Tư Có nói nhỏ:

– Ngủ chưa, thầy phái viên?

– Ngủ chưa anh Tư?

– Chưa!

– Tơi nãy giờ cũng vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà không thấy mệt.

Im lặng một hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một tiếng thở dài:

– Biết lấy gì làm sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt tình nghe coi… Chắc thầy tới đây thâu tiền.

– Ðâu có! Ðâu có! Mình là bạn đời với nhau…

– Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong… nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi “đăng” là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ.

– Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tín không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hồi hồi cho tới số chót.
Chú Tư Có vô cùng cảm động…”

(sđd 111-116).

Tôi đọc truyện ngắn “Tình Nghĩa Gíao Khoa Thư” khi còn ở tuổi đôi mươi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nhiều lý. Tôi và bè bạn vẫn tâm nguyện rằng, sau cuộc chiến, thế hệ của mình sẽ cố góp hết sức để dựng xây những phần đất quê hương (bị lãng quên) như vùng U Minh Hạ.

Hòa bình, tiếc thay, đã không mang lại cuộc sống an bình như mọi người mong muốn. Không những thế, nó còn khiến cho hàng triệu kẻ đã phải liều mạng rời bỏ quê hương, để mưu cầu một cuộc sống khả kham hơn – nơi đất lạ quê người.

Tôi là một trong những kẻ đã (đành đoạn) bỏ đi như thế. Vài chục năm sau, khi tóc đã điểm sương, ở một góc trời xa, tình cờ đọc được bài báo (“Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ” của phóng viên Hoàng Trí Dũng) mà không khỏi băn khoăn nhớ về chốn cũ:

“Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tơi bị “sốc” như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…”

“Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.”

“Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện. ..”

“Ông chủ nhà Nguyễn Trung Liệt – một lão nông có uy tín trong vùng – vào chuyện: “Trên 60 tuổi rồi, hơn chục năm, ba thế hệ với hơn 30 người sinh ra và lớn lên tại khu rừng này, nhưng ngặt một nỗi nhà tui không ai có được tấm hộ khẩu, cũng chẳng hề có giấy chứng minh nhân dân. Người lớn còn đỡ chứ tội nghiệp sắp nhỏ, năm đứa cháu nội ngoại ra đời trong ruột rừng này hiện tại đều thất học như ông cha nó…
Chú Ba Vinh thì kêu: “Cả trăm gia đình bà con ở đây khổ lắm, không thua gì thời kỳ Pháp thuộc…

Chú Ba Vinh (nào đó) tuổi đời – ngó bộ – còn hơi ít nên không biết rõ cảnh sống của dân chúng ở U Minh Hạ vào thời Pháp thuộc. Chớ hồi đó, cứ theo như lời kể của ông già Nam Bộ Sơn Nam, nơi đây đã có người đặt mua dài hạn báo Chim Trời ở tận Sài Gòn, có kẻ giữa bữa giỗ (dám) bàn chuyện quốc sự và lớn tiếng chê bai tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang sa…

Những chuyện (tầm ruồng) cỡ đó, không tìm thấy trong bài phóng sự “Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ”. Cũng không nghe phóng viên báo Tuổi Trẻ kể lại chuyện ăn nhậu lai rai mấy con cá lóc nướng trui với người dân địa phương, và dùng chung với họ một bữa cơm chiều (“ngon làm sao”) như đặc phái viên của báo Chim Trời – hồi thời xa xưa cũ. Chuyện người ta ăn ở cư xử tử tế với nhau, theo kiểu “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”, tất nhiên, cũng miễn có luôn.

Ở U Minh Hạ bây giờ, theo như nguyên văn tường thuật nhà báo Hoàng Trí Dũng:“ 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất.” Có chăng chỉ là tiếng kêu gào ai oán, của những người dân khốn cùng và uất hận, vì bị cướp bóc trắng trợn mà thôi.

Sơn Nam, tiếc thay, đã không còn nghe được những tiếng kêu thương vô vọng như thế từ nơi sinh trưởng của ông – U Minh Hạ. Dường như, nhà văn của chúng ta không còn quan tâm và thiết tha gì đến phần đất này nữa, sau khi… cách mạng đã thành công!

“Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay.”

Lời nhận xét (vừa dẫn) của giáo sư Nguyễn Văn Lục, về giáo sư Lý Chánh Trung – chả hiểu sao – lại cứ khiến tôi trạnh lòng nhớ đến Sơn Nam, một nhà văn mà mình mến mộ vào lúc thiếu thời. Chúng tôi sẽ trở lại với Sơn Nam và nỗi lòng U Minh Hạ, trong một bài viết khác, cũng trên diễn đàn này.

Tưởng Năng Tiến

5/2006


(1) Sách được in lại (và in “lậu”) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.

01/02/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?