sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Giữa Hà Sĩ Phu Và Trần Kim Tuyến



Tôi được nhà xuất bản Văn Nghệ gửi cho cuốn Những Huyền Thoại Và Sự Thực Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm của Vĩnh Phúc. Trong phần dẫn nhập, một cách rất khiêm tốn và khách quan, ông khẳng định: “Người viết chỉ cung cấp dữ kiện chứ không phê bình nhận định. Công việc này thuộc về các sử gia.”

Sử sách nói riêng, và sách vở nói chung, tôi ít khi để mắt tới. Bởi vậy, tôi vô phương trở thành một sử gia – dù rất muốn. Cũng cứ theo như tiêu chuẩn đề nghị của Vĩnh Phúc thì tôi không đủ tư cách và khả năng “phê bình nhận định” bất cứ chế độ nào. Khổ nỗi, tôi lại đang quá rảnh. Cả ngày cứ đi ra đi vô, khiến nhiều người vướng mắt. Ðã thế, có thân hữu còn gửi cho tôi đọc chơi chỉ thị của Ðảng Cộng Sản Việt Nam về việc tổ chức “kỷ niệm lần thứ 109 ngày sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh”; theo đó, Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương của Ðảng – nhân dịp này – có đề ra phương châm “Ðảng nghe dân nói và nói cho dân nghe.”

Buồn ngủ mà gặp chiếu manh, được “trên” khuyến khích nên tôi cứ viết đại một vài câu phê bình nhận định về chế độ Ngô Ðình Diệm, và vài chế độ thổ tả khác nữa – đã và đang có mặt tại Việt Nam, cho Ðảng nghe chơi. Cung kính không bằng tuân lệnh. Theo như tiến trình đã định, “Ðảng nghe dân nói và nói dân nghe”, tôi xin phép được nói trước.

Lúc ông Diệm bắt đầu chấp chính, tôi mới ra đời chưa được bao lâu. Khi ông ta bị lật đổ, tôi đang bận chơi diều và chơi dế. Do đó, tôi không quan tâm mấy đến những huyền thoại và sự thực về chế độ của ông ta – nhất là khi, chỉ cần qua dư luận, tôi cũng đã biết loáng thoáng rằng cái chế độ này chả có huyền thoại gì hay ho và không ít những sự thực não lòng.

Tuy nhiên, vì quí mến nhà văn Vĩnh Phúc và người chủ trương nhà xuất bản Văn Nghệ nên tôi cũng cầm cuốn Những Huyền Thoại Và Sự Thực Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm đọc chơi lai rai. Tới trang 400 (sách dầy 474 trang) bỗng thấy có “huyền thoại” thiệt. Chỉ tiếc là nó lại không dính gì tới ông Diệm mà chỉ liên quan đến ông Thiệu.

Với tiểu đề là “Nguyễn Văn Thiệu Trù Trần Kim Tuyến”, trong phần này, ở trang 403, Vĩnh Phúc ghi lại một đoạn như sau:

Một hôm, bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ bảo với ông Kiểu (anh ruột Thiệu, Ðại sứ ở Ðài Loan mới về):

Anh liệu trình bầy với Tổng thống làm sao, chứ mình ăn ở với anh Tuyến như vậy coi sao được. Hồi anh ấy còn có quyền, đã giúp đỡ bọn mình nhiều. Nay đối xử với người ta như vậy thật không có trước có sau gì cả!

Bởi vậy Thiệu mới ra lệnh không truy nã Trần Kim Tuyến nữa, cho về ở nhà, nhưng lúc nào cũng có hai tên công an mặc thường phục canh gác ngoài cổng 24 giờ/24 giờ.”

Ủa, như vậy là không phải đợi tới thời “cách mạng” mới có vụ công an canh nhà người ta đâu nha. Chuyện này xẩy ra từ thời Thiệu lận. Có ai mà dè ông Thiệu lại lanh lẹ quá cỡ như vậy. Ổng đi trước “cách mạng” tới mấy chục năm.

Nhưng nói tình ngay, ông Thiệu tuy lanh nhưng nhát. Ổng chỉ làm lén vậy thôi. Ổng không dám xúi Thủ Tướng mà mình bổ nhiệm (ông Trần Thiện Khiêm) ký đại một cái nghị quyết, cỡ như nghị quyết 31CP của nhà nước CHXHCNVN, để biến một mớ tư thất thành lao thất cho dễ bề kiểm soát. Ông Thiệu chỉ dám ra lệnh miệng cho Thiếu Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, lo việc canh chừng ông Tuyến.

Nguyên văn cuộc đối thoại giữa ông Hai và ông Tuyến, theo sách đã dẫn, trang kế tiếp, trang 404, như sau:

“…

– Giữa bác sĩ và Tổng thống của tôi không biết có chuyện gì mà cứ muốn bắt bớ?

– Tôi cũng không biết nữa. Nhưng thành thực nói với thiếu tướng:bảo tôi đồng ý với Thiệu thì có nhiều cái tôi không đồng ý. Nhưng bảo tôi lật đổ ông Thiệu thì tôi không làm. Không phải vì cảm tình với ông Thiệu mà làm thế chỉ có lợi cho cộng sản.

– Chuyện gì ông không đồng ý với TổngThống?

– Việc lập đảng Dân chủ. Chỉ có hại chứ không có lợi. Vì lập chính quyền rồi mới lập đảng, chẳng có ích gì…

– Tổng thống đã muốn cho canh gác nhà bác sĩ thì tôi cho canh gác. Nhưng đừng ngại gì cả.

Nói cách khác là Thiệu muốn canh chừng nhà ông Tuyến nhưng không làm được. Ðiều này vi hiến. Luật lệ không cho phép làm như thế. Bằng khẩu lệnh thì cái lệnh này chỉ được thi hành lấy lệ. Thiếu Tướng Trần Văn Hai bảo nhân viên dưới quyền làm bộ “canh cho vui thôi” chớ không canh thiệt.

Và chuyện đó cũng chưa “vui” mấy – xin đọc đoạn văn kế tiếp, cũng ở cùng trang 404 – mới thiệt là vui:

Trong cuộc gặp gỡ này với ông Tuyến, ông Trần Văn Hai đã ghi chép rất nhiều ý kiến, nói rằng để về trình lại với Tổng thống. Rồi sau đó, có lẽ vì ông Hai đã thẳng thắn nói lại với ông Thiệu nên bị mất chức. Bà Hai nói với ông Tuyến:

– Chẳng biết bác sĩ nói gì với nhà tôi, rồi nhà tôi nói lại với Tổng thống, nên bị mất chức đấy!”

Khi ông Thiệu lên nắm quyền, tôi đã thôi chơi diều và chơi dế. Tôi bận nhiều chuyện khác: chải đầu, nặn mụn, tập làm ca sĩ, và chơi … “tìm bạn bốn phương” hay còn gọi – một cách cũng cải lương không kém – là “kết bạn tâm thư.”

Ðêm qua, tình cờ đọc lại trang sách vừa dẫn, tôi bỗng hiểu tại sao – sau khi “cách mạng” thành công – nhiều người dân miền Nam bỗng thích thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Tự nhiên (cái) họ đâm ra có tinh thần … hoài cổ! Ai cũng nhớ tiếc ngẩn ngơ những chính quyền ngày trước.

Cái chế độ nhà Ngô hay nhà Nguyễn gì đó (nói một cách xách mé, theo như thói quen của môt số người dân miền Nam Việt Nam – kể cả một thằng con nít ranh cỡ như tôi), ít ra cũng có một cái hiến pháp mang giá trị thực sự về nhiều phương diện và buộc mọi người phải tôn trọng – dù họ là những kẻ có quyền uy cỡ như ông Thiệu hay bà Nhu.

Ông Thiệu không canh chừng được nhà ông Tuyến vì điều đó vi hiến. Bà Ngô Ðình Nhu – nhủ danh Trần Thị Lệ Xuân, dân biểu của thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, em dâu Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nổi tiếng là tai quái và lộng quyền – dù muốn cũng không đổi được đến mười ngàn Mỹ Kim khi cần, chỉ vì điều này sái luật. “Trong lần bà Nhu xuất ngoại ‘giải độc’ trước khi xẩy ra cuộc đảo chính, bà năn nỉ ông Hoàng Bá Vinh (Hội Kế Viên của Quốc Hội) xin đổi 10 ngàn đô la. Nhưng ông Vinh bảo theo nguyên tắc, mỗi ngày được đổi 40 đô– la, bà Nhu đi ba tháng, đổi được 3600 đô– la, cộng thêm 3600 đô-la hối xuất song hành, là 7200. Ðó là số ngoại tệ tối đa mà ông Vinh có thể cho bà Nhu đổi.” (sđd trang 355 và 356).

Quan trọng hơn nữa, ở cả hai chế độ cũ, người ta cư xử với nhau còn có cái tình. Ông Tuyến, sau khi thất sủng (một phần vì bị nghi ngờ có âm mưu đảo chánh trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa) thay vì bị thủ tiêu hay bị gửi đi trại Cổng Trời – như “chuyện vẫn thường xẩy ra hàng ngày ở huyện” – thì chỉ bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự tại Cairo, thủ đô Ai Cập.

Sau đó, đến thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, không riêng gì Nguyễn Văn Thiệu mà cả Nguyễn Khánh (trước đó) cũng muốn bắt giam ông Tuyến – một nhân vật thực sự nguy hiểm cho bất cứ chế độ nào mà ông ta không cộng tác. Tuy nhiên, cả hai đều không làm được việc này vì không tìm ra được bằng chứng để buộc tội. (Là nhân vật quan trọng thứ III của chế độ cũ không phải là lý do để “đương nhiên” phải đi vào tù, hay còn gọi là đi học tập – nếu nói theo ngôn ngữ “đương đại”). Họ buộc phải để cho ông Tuyến tự do. Vụ việc này được Vĩnh Phúc ghi nhận ở trang 402, sách đã dẫn, như sau:

“…Ông Trần Minh Tiết chiếu theo biên bản phiên họp nội các, ra lệnh thả ông Tuyến. Giám đốc Chí Hòa là đại tá Luyến cũng quen biết ông Tuyến nên bảo bà Tuyến:

– Ðúng ra, khi có lệnh tha của tòa, tôi phải đưa ông bác sĩ trả lại cho công an làm thủ tục, rồi mới cho về. Nhưng vì ông đang đau, bà cứ lãnh về đi…”

Chỉ vì ông Tuyến đang đau nên bà Tuyến được lãnh chồng về. Chuyện “công an làm thủ tục” coi như là … chuyện nhỏ! Ðại Tá Luyến xem cấp bực và chức vụ của mình, dường như, hơi nhẹ – ít nhất thì nó cũng nhẹ hơn cái giao tình giữa ông ta và ông bà Tuyến.

Ðó là “huyền thoại” ở quê hương tôi, và chuyện này xẩy ra vào ngày 26 tháng 10 năm 1966. Hôm đó, ông Trần Minh Tiết – Bộ Trưởng Tư Pháp của thời Ðệ Nhị Cộng Hòa – ra lệnh thả ông Tuyến “chiếu theo biên bản phiên họp nội các”, dù điều này không được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tán thành.

Hơn ba mươi năm sau, nơi đất lạ xứ người, vào ngày 29 tháng 12 năm 1998, trong khi thiên hạ đang gọi điện thoại hay gửi thiệp rôm rả chúc mừng nhau năm mới thì một nhà văn ở hải ngoại chuyển bằng E mail cho tôi một cái thư độc giả – mà xem chừng như là độc giả của ông ta – tâm sự về chuyện gia đình ông Hà Sĩ Phu vừa bị khủng bố ở Việt Nam.

Cũng như ông Trần Văn Tuyến vào thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, ông Hà Sĩ Phu đang bị “công an cách mạng” canh nhà. Khác với ông Trần Kim Tuyến, ông Hà Sĩ Phu không được ông Tổng Giám Ðốc Công An vỗ về rằng “muốn cho canh gác thì tôi cho canh gác…nhưng đừng ngại gì cả“, cũng không ai hỏi xem ông Hà Sĩ Phu bất mãn điều gì rồi họ mang sổ tay ra ghi chép để về trình lại cấp trên…

Về chuyện này, hồi tháng 1 năm 99, cũng trong Sổ Tay Thường Dân, với tiêu đề là “Chuyện Dài Hà Sĩ Phu”, tôi có ghi lại một đoạn như sau:

“Ông Hà Sĩ Phu không có được sự khỏe khoắn và may mắn xa xỉ đó. Nếu nói theo nhận xét của ký giả Lực Ðinh thì Nghị định 31/CP đã biến vô số tư thất thành lao thất. Nhà ở của ông Hà Sĩ Phu, không may, nằm trong cái diện thổ tả này. Ðã ở trong lao thất thì chuyện đóng hay mở cửa tùy vào cai ngục chứ không tùy ông Hà Sĩ Phu. Cai ngục đã quyết định mở cửa cho côn đồ vào hành hung ông ta và cả gia đình”

“Tôi không quen biết gì sĩ phu họ Hà và cũng không muốn lôi thôi dính dáng gì đến ông ta. Tôi vốn sợ bạo lực và những chuyện phiền phức đi kèm. Mà đã có chuyện liên lụy với quân khủng bố thì nếu không tử thương, e cũng trọng thương.

Có điều là ông Hà Sĩ Phu và Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, mấy lúc gần đây, đã gây quá nhiều điều phiền hà cho công luận; do đó, tôi xin rụt rè đưa một đề nghị nho nhỏ như sau:thôi, bắt ông Hà Sĩ Phu bỏ vào tù lại như cũ đi. Ông ấy sẽ được yên thân và Ðảng cũng…yên tâm!”

Ðề nghị chí tình của tôi, tiếc thay, vì đưa ra không đúng lúc – không vào dịp sửa soạn sinh nhật bác Hồ, chưa ai đề ra phương châm “Ðảng nghe dân nói” – nên bị coi như đồ bỏ. Cỡ thường dân vớ vẩn như tôi mà bầy đặt đưa đề nghị này đề nghị nọ (dù là đưa lén, và phải đứng tuốt đằng xa thiệt xa – cho nó an toàn) đã là quá quắt, Ðảng quên đi – nói tình ngay – cũng… phải. Tôi thiệt không dám phàn nàn.

Khổ nỗi Ðảng không quên được ông Hà Sĩ Phu. Ngày 15 tháng 3 vừa qua, dư luận lại xôn xao bất bình về chuyện ông ta bị lục nhà, bị xách nhiễu đủ điều, bị kêu lên gọi xuống để trình diện, làm bản tự phê tự kiểm…Thiệt là tùm lum thứ chuyện.

Coi: rõ ràng là cây muốn lặng mà gió chẳng muốn dừng. Vụ này muốn bỏ qua cũng khó, không nói nữa e không xong, dù thiệt tình là tôi đang “xỉn” dài dài và làm biếng thấy mẹ luôn. Ðúng lúc lại có chủ trương “Ðảng nghe dân nói” nên (thôi) tôi cũng ráng thêm một lần nữa, “cho tới đồng tới đũa”, để coi rồi Ðảng nói ra sao?

Chớ ông Trần Kim Tuyến là ai mà bị canh nhà, dù là canh lén. Theo Vĩnh Phúc: “Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, người ta bảo rằng xét về quyền hạn trong nước, thì thứ nhất là tổng thống Diệm, thứ nhì là cố vấn Nhu, thứ ba là Trần Kim Tuyến.” (sđd trang 128). Vậy mà ông Tuyến không chịu cố bám lấy địa vị cao cả đó. Ông không bằng lòng với đường lối điều hành quốc gia của nhà Ngô “nên có âm mưu đảo chánh. Và ông xác nhận điều này. Tuy nhiên ông có một mục đích và phương thức riêng. Ông Tuyến không muốn lật đổ hẳn chế độ, mà chỉ muốn thay đổi hình thức tổ chức chính phủ, lập ra chức vụ Thủ Tướng, loại vợ chồng ông Nhu ra, để ông Diệm lại.” (sđd trang 306).

Ông Hà Sĩ Phu thì không “chịu chơi” cỡ đó. Theo nguyên văn lời của một nhân vật khả tín, nhà thơ Bùi Minh Quốc thì Hà Sĩ Phu: “… cũng chẳng phải người to gan lớn mật, chẳng có một mảy may tham vọng chính trị, càng không phải là người mưu toan phục thù giai cấp chống đối chế độ”. (Hà Sĩ Phu Và Tiếng Nói Của Ông. Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 16).

Ông ta chỉ hay lên tiếng, một cách rất tử tế, về những chuyện mà có lẽ ai cũng thấy và cũng biết, thí dụ như: “Càng suy nghĩ về nội dung cũng như về hiện tình của Ý thức hệ Mác-xít, tôi càng ý thức rõ đây là một Ý THỨC HỆ PHONG KIẾN TRÁ HÌNH, của triều đại phong kiến cuối cùng, đang kìm hãm sự tiến bộ xã hội, và được dùng làm bình phong cho những yếu tố tiêu cực ẩn nấp.” (Chia Tay Ý Thức Hệ. Tuyển Tập Hà Sĩ Phu, sđd, trang 214).

Thỉnh thoảng, ông cũng đòi hỏi – một cách rất ôn tồn và hơi “lẩm cẩm” – những điều mà tuyệt đại đa số nhân loại đã thủ đắc từ lâu, và đã được coi như là yếu tính chung trong cuộc sống mọi người, chả hạn như: “Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật mọi chủ nghĩa… đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không kém.” (Dắt Tay Nhau Ði Dưới Những Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ. Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. sđd, trang 22).

Trời đất, tưởng gì? Tôi chỉ nghe Hà Nội hay than phiền về Hà Sĩ Phu chứ chưa bao giờ đọc những gì ông viết. Tuần rồi, có dịp xem qua mấy bài tiểu luận của ông mà không dưng muốn rớt nước mắt. Ví von mà nói, tôi (và những người Việt ở vào hoàn cảnh may mắn tương tự) như kẻ có điều kiện để tắm một ngày ba hay sáu lần bằng sữa tươi – nếu muốn – còn ông (một người đồng hương và đồng thời) thì chỉ dám cầu xin cho bản thân (cùng dân tộc mình) mỗi ngày được ba ly nước để uống cho khỏi chết đói chết khát mà thôi.

Chỉ có vậy thôi mà Ðảng nhất định không cho; đã thế, cuộc đời ông còn trở nên te tua và bầm dập chỉ vì những đòi hỏi rất “vớ vẩn” này. Ông ta bị bắt bớ (thường xuyên), lục nhà (đều đều), và canh nhà (thường trực).

Bây giờ, xin “toàn dân và toàn đảng” hãy thử tưởng tượng ra hoạt cảnh sau đây. Sau khi bị bắt (ông Hà Sĩ Phu bị bắt lần cuối vào ngày 05 tháng 12 năm 95 tại Hà Nội vì lý do – mà cho đến nay – chỉ có Trời mới biết), rồi vì không đủ bằng chứng buộc tội, nên có lệnh thả ông ta. Bà Hà Sĩ Phu vội vàng đến Hỏa Lò để tìm chồng. Tại đây bà may mắn gặp được ông giám đốc nhà giam, một người quen biết cũ:

– Thế bà đi đâu đây?

– Tôi nghe có lệnh nhà tôi được tha nên đến xem sao.

– Ðúng ra, khi có lệnh tha của tòa, tôi phải đưa ông (ấy) trả lại cho Công an làm thủ tục rồi mới cho về. Nhưng vì ông đang đau bà cứ lãnh về đi…

Câu nói cuối cùng, không do tôi “sáng tác” đâu. Ðó là nguyên văn lời ông Giám Ðốc nhà giam Chí Hòa nói với bà Trần Kim Tuyến – như đã trích dẫn ở phần trên. Bà Hà Sĩ Phu, vì cuộc đời thường xuyên vào tù ra khám của chồng, nếu có may mắn được nghe một câu tương tự thì tôi e chưa chắc đã là chuyện đáng mừng. Bà ta dám cảm động đến độ đứng tim và…chết ngay tại chỗ! Bả bị chết bất tử như vậy rồi ai nuôi ông ấy?

Sau khi ông Hà Sĩ Phu đã được trả tự do (xin mọi người hãy cứ hình dung tiếp, tưởng tượng vốn dĩ chả tốn kém gì và rất khó …bị phát hiện hay tố cáo), ông Tổng Giám Ðốc Công An nhận được lệnh phải canh nhà ông Hà Sĩ Phu. Ông ta tìm đến nhà họ Hà và hai bên có chuyện trò chút đỉnh, câu chuyện đại khái như sau:

– Giữa tiến sĩ và Tổng Bí Thư của tôi không hiểu có chuyện gì mà cứ muốn bắt bớ?

– Tôi cũng không biết nữa…

– Chuyện gì Tiến Sĩ không đồng ý với ông Tổng Bí Thư?

– Chuyện tôi đòi hỏi mọi người được sống dân chủ và thực lòng với nhau vậy thôi mà….
– Tổng Bí Thư đã muốn cho canh gác nhà Tiến Sĩ thì tôi cho canh gác nhưng đừng ngại gì cả.

Trong cuộc gặp gỡ này với ông Hà Sĩ Phu, ông Tổng Giám Ðốc Công An đã ghi chép rất nhiều ý kiến, nói rằng để về trình lại với Tổng Bí Thư. Rồi sau đó có lẽ ông ta đã làm như vậy thật nên bị mất chức…

Câu chuyện này, như đã thưa, hoàn toàn do tưởng tượng. Nếu nó có thực thì cả thế giới đã xuýt xoa khen ngợi những bước tiến lớn lao về nhân quyền và dân chủ của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Và tưởng cũng nên nói cho rõ là dù nó có thực chăng nữa thì đây vẫn không phải là những bước tiến mà chỉ là những bước lùi. Nó lùi đến ba mươi ba năm, nếu tính từ ngày 28 tháng 10 năm 66. Hôm đó ông Trần Văn Hai nhận lệnh đến canh chừng nhà ông Tuyến, và mẫu đối thoại in nghiêng – do tôi vừa “sáng tác” – nội dung gần giống như câu chuyện thực giữa hai người, như đã trích dẫn (nguyên văn) ở phần trên.

Mà đừng tưởng là ÐCSVN chỉ đẩy dân tộc Việt đi lùi hơn vài chục năm thôi nha. Ðược thế thì đã phước đức cho trăm họ. Ðảng bắt mọi người lùi xa hơn gấp bốn lần như thế, nghĩa là xa hơn cả một thế kỷ lận. Xin đan cử một thí dụ khác để minh thị điều này:

Báo Nhân Dân số ra ngày 17 tháng 4 năm 99, tại Hà Nội, có đi tin “Thủ Tướng Phạm Văn Khải Tiếp Ðoàn Chiến Sĩ Quyết Tử Sàigòn – Chợ Lớn”. Theo bài báo này ông Khải “đánh giá cao những đóng góp lớn lao của các Chiến sĩ quyết tử, Biệt động Sài Gòn – Chợ Lớn trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.” Nẫy giờ tôi chỉ nói qua về một cuộc kháng chiến mà dân tộc đã bị đẩy lùi tới mấy chục năm. Nhờ ông Khải nhắc, tôi mới nhớ ra một cuộc kháng chiến không kém thần thánh khác nữa – kháng chiến chống Tây.

Tây chiếm Sài Gòn năm 1859, tổ chức xứ Nam Kỳ Tự Trị năm 1867. Một trăm hai mươi hai năm sau, ông Nguyễn Văn Trấn (một trong những chiến sĩ quyết tử của Saigon – Chợ lớn năm xưa), chợt khám phá ra một điều – mà ông ta thản thốt kêu lên rằng:

“Thật là kỳ quặc!” Trong chế độ xã hội thuộc địa cũ trước đây của xứ Nam Kỳ nếu người dân thích ra báo không cần phải xin phép mà chỉ cần có Tờ Khai Báo (Simple Declaration) thôi. “Còn ngày nay (năm 1989 – chú thích của người viết bài này), trong chế độ xã hội chủ nghĩa – chế độ tự do – mà những người kháng chiến cũ lại không có quyền ra báo, làm báo…” (Nguyễn Văn Trấn. Thư Gửi Mẹ Và Quốc Hội. California: Văn Nghệ 1995).

Trải qua hai cuộc kháng chiến (rất “thần thánh” và hoàn toàn không cần thiết) bao nhiêu là máu đổ thịt rơi, bao nhiêu là cuộc đời tan nát, mấy thế hệ người Việt đã hy sinh? Chung cuộc là đất nước lùi xa hơn một trăm năm, tệ hại hơn lúc còn là thuộc địa, và lùi về mọi mặt chứ không phải chỉ riêng về phương diện tự do tư tưởng đâu.

Ðến đây, tôi tạm dứt lời, đợi nghe Ðảng nói – như đã giao trước là sau khi “Ðảng nghe dân nói” thì đến lượt Ðảng “nói dân nghe”.

Ð… mẹ, nói thử tao nghe coi tụi bay lấy lý do gì để tiếp tục là đảng “duy nhất” nắm quyền lãnh đạo? Con giun xéo mãi cũng oằn. Dân tộc Việt hết đường lùi rồi; bộ tụi bay đui hết rồi sao mà không thấy vậy hả những thằng chó đẻ!

Tưởng Năng Tiến
01/2007

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | 2 phản hồi

Tô Hoài và Ba Người Khác


Đội cải cách ruộng đất về làng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo mấy chục nóc nhà giống như mấy chục cái đụn rạ của thôn tôi lên.
(Nguyễn Trọng Tân)


Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng ai oán, thảm thương!

Ðó là một đoạn văn ngắn, trong tập truyện O Chuột, của Tô Hoài mà tôi đã được cô giáo đọc cho nghe – khi còn thơ ấu. Tôi tin rằng mình vừa ghi lại đúng nguyên văn, nếu không hoàn toàn đúng thì chắc cũng gần đúng (y) như thế. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà nhỏ côi cút đó, và có cảm tình hoài với tác giả của đoạn văn vừa dẫn.

Tô Hoài (có lẽ) sẽ sướng ngất ngư, khi biết có một độc giả đã nhớ nằm lòng – suốt đời – những điều mình viết. Và chắc sẽ tức điên luôn, nếu biết thêm rằng: tôi chưa bao giờ đọc thêm một dòng chữ nào khác nữa của ông.

Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng đỏ, không thi đua lập chiến công, cũng không có kế hoạch (lớn – nhỏ) nào phải hoàn thành hay vượt chỉ tiêu. Chúng tôi chỉ có việc học với chơi, và chơi mới là chuyện chính. Tôi quá mải chơi nên không có thì giờ để đọc Tô Hoài, hoặc bất cứ ai.

Sau khi cuộc chiến Bắc/Nam chấm dứt, thỉnh thoảng, tôi cũng có ghé vào những hiệu sách quốc doanh nhưng không bao giờ ngó ngàng gì đến Tô Hoài. Dù bắt đầu từ đây, cũng như bao nhiêu người dân miền Nam khác, cuộc đời của tôi (bỗng dưng) hoá rảnh – rất rảnh, và rất … đói!

Tác phẩm duy nhất mà tôi thực sự tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hồ Chí Minh Toàn Tập (*) – dù tác giả viết nhiều đoạn hơi (bị) dở. Thí dụ như: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển.”

(Giời ạ, mặt trời chứ bộ mặt trận sao mà đòi lấy lực lượng ra ngăn trở. Tương tự, có cái lực lượng mẹ rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội? Viết như thế mà cũng bầy đặt cầm bút).

Ngoài những lỗi lầm nho nhỏ không đáng kể như thế – về nội dung – phải nói đây là một công trình đồ sộ, rất đáng đồng tiền bát gạo. Sách rất dầy, giấy in rất tốt, giá rất rẻ, và (rất) được những bà hay những cô bán hàng rong ưa chuộng. Họ cần giấy để gói, hoặc để chùi; còn tôi, tôi cần một phần ăn – nhiều hơn số tiền túi mình có thể mua. Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ (dại dột) xà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi luôn luôn chịu khó đi lòng vòng mua sách, rồi mới mang đổi lấy thức ăn – cho đỡ khổ cái dạ dầy!

Trong hoàn cảnh ấy, nói tình ngay, lỡ mà có thấy những tác phẩm của Tô Hoài chắc tôi cũng ngó lơ. Mắt tôi lúc nào cũng chỉ dáo giác, liếc nhìn ra biển, tìm một đường chui.

Nhờ Trời thương, tôi chui lọt!

Sau khi “đã đi hết biển”, khác với nhiều người, và cũng khác với mong đợi của đạo diễn Trần Văn Thủy (1), tôi quyết định đi luôn – cho nó chắc ăn. Lưu lạc mãi rồi có hôm tôi tình cờ gặp lại Tô Hoài, trong một tác phẩm phê bình văn học – có tựa là Cây Bút, Ðời Người – của Vương Trí Nhàn, do công ty Phương Nam xuất bản năm 2002.

Đến lúc này thì tôi đủ tuổi đời, đủ rảnh (và cũng đủ no) để có thể tìm đọc thêm chút đỉnh về một tác giả mà mình đã yêu thích – từ khi còn bé. Và nay thì Tô Hoài đã bước vào tuổi bát tuần.

Ngay từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng. Lúc đâu ở thời kỳ Mặt trận bình dân, ông hoạt động trong cơ sở Hội ái hữu thợ dệt Hà Ðông. Sau đó lại được tổ chức Ðảng ở Hà Nội bắt liên lạc để hình thành nên lực lượng Văn hoá cứu quốc.

Tiếp đó, từ sau 1945, những hoạt động xã hội của nhà văn ngày một đa dạng. Triển khai theo chiều rộng, có lúc ông trở thành cán bộ địa phương, có thời gian đi cải cách ruộng đất, đi học trường Ðảng, nhiều năm làm đối ngoại nhân dân, đồng thời vẫn giữ chân trưởng ban đại biểu dân phố (1956–1972) ở cơ quan văn nghệ trên Trung ương hay ở Hà Nội, hầu như từ năm 1946 tới nay, khoá nào ông cũng được bầu làm bí thư chi bộ, đảng bộ.

Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn, khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi chung là ông tác (sđd, 264).

Tiểu sử Tô Hoài (như thế) có vẻ lung tung lang tang, ngổn ngang cả đống chức vụ, nhưng không để lại một ấn tượng đậm nét nào về đời người và cây bút của ông. Tô Hoài như luôn bị nhấn chìm vào những đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn) gì đó, “với cơ man nào là đầu việc”. Thực là một cuộc đời chán ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.

Tôi lầm đấy. Ðược thế thì đã phúc.

Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán hẳn có thừa nhưng nhạt nhẽo thì chưa chắc, và đắng chát với tủi nhục (xem ra) không thiếu – nếu vẫn theo như ghi nhận của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn:

… bao nhiêu từng trải, như còn in dấu vào cách sống, cách chuyện trò của Tô Hoài hôm nay, bên cạnh cái nhũn nhặn lảng tránh, con người ấy thật cũng đã nhiều phen phải dàn mặt, phải chịu trận, nói chung là phải đối chọi với đời và nếu như có lúc phải đầu hàng thì đó cũng là bước đường cùng, rồi, nín nhịn chẳng qua để tồn tại, và sau hết, để được viết”.

“Ấy là cái điều không chỉ Tô Hoài biết mà nhiều người cũng biết…”
Ðại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy. (sđd 266).

Dù chỉ là một thường dân – chứ chả phải nhà văn, hay nhà báo gì ráo trọi – tôi cũng muốn ứa nước mắt xót xa cho “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài, khi biết rằng (đôi lúc) ông vẫn phải qùi như thế. Tôi còn e rằng Vương Trí Nhàn cũng chỉ khéo miệng mà nói thế (để đỡ tủi cho nhau) chứ chuyện “đùa bỡn” và “tha hồ tung tẩy” làm sao tìm được trong “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài!

Tất cả những đoạn văn thượng dẫn, tôi viết trong những trang sổ tay trước – cách đây đã vài năm. Hôm nay, đọc lại tôi thấy ngượng. Tôi trật! Tôi thành thật xin lỗi vì đã quyết đoán một cách hấp tấp về văn nghiệp, cũng như tư cách, của Tô Hoài. Ông ấy quả là có “tròn” nhưng không “tròn mãi,” như tôi đã tưởng. Tưởng như thế là tưởng … năng thối!

Đúng như nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đã ví von, có thể hình dung Tô Hoài “… như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy.”

Tô Hoài đã “tung tẩy” như thế trong cuốn Ba Người Khác. Talawas đã có lời giới thiệu về tác phẩm này, như sau:

Cuốn tiểu thuyết 250 trang của nhà văn Tô Hoài (NXB Đà Nẵng vừa ấn hành) đang làm xôn xao dư luận trong và ngoài giới văn học. Cuộc toạ đàm về tiểu thuyết này do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại trụ sở Viện Văn học sáng ngày 22 tháng 12 năm 2006 đã hầu như một cuộc vinh danh lão tướng văn chương 87 tuổi…(2).

Trong cuộc tọa đàm này, Hoàng Minh Tường nói: “Cuốn sách thể hiện sự dũng cảm và tư cách công dân của nhà văn Tô Hoài.” Trong một xã hội mà chuyện thể hiện “tư cách công dân” (rất) có thể khiến người ta … mất mạng – hay rẻ ra là mất việc, hoặc ngồi tù – thì lời phát biểu vừa rồi đích thị là một cách vinh danh, chứ chả còn phải là “hầu như” hay “dường như” gì nữa ráo.

Nguyên Ngọc thì khen: “Cách viết hay, độc đáo về CCRĐ. Không viết về nông dân mà viết về ba anh đội. Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội, là do ba cái anh lăng nhăng. Những cuốn khác viết về nông dân là nạn nhân, nhưng đây là lại là thủ phạm. Ba kẻ chẳng có kiến thức gì cả, tự nhiên làm đảo lộn hết cả xã hội…”

Không hiểu sao ý kiến của Nguyên Ngọc về ba anh đội, ba nhân vật chính trong tác phẩm của Tô Hoài, lại khiến tôi nhớ đến những nhân vật chính khác – những người đã có thời mà quyền lực nhất họ nhì trời – trên sân khấu chính trường ở Việt Nam: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười…

Thì cũng đều là cái thứ “lăng nhăng” và cũng chính là “thủ phạm” đã làm “đảo lộn hết cả xã hội” bằng nhiều chuyện kinh thiên động địa khác: Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Học Tập Cải Tạo, Kinh Tế Mới … Toàn là những “cơn điên tập thể,” theo như cách nhìn của Phạm Xuân Nguyên.

Cũng với cách nhìn này thì (cái được mệnh danh là) cuộc chiến Chống Đế Quốc Mỹ Xâm Lược hay Giải Phóng Miền Nam chỉ là một cơn điên vĩ đại, trong đó bao gồm rất nhiều những cơn điên nho nhỏ – chả hạn như cái cơn thảm sát, cả chục ngàn người, hồi Tết Mậu Thân.

(Tôi xin lỗi đã nổi nóng, và đi hơi xa vấn đề chút đỉnh. Nghĩ đến tình trạng đất nước – hơn nửa thế kỷ qua – chắc Bụt cũng phải nổi khùng chứ đừng nói chi đến cái thứ thường dân rất dễ sân si và dấm dớ, cỡ như tôi. Dù vậy, tôi vẫn xin được mọi người lượng thứ vì sự thiếu tự chế của mình và xin trở lại ngay vấn đề – trước khi trời sáng!)

Riêng Nguyễn Xuân Khánh – trong bài tham luận Đọc ‘Ba Người Khác’ Của Tô Hoài – đã có ý kiến rất độc đáo, xin được tóm gọn, như sau:

Cuốn sách đã chạm tới một vấn đề rất nhạy cảm là Cải cách ruộng đất (CCRĐ)… Cuốn Ba người khác đã nói đến vấn đề to lớn ấy bằng một giọng điệu rất bình tĩnh, dung dị, không hề lên gân, hầu như rất thản nhiên mà lại ám ảnh chúng ta vô cùng. Anh em nhà văn thường bảo ông Tô Hoài khôn, hay tránh né. Cuốn sách này bác Tô Hoài chẳng hề né tránh… Trong mỗi con người đều có cả cái ác lẫn cái thiện, cả những bản năng hung bạo và tính văn hoá. Phải giải quyết vấn đề nông thôn bằng văn hoá và nhân nghĩa chứ không thể bằng bạo lực. Năm mươi năm đã trôi qua nhưng vẫn còn quá ít tác phẩm hay nói về vấn đề to lớn đó. Vấn đề vẫn còn đó, nó nằm trong vô thức của cộng đồng. Nhiều người chứng kiến nhưng không ai nói cho rõ được vấn đề. Trong khi đó tôi nghĩ văn học là giải toả, văn học là chữa bệnh.Tôi chợt liên tưởng tới cách chữa bệnh về tinh thần cho con người. Người thầy thuốc, bằngnhững biện pháp tâm lý, tìm cho ra cái nguyên cớ sinh ra bệnh tật. Tức là làm cho nguyên nhân bệnh từ vô thức chồi lên ý thức. Ở một khía cạnh nào đó, tác phẩm văn học cũng có giá trị như vậy.Cộng đồng người cũng như một con người. Cộng đồng cũng có những ẩn ức. Đưa những ẩn ức nằm trong vô thức của tập thể trở thành minh bạch trong ý thức sẽ giúp cho cộng đồng phòng ngừa được những điều không lành mạnh trong tương lai.

Lại Nguyên Ân cũng có nhận định (gần) tương tự như thế:

Tôi nghĩ, đối với xã hội ta, sự xuất hiện nhữngcuốn sách như cuốn này là một cách giải toả cho một trong những chấn thương của xã hội ta. Sự kiện CCRĐ để lại một chấn thương trầm trọng ai cũng biết, nhưng những người giữ quyền ăn quyền nói ở xã hội ta lại muốn xoá đi bằng cách cấm mọi người nhắc đến. Và đó là một giải pháp sai lầm hiển nhiên, vì các chấn thương tinh thần không thể được chữa khỏi bằng bắt buộc người ta im lặng; ngược lại, chỉ bằng việc thường xuyên nhắc nhớ, ôn lại, phân tích nguồn cơn, tính đếm thiệt hại, v.v… mới là phương cách tốt, chẳng những làm nguôi chấn thương mà còn đề phòng khả năng lặp lại những tai hoạ tương tự cho cộng đồng.

Tôi có giấy phép hành nghề tâm lý trị liệu, và kiếm cơm nhờ đó. Có lẽ vì méo mó nghề nghiệp, tôi “chịu” quá nhận định của nhà phê bình Lại Nguyên Ân, và vô cùng thích thú với cái nhìn – rất Jungian và Freudian – của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, về nội dung cuốn Ba Người Khác của Tô Hoài.

Dù vậy, tôi vẫn không tin rằng một (hay nhiều) tác phẩm văn học – cho dù là kiệt tác, như cuốn Ba Người Khác chăng nữa – có thể “giải toả” những “chấn thương xã hội” do cuộc C.C.R.Đ. gây ra. “Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất đã hỏng to đến thế.” Nguyễn Hữu Đang đã viết (như thế) trên báo Nhân Văn số 4, phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1956. Dù chậm, chúng ta cần phải nhìn vấn đề cho minh bạch và “chính qui” như vậy – theo như yêu cầu của Nguyễn Hữu Đang, từ hơn nửa thế kỷ trước.

Họa cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài C.C.R. Đ., còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như Nhân Văn, Xét Lại, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên … – chưa xử và bắt buộc phải xử, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để truy thù hay báo oán. Truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt không cho phép bất cứ ai thực hiện điều đó. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả – và không thể thanh thỏa bằng một (hay vài) cuốn truyện– để chúng ta đều cảm thấy được nhẹ lòng, và an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

Tưởng Năng Tiến
01/2007


(1) Trần Văn Thủy, tác giả Nếu Ði Hết Biển, Thời Văn (Hoa Kỳ) xuất bản năm 2003. Cuốn sách này, đã có lúc, gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
(2) Tất cả những trích dẫn có liên hệ đến cuốn Ba Người Khác và buổi toạ đàm, cũng như những bài tham luận, về tác phẩm này đều lấy từ talawas. Người viết xin trân trọng gửi đến ban biên tập talawas lời cảm ơn về nguồn tài liệu phong phú và cập nhật này.

Tô Hoài: tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ngày 7 tháng 9 năm 1920 ở quê ngoại: làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam) trong một gia đình thợ thủ công, là một nhà văn người Việt.

Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,… và nhiều khi thất nghiệp.

Đến với văn chương ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là với truyện Dế mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc.

Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.

Các bút danh của ông: Tô Hoài, Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa.

Các tác phẩm chính: Dế Mèn phiêu lưu kí (1941), O chuột (1942), Nhà nghèo (1944), Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Cát bụi chân ai (1992).Và gần đây nhất là tác phẩm “Ba Người Khác” mới được xuất bản cuối năm 2006. Tác phẩm này đã gây tiếng vang lớn và có thể so sánh với “Dế Mèn phiêu lưu ký”.

Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(*) Nếu muốn cập nhật với “tư tưởng” HCM và khẩn trương chấp hành Chỉ thị số 06-CT/TW do Bộ Chính Trị Đảng CSVN đưa ra ngày 7 tháng 11 năm 2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” từ 3/2/2007 đến ngày 3/2/2011, bạn đọc có thể đao lốt Hồ Chí Minh Toàn tập tại đây.

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | 2 phản hồi

Đầu Năm Kiếm Chuyện Với “Hồn Thiêng Sông Núi”


Đời vẫn vốn không nương người thất thế.
(Nguyễn Tất Nhiên)

Người Việt sính thơ, và hay sáng tác những bài thơ (rất) … vụng. Ngoài cái tật hay làm thơ ra, dân Việt còn có một cái thói xấu (lớn) khác nữa là thích bắt người khác phải nghe hay đọc những câu thơ ngô nghê của mình. Nếu bạn không tin như vậy, cứ thử vào xem Đàn Chim Việt Online sẽ thấy. Ở diễn đàn này, trong phần góp ý, bên dưới những bài chủ, bao giờ cũng xuất hiện năm bẩy bài thơ lảng xẹt.
Tôi cũng là người Việt, nên cũng thích làm thơ, cũng chuyên môn sản xuất ra loại thơ … (rất) vụng, và cũng không từ bỏ một cơ hội nào để gởi thơ lên net. Bài thơ đỡ dở nhất – tôi viết vào mùa Hè năm 1980, tên “Chiều Vọng Các,” sau khi leo rào từ một trại tị nạn ở Thái Lan ra Bankok chơi – có những đoạn (hơi) sến, như sau:

Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê

Chiều về trên xứ lạ
Execuse me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề

Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây rượu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao

Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha ơi đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)

Thơ thẩn cỡ đó, nếu đem dự thi chắc rớt (rớt chắc) nhưng mang gửi về Việt Nam cho gia đình cho ông bà già chơi thì họ … phê hết biết luôn. Má tui đọc xong, khóc ròng cả tháng. Bả lu loa, mếu máo kể lể với mọi người:

– Coi: thằng út tui là dân nhậu. Trên tay nếu không cầm ly thì cũng cầm chai. Nó sinh ra để uống. Bỏ uống là chết mẹ. Nó rất thích cảnh cơm hàng – cháo chợ, và thấy rượu thịt là vui mừng như lân thấy pháo. Vậy mà (Trời ơi) bây giờ thằng nhỏ bước vô quán như cái xác không hồn, thẫn thờ nhớ mẹ nhớ cha, nhớ bạn nhớ bè … tới đắng miệng, rượu uống không vô! Sao mà khổ thân dữ vậy con ơi? Vì ai mà con tui phải lìa xa gia đình, quê hương và … lưu lạc nơi xứ lạ quê người như vậy, hả mấy ông cách mạng?

Ở thời điểm này, không riêng chi má tui đâu nha, ít nhứt cũng nửa nước Việt Nam đã ngộ nhận về thiện chí của nhà cầm quyền như thế. Người dân tưởng rằng chế độ bao cấp, chính sách hộ khẩu, tem phiếu, kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền … đều chỉ là những phương thức cào bằng, bần cùng hoá cả xã hội, và tha hoá con người … nên cùng nhau bỏ chạy. Còn về phía nhà nước, khi thấy thiện chí xây dựng một xã hội công bằng, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc … bị người dân cương quyết khước từ – bằng cách liều mạng bỏ phiếu bằng chân – nên nổi giận, và đã (có) nặng lời chút đỉnh: “đồ cặn bã, ma cô, đĩ điếm …”

Tất cả chỉ là những ngộ nhận nhất thời, và thời đó đã qua. Bây giờ là một thời khác hẳn. Những kẻ (lỡ) bỏ đi, vẫn thường được phép trở về. Và khi về, đều được Đảng và Nhà Nước hân hoan chào đón.

Năm 2004, có 19 người Việt ở hải ngoại được vinh danh tại Văn Miếu, Hà Nội (1). Năm 2005, thêm 19 người khác tiếp tục được nhận lãnh cái vinh dự (to lớn) tương tự (2).

“Nhận xét về tổ chức Lễ Vinh danh nước Việt, ông Nguyễn Chơn Trung – Chủ nhiệm Uỷ ban Người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM đánh giá cao chương trình mà Báo Điện tử Vietnamnet đã thực hiện và thành công như mong đợi. Ông Trung cho rằng, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị với nhiều chính sách đổi mới ngày càng thông thoáng hơn và tạo điều kiện cho bà con kiều bào ngày càng gần với quê hương, đất nước.”

“Thật vô cùng xúc động khi những người con Việt ở xa Tổ quốc hội tụ về đây, cùng lắng nghe tiếng gọi của non sông hào hùng từ ngàn xưa vọng về. Họ đại diện cho gần 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, mang trong người dòng máu Lạc Hồng đã có những đóng góp trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Họ xứng đáng là ‘Những sứ giả Lạc Hồng’, là chiếc cầu nối giữa người Việt trong nước và ngoài nước, giữa Việt Nam và cộng đồng Quốc tế.”

Nhà báo Nguyệt Quế đã viết những dòng chữ (vô cùng) thắm thiết như trên, trong bài báo có tựa là Khi Hồn Thiêng Sông Núi Gọi Về tại chuyên san Người Viễn Xứ, ngày 6 tháng 2 năm 2006

Tui in bài báo này, gửi dìa nhà cho ông bà già coi chơi. Ba má tui sẽ hãnh diện và sung sướng (muốn chết) khi biết rằng nhờ sự thông thoáng của NQ 36, thằng con đã được chuyển từ diện “cặn bã xã hội” qua thành … “những sứ giả Lạc Hồng” rồi! (Tui viết rõ ràng là “Lạc Hồng”, đừng có đánh máy hay đọc lộn thành “Lạc Hồn” nha, mấy cha). Hậu vận của tui, rõ ràng, quá tốt. Tui quả là người (cực kỳ) may mắn.

Không phải ai tha phương cầu thực cũng đều có cái may mắn đó đâu. Bà Tạ Thị Giám là một người, không may, như thế.

Trong một bài bào có tên Taiwan Shelter Helps Abused Vietnamese Workers,” đọc được trên nhật báo Mercury News – số ra ngày 12 tháng 12 năm 2006 – ký giả K. Oanh Ha đã mô tả hiện cảnh của bà Giám, như sau:

“Tạ Thị Giám, một người phụ nữ Việt Nam, đã bị hấp dẫn bởi lời hứa hẹn về số tiền lương 500 Mỹ Kim mỗi tháng. Bà rời nhà nơi làng quê nghèo nàn ở ngoại thành Hà Nội để lao động cật lực trong một viện dưỡng lão tại Đài Loan, với hi vọng có tiền cho con đi học.”

“Ngược lại, bà Giám cho biết, bà đã bị biến thành nô lệ cho người chủ Đài Loan, bị chủ đánh đập, không cho ăn, và buộc phải làm việc cho đến khi gục ngã. ‘Họ đối xử với chúng tôi như một con vật, chứ không phải là một con người… vì biết rằng chúng tôi đã lâm đến bước đường cùng, không còn nương tựa vào ai được nữa’. Bà Giám, 36 tuổi, đã nói như thế”

Tưởng “như thế” đã đủ nát lòng, vậy mà nhiều cảnh đời lưu lạc còn truân chuyên hơn thế nữa. Những nạn nhân trong cuộc – theo tường thuật của Tuần báo Viet Tide, qua bài phóng sự “Người Việt Trên Đất Đài: Lời Kêu Cứu Của Những Phận Người Bị Chà Đạp,” phát hành từ California ngày 20/05/2005 – đều xin được giấu tên:

N. nói: “Quê tôi ở Việt Trì… Làng tôi nghèo lắm khó kiếm được công ăn việc làm … Tôi sang Đài Loan ngày 18 tháng Giêng năm 2005. Theo hợp đồng với công ty môi giới tại Việt Nam, tôi sẽ chăm sóc một ông già bị liệt toàn thân. Khi đi tôi đã vay gần 20 triệu tiền Việt Nam để giao cho công ty môi giới… Tôi bị cưỡng hiếp nhiều lần trong suốt thời gian bị cầm giữ trong nhà tay chủ môi giới này”.

M. nói: “Làng quê của em ở Tây Ninh, nghèo lắm. Bọn em chưa hề biết Sài Gòn là gì, vậy mà bay giờ luân lạc sang tận Đài Loan. Lúc ra đi, bọn em chỉ mong lấy được tấm chồng, rồi kiếm việc làm để gửi tiền về giúp cha mẹ cất mái nhà ở. Không ngờ thân bọn em bị ô nhục đến thế.”

T. khóc: “Vừa đặt chân đến phi trường Đài Bắc, tên môi giới hôn nhân cùng đồng bọn giữ hết giấy tờ hộ chiếu rồi đưa chị em em lên xe chở thẳng đến một căn nhà 16 tầng. Ở đó, bọn em bị canh giữ ngày đêm. Bọn em bị cưỡng bức phải tiếp khách. Suốt 21 ngày, thân xác bọn em bị khách chơi hành hạ … Tương lai ra sao, về nước hay ở lại, bọn em cũng không biết, mà cũng không dám nghĩ tới … Cứu bọn em các anh chị ơi.”

Không hiểu con đường khổ nạn của những người lưu lạc (như bà Giám, bà M., bà N., bà T…) ở Đài Loan còn bao xa nữa nhưng đối với một số phụ nữ Việt Nam khác – vừa có mặt ở Mã Lai – thì họ mới chỉ bắt đầu cuộc hành trình (không may) tương tự. Theo nhật báo International Herald Tribune – số ra ngày 19 tháng 12 năm 2006 – hiện có hàng chục thiếu nữ VN đang được trưng bầy tại các quán cà phê ở Mã Lai, để chờ được mua về làm vợ. Sự kiện này khiến cho người dân bản xứ cảm thấy bất an. Họ mô tả đó là một việc làm “bệnh hoạn và vô luân” (The pratice has been described as “sickening and immoral”…).

Những người phụ nữ đã sa chân lỡ bước này, nếu (cũng) được “hồn thiêng sông núi” gọi về thì thiệt là đỡ khổ cho họ (và cũng đỡ tủi cho toàn dân Việt Nam) biết mấy. Những đưá bé thơ tên Xuân, tên Yến – đang bán thân nuôi miệng – ở Cao Miên cũng vậy. Hoàn cảnh của các em khiến mọi người đều phải xót xa, mà sao “hồn thiêng sông núi” (cứ) tỉnh queo như vậy cà?

Cách gọi của “hồn thiêng sông núi”, dường như, có cái gì không ổn. Tui “rà xoát” lại chuyện này chút đỉnh và biết thêm rằng chuyện “vinh danh” hàng năm là do báo điện tử Vietnamnet tổ chức, còn gọi ai về để vinh danh lại là chuyện (riêng) của … Mặt Trận Tổ Quốc!

Nói cách khác, giản dị và dễ hiểu hơn, là thông qua Mặt Trận Tổ Quốc, Đảng đang lãnh đạo và chỉ đạo luôn cả … “hồn thiêng sông núi” nữa. Thiệt là quá đã (và quá đáng)!

Mà Đảng (ta) thì làm gì mà không có tính toán. Và toàn là những toan tính bẩn thỉu, ti tiện, và đểu cáng. Chỗ nào thấy không có lợi, và ai không có tiền thì Đảng làm lơ, chớ gọi (về) làm chi – cho chật chỗ?

Toàn thể nhân loại đều biết chuyện phụ nữ VN bị bầy bán trong những quán cà phê ở Mã Lai nhưng cả toà đại sứ VN ở Mã Lai thì không một ai biết là có chuyện (đáng tiếc) này – theo như tường thuật của phái viên AP, vào ngày 19 tháng 12 năm 2006: “Vietnam’s ambassador to Malaysia, Nguyen Quoc Dung, said officials were not aware of such incidents…Đại sứ Việt Nam ở Mã Lai, Nguyễn Quốc Dũng, nói rằng giới chức có thẩm quyền không hề biết có những sự cố như vậy … ”

Và như vậy – trong những đợt vinh danh tới – những người như bà Tạ Thị Giám, cũng như những cô gái Việt đang ngồi phơi mặt trong những quán cà phê ở Mã Lai (chắc chắn) sẽ không được “hồn thiêng sông núi gọi về” đâu. Ủa, sao kỳ vậy, cùng là “Việt Kiều” hết trơn mà?

Coi: ông đại sứ Việt Nam ở Mã Lai mà còn không biết là họ có mặt bên xứ đó thì “hồn thiêng sông núi” làm sao có danh sách (để) gọi về chớ. Hơn nữa Văn Miếu – Quốc Tử Giám (ở Hà Nội) là chỗ linh thiêng, chỉ có loại ma cô đĩ điếm đã được chuyển diện thành “sứ giả Lạc Hồng” mới xứng đáng được mời về để vinh danh thôi. Chớ còn cái thứ đang bán thân nuôi miệng, và bán với cái rất bèo, ở mấy xứ Á Châu thì … khỏi!

Đời vẫn vốn không nương người thất thế. Đảng cũng vậy thôi à. Nhưng nói vậy, e chưa hết lẽ. Cũng có lúc Đảng nương (vào) người thất thế đó chớ. Nếu không, lấy đâu ra lý do để làm cách mạng và cướp chính quyền.

Tưởng Năng Tiến
01/2007


Ghi chú: (1) Ông Vũ Gỉan, Thụy Sĩ ; tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng, Vương quốc Bỉ; tiến sĩ Lương Văn Hy, Canada; tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Việt Nam; viện sĩ Trần Văn Khê, Paris; tiến sĩ Đặng Lương Mô , Việt Nam; ông Nguyễn Ngọc Mỹ, Việt Nam; tiến sĩ Ngô Thanh Nhàn, Hoa Kỳ; ông Lê Phi Phi, Việt Nam; tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong, Hoa Kỳ; tiến sĩ Nguyễn Công Phú, Pháp; tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu, Pháp; nghệ sĩ Đăng Thái Sơn, Canada; ông Bùi Kiến Thành, Hoa Kỳ; tiến sĩ Trần Văn Thọ, Nhật; tiến sĩ Trịnh Xuân Thuận, Hoa Kỳ ; tiến sĩ Võ Văn Tới, Hoa Kỳ; kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, Pháp; tiến sĩ Trần Thanh Vân, Pháp
Nguồn: Người Viễn Xứ.
(2) TS. Nguyễn Quốc Bình (VK Canada); TS. Nguyễn Trọng Bình (VK Mỹ); PGS, TS. Nguyễn Lương Dũng (VK Đức); TS. Nguyễn Trí Dũng (VK Nhật); Họa sĩ Lê Bá Đảng (VK Pháp); GS,TS. Nguyễn Quý Đạo (VK Pháp); Nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo (VK Pháp); Bác sĩ Bùi Minh Đức (VK Mỹ); TS. Lê Phước Hùng (VK Mỹ); ThS. Phạm Đức Trung Kiên (VK Mỹ); GS,TS. Đoàn Kim Sơn (VK Pháp); GS Toán học Lê Tự Quốc Thắng (VK Mỹ); Ông Phan Thành – Chủ tịch HĐQT HHNVNONN TPHCM (VK Canada); GS,TS Nguyễn Văn Tuấn (VK Úc) và GS,TS Nguyễn Lân Tuất, VK Nga Nguồn: Người Viễn Xứ

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cuối Năm Nói Chuyện Với Đầu Gối


Đi hỏi già, về hỏi trẻ
(Tục ngữ VN)

Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông con nít. Cùng lứa với tôi, có chừng vài chục đứa tên bắt đầu bằng chữ út: Út Lé, Út Lác, Út Lồi, Út Hô, Út Còi, Út Ghẻ, Út Mập, Út Sún, Út Sứt, Út Méo, Út Hô, Út Đen, Út Ruồi, Út Xẹo, Út Trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu – lôi thôi – theo như kiểu cách trong xã hội Âu Mỹ:

– Còn đây là thằng út, nó tên là Út Rỗ. Chả là ngay sau khi lọt lòng, cháu bị rơi vào một cái … thùng đinh!

Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út Khùng. Nếu nhìn mặt mà bắt hình dong thì khó ai có thể biết được là tôi bị khủng. Bây giờ thì (than ôi) tôi trông tàn tạ và héo úa lắm rồi, chớ hồi nhỏ – nói thiệt nha – cả xóm ai cũng phải công nhận là Út Khùng ngó đẹp trai và coi dễ thương hết biết.

Chỉ có cái kẹt là lúc mới biết đi, tôi bi rơi xuống giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ chân tay xụi lơ, bụng chương xình, mặt mày tím ngắt, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.

Thực ra thì “chưa.” Tôi chưa bỏ mạng nhưng cuộc đời của tôi, kể từ giờ phút đó, là kể như … rồi – theo như lời chẩn đoán của những vị bác sĩ lo việc chữa trị cho tôi lúc ấy:

– Thằng nhỏ ở dưới giếng cả buổi, thiếu oxy nên một số tế bào não đã đi đoong rồi. Nó sẽ hơi khó nuôi và cũng sẽ hơi khác người chút xíu, nhưng hy vọng cũng sống (được) chớ không đến nỗi nào đâu.

Dù đã nghe trấn an như vậy, ba má tui rõ ràng (và hoàn toàn) không yên tâm tí nào về cái chỗ “hơi khác người chút xíu” như thế. Ông bà hẳn cũng khổ tâm vì cái tên gọi, nghe hâm thấy rõ, của đứa con … cầu tự!

Cả hai quyết định dọn nhà đi nơi khác – nơi mà không ai biết là tôi đã từng bị té giếng, và té lầu (không lâu) sau đó. Bố mẹ tôi quyết tâm tạo cơ hội cho con có một cái lý lịch mới, trắng tinh, để làm lại cuộc đời. Đây thực là một cố gắng phi thường, rất đáng qúi nhưng (tiếc thay) hoàn toàn … vô vọng!

Gia đình tôi dọn từ dưới đường Phan Đình Phùng lên tuốt đường Duy Tân, một con đường dốc, ngay trung tâm của thành phố Đà Lạt. Giữa đường là cửa hiệu chuyên bán vật liệu xây cất nhà cửa, tên Lưu Hội Ký, nên lúc nào cũng có một chiếc xe ba gác trước cửa tiệm.

Trò chơi mà đám trẻ con chúng tôi thích nhất là ban đêm nhẩy lên xe, thả cho chạy từ đầu xuống đến cuối dốc. Xong, cả lũ lại hè nhau hì hục đẩy xe lên lại. Tôi nhỏ bé và ốm yếu nên thường được ngồi trên yên cầm lái. Bao giờ cũng chỉ được một phần ba khoảng đường là cả bọn đều mệt bá thở, phải ngừng lại để nghỉ.

Có lần, một đứa nổi quạu:

– Biểu thằng Tiến xuống đẩy luôn đi, chớ nó ngồi không như cha người ta vậy chỉ thêm nặng thôi, chớ đâu có ích lợi gì.

Tôi vênh váo:

– Đ…má, bộ mày tưởng tao ngồi chơi chắc. Dốc cao thấy mẹ, tao phải bóp thắng không ngừng xe mới khỏi bị tụt lại, chớ không làm sao tụi mày đẩy được lên tới tận đây!

Tôi có cái tên mới, Tiến Khùng, thay cho Út Khùng, kể từ bữa đó.

Và từ bữa đó, cho đến bữa nay, đã gần nửa thế kỷ qua. Chiều nay, tôi bỗng nhớ lại những kỷ niệm vào thuở ấu thời, sau khi đọc tờ Việt Weekly – VOL. IV, NO.50 – phát hành từ Garden Grove, California, ngày 7 tháng 12 năm 2006. Số báo này có đăng lại bài tường thuật về cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa ban biên tập Việt Weekly với ông Võ Văn Kiệt, trong thời gian họ trở về nước để làm tin về hội nghị APEC 16.

Vào dịp này, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt của nước CHXHCNVN – một nhân vật tuy đã “out” nhưng chưa “down”- tuyên bố:

“Ít nhất phải để cho ba triệu đảng viên phải có chỗ đứng yêu nước trong dân tộc chứ, nếu phủ nhận, thực là quá đáng.” Và cũng chính ông Võ Văn Kiệt, ngay sau đó, bầy tỏ sự lo âu rằng: “Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là tụt hậu, nghèo nàn. Chúng ta phải làm sao bắt kịp thế giới.”

Cũng như phần lớn những người cộng sản khác, ông Kiệt thường hay nói chữ, và nói … khá ngu! Việt Nam là một trong những quốc gia đã được xếp vào hạng lạc hậu, độc tài và nghèo nàn nhất thế giới từ lâu lắm rồi – chớ còn có “nguy cơ” hay “cơ nguy” (khỉ khô) gì nữa, cha nội!

Ông Kiệt, hồi nhỏ dám (cũng) bị té giếng lắm nha. Thằng chả làm tôi nhớ đến cảnh mình ngồi rà thắng, trong khi bạn bè nhễ nhại mồ hôi đẩy cái xe ba gác lên dốc Duy Tân, ở Đà Lạt. Đã vậy mà còn lớn tiếng kể công:

– Đ… má, không nhờ tao bóp thắng (liên tục) để xe khỏi bị tụt dốc thì làm sao tụi bay đẩy xe lên được tuốt tận đây!

Thiệt nghe mà muốn ứa gan, và ứa …nuớc mắt! Những kẻ chủ trương yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa – cái chủ nghĩa (thổ tả) đã kềm hãm cả nước VN trong tối tăm, nghèo đói, cùng quẫn, áp bức, dốt nát, bênh tật, lạc hậu … hơn nửa thế kỷ qua – nay đang lớn tiếng đòi hỏi mọi người không được “phủ nhận” chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc!

Có lần một sĩ phu Bắc Hà nói (nhỏ) với tôi rằng: “Người cộng sản giống như những kẻ lữ hành không biết dùng bản đồ nên hay bị sa xuống hố. Cứ mỗi lần như thế, sau khi lóp ngóp bò lên lại được mặt đất, họ lại tung hô chiến thắng.”

Nghe thiệt là ớn chè đậu. Chứng kiến cái thái độ “hơn hớn tự đắc” của những người cộng sản VN, khi mới chập chững bước chân vào WTO, khiến tôi thốt nhớ đến nhận xét vừa nêu và – không dưng – muốn ói.

Nếu cứ nghe theo như miệng lưỡi của ông Võ Văn Kiệt thì người ngoại cuộc dám tưởng rằng hiện tại, ở VN, có hàng trăm đảng phái đang tham chính – chỉ riêng có Đảng Cộng Sản là bị cấm cửa, không cho hoạt động, nên họ mới có chuyện đòi hỏi tội nghiệp xin một chỗ để … đứng (xớ rớ) cho vui. Sự thực, ai cũng biết, người cộng sản không chỉ “đứng” mà còn giành ngồi (độc quyền) trên đầu trên cổ của dân tộc Việt từ hơn nửa thế kỷ nay. Ông Võ Văn Kiệt còn “thẳng thắn” cho biết là họ sẽ … ngồi luôn như vậy, nếu thấy không có gì trở ngại!

Đây là nguyên văn câu hỏi của ban biên tập Việt Weekly“Trong điều 4 của Hiến pháp quy định chỉ có đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo quốc gia. Như ông đã nói, quốc gia là quốc gia chung của 80 triệu người, vậy quy định như vậy có nghịch lý không?”

Và ông Võ Văn Kiệt đã trả lời (lòng vòng) như sau:

“Đảng cộng sản Việt Nam đã có vai trò đối với lịch sử của đất nước. Đảng vì dân tộc, vì đoàn kết của dân tộc, tất cả thể chế đều dựa vào dân và phục vụ nhân dân. Nếu như đảng cộng sản làm đầy đủ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mà đây là một đòi hỏi hết sức chính đáng, nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ được vai trò này, được sự đồng thuận của dân tộc Việt Nam, tôi nghĩ rằng đảng cầm quyền như đảng Cộng sản Việt Nam là tin cậy được … Mong muốn lớn nhất của toàn xã hội là làm sao đất nước tiếp tục ổn định để tiếp tục đổi mới và phát triển, để không xảy ra rối rắm như nhiều nước khác.”

“Nhiều nước (nào) khác” đã “xẩy ra rối rắm” vì theo chính sách đa nguyên và đa đảng thì không nghe ông Võ Văn Kiệt nói (ra), và cũng không thấy ban biên tập Việt Weekly hỏi (tới). Đang xớ rớ ở Việt Nam mà biết giữ mồm giữ miệng như vậy là phải (giá). Hỏi han, ăn nói lạng quạng dám bị đụng xe hay … lỡ bị mà kẹt luôn thì chết (mẹ).

Tôi không có gì phàn nàn ban biên tập Việt Weekly về sự dè dặt như thế. Tôi chỉ lấy làm tiếc là anh em đã không có cơ may để thực hiện lời khuyên của ông bà chúng ta để lại: “Đi hỏi già, về hỏi trẻ.”

Khi rời khỏi VN, anh em đều còn rất trẻ nên đã đi theo gia đình, hoặc theo lời khuyên của những bậc trưởng thượng (trong gia đình) mình để … vuợt biên. Khi trở về, lẽ ra, nếu hoàn cảnh cho phép, anh em nên hỏi chuyện nước non với những người trẻ tuổi như Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Bạch Ngọc Dương, Lê Trí Tuệ, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Xuân Đài … Xuất lộ của VN, hy vọng, có thể bắt đầu từ những con người quả cảm và ưu tú như thế. Chớ mất thời giờ với những ông già gần đất xa trời nhưng vẫn đĩ miệng và láu cá (như cái thứ ông Võ Văn Kiệt) làm chi. Quyền lợi đã khiến cho những người cộng sản VN trở nên … khùng hết trơn rồi.

Lâu nay, họ vẫn kể công là “nhờ sự quyết tâm và dũng cảm đổi mới của Đảng” nên cả nước mới thoát khỏi cảnh cơ hàn, đói rách. Còn ai gây ra thảm cảnh này thì những người cộng sản đã (làm bộ) quên mất tiêu rồi.

Cứ theo giọng điệu tráo trở như thế, không chừng, những nạn nhân thoát chết sau vụ Cải Cách Ruộng Đất ở VN – hồi đầu thập niên 50 – rồi cũng phải ghi nhớ công ơn của Đảng luôn. Chính Đảng đã phát động Chiến Dịch Sửa Sai (sau khi đã sát hại vài trăm ngàn người) chớ còn ai khác.

Tương tự, có lẽ những cộng đồng người Việt ở hải ngoại (kể cả những phụ nữ đang đi làm thuê làm mướn hay làm nô lệ tình dục ở Đài Loan, và những em bé đang sống trong những nhà thổ ở Cao Miên) cũng đều phải ghi nhận “chỗ đứng” của người cộng sản – như là những ân nhân – chớ phủ nhận sạch trơn sao được. Nếu không nhờ vào những chính sách bất nhơn, ngu xuẩn, và sự hà khắc của Đảng (đến độ cái cột đèn – nếu có chân – cũng phải bỏ chạy) thì làm sao mấy triệu người Việt Nam có “cơ hội” xuất ngoại, đúng không?

Trong thư toà soạn, của số báo thượng dẫn, ban biên tập Việt Weekly đã nêu lên một chủ trương đứng đắn và hợp lý: “Chúng ta là những người đã từng can đảm cầm súng chiến đấu cho niềm tin của mình. Đã từng can đảm giăng buồm đi vào biển xanh âm u cho niềm tin của mình. Thì chúng ta phải có đủ can đảm nhìn thẳng vào niềm tin của mình, nhìn thẳng vào đối phương, để tìm ra tương lai. Tương lai không phải cho riêng ai, mà cho cả dân tộc.”

Tôi xin cảm ơn anh em đã tạo cơ hội cho nhiều người “nhìn thẳng vào đối phương” (thêm một lần nữa) để nhận ra rằng CS là loại người vô phương đối thoại, nếu không có súng để dí súng vào đầu của họ!

Từ trong nước, nhà báo Huỳnh Việt Lang – người sinh năm 1968, cùng thế hệ với anh em chủ trương tuần báo Việt Weekly – đã khẳng định như thế, trước đây, vào ngày 30 tháng 10 năm 2005: “Tập đoàn cầm quyền phản động Hà nội đã khước từ cơ may đối thoại… chúng tôi sẽ tranh đấu đến cùng, hoặc toàn bộ chúng tôi bị giết, hoặc chế độ cộng sản đểu cáng vô nhân tính tại Việt Nam này phải bị đánh sập”.

Mười hai tháng sau, “chế độ cộng sản đểu cáng vô nhân tính tại Việt Nam (chưa) bị đánh sập” thì Huỳnh Việt Lang (đã) bị họ bắt giam rồi. Chúng ta đang ở tình trạng đánh không nổi, hoà không xong, và đàm cũng không được nốt. Chuyện tìm ra tương lai cho cả dân tộc, theo như sự quan tâm và cách nói của anh em Việt Weekly, xem chừng, còn nhiều chông gai lắm.

Tưởng Năng Tiến
12/2006

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thôi Bỏ Đi Tám (Bis)


Ôi! Tay chúng cầm lê
Đâm người – dấu mặt
Lại vội lau tay – vu cáo – gây thù.

Phùng Cung (Trăng Ngục)

Những gia đình đông con thường nghèo, và những gia đình nghèo thường … đông con. Nghèo, tất nhiên, đi cùng với khổ. Khổ nhất là anh em phải mặc quần áo của nhau, nguời Việt gọi là mặc “khính”, cứ đứa lớn mặc chật thì đứa kế sẽ mặc tiếp.

Mặc quần áo cũ đã phiền, đi dép cũ hay đội nón cũ thì còn phiền hơn nữa, nhất là dép râu và nón cối. Loại nón này xuất hiện cùng lượt với chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, như một biểu hiện cho … tai hoạ, và sự cùng khốn của người dân – ở xứ sở này.

Một cái nón cối mới tinh (đội) trông đã chả giống ai. Chơi một cái đã cũ, bẩn thỉu, và bạc phếch màu lên đầu thì thì kể như là hết thuốc! Đã có mấy thế hệ người Việt phải đội những cái nón (thổ tả) như thế, trong suốt cuộc đời không may của họ.

Dép râu, dường như, đã tuyệt tích giang hồ nhưng nón cối thì chưa. Xem những bài phóng sự của Tuổi Trẻ và Thanh Niên Online (hồi đầu tháng 10 năm 2006) tường thuật cảnh vớt xác những bé thơ chết trôi ở VN, người ta vẫn nhìn thấy nón cối lố nhố nơi những vùng quê. Ở đâu mà còn nón cối thì nơi đó cuộc đời còn … khốn nạn! Tai nạn chìm đò – ở bến Chôm Lôm, xã Mỹ Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An – chỉ là một chuyện thương tâm, trong vô số “Những Chuyện Từ Những Chuyến Đò Ngang”

Và nón cối không phải là “đặc sản” duy nhất của Chủ Nghĩa Cộng Sản ở Việt Nam. Ngoài nón còn có mũ: mũ tai bèo và mũ gián điệp. Mũ tai bèo sinh sau đẻ muộn (như là thứ trang phục riêng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) và đã lặng lẽ biến khỏi cõi đơi, sau khi miền Nam (hoàn toàn) giải phóng.

Mũ gián điệp có tuổi thọ cao hơn, và là một sản phẩm quen thuộc từ lâu ở Việt Nam. Muốn biết nó lâu đến cỡ nào thì phải (kiên nhẫn) lật lại vài trang báo cũ:

Tạp chí Văn Nghệ, số ra ngày 12 tháng 5 năm 1958, có đăng lại “lời tố cáo” của một người viết báo – ký tên Hồng Vân – nguyên văn như sau:

“Hắn là con một tên chánh tổng ở Thái Bình. Chính gia đình địa chủ cường hào này đã rèn luyện cho hắn cái đầu óc thích ‘ăn trên ngồi trốc’, thích địa vị với nhiều thủ đoạn nham hiểm và tàn nhẫn… Trong chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc lồng lộn khủng bố, toàn bộ Ðảng ta rút vào bí mật… Còn (hắn) vẫn hoạt động công khai trong phong trào truyền bá quốc ngữ.”

“Hắn” đây là ông Nguyễn Hữu Ðang, đảng viên cộng sản, Thứ Trưởng Bộ Thanh Niên, Thứ Trưởng Bộ Tuyên Truyền trong nội các đầu tiên nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Và không phải là vô cớ mà báo Văn Nghệ phanh phui lý lịch (gia đình) của Nguyễn Hữu Đang, cùng với những lời vu cáo hàm hồ, như thế.

Ông (hay bà) Hồng Vân nào đó chỉ làm công việc chuẩn bị dư luận cho một màn kịch đã soạn sẵn, để trình diễn tại Toà Án Nhân Dân Hà Nội, vào ngày 21 tháng 1 năm 1960. Hôm đó, Nguyễn Hữu Đang bị kết tội gián điệp, và ông đã phải thọ án mười lăm năm tù vì tội danh này.

Uả, mà sao (khi khổng khi không) cái ông thứ trưởng lại trở thành gián điệp, kỳ cục như vậy cà? Muốn biết nguyên do lại phải lật lại vài trang báo cũ hơn nữa. Hãy mở báo Nhân Văn, số ra ngày 20 tháng 11 năm 1956, ở ngay trang nhất, để xem Nguyễn Hữu Đang đã (lỡ miệng) nhắc nhở những người lãnh đạo, ở miền Bắc VN, về chuyện phải thực thi Hiến Pháp 1946 ra sao – để cho xã hội đỡ “xộc xệch” hơn mộ t chút (Hiến pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ như thế nào?).

Nguyễn Hữu Đang (và vô số công dân ưu tú khác) đã không lần lượt phải đội mũ gián điệp, nếu cứ giữ im lặng trước cách quản lý đất nước (ngu xuẩn và ác độc) của Đảng CSVN.

Gần đây, ngày 2 tháng 9 năm 2002, hai công dân Việt Nam khác – Trần Khuê và Phạm Quế Dương – đã làm đơn xin thành lập Hội Nhân Dân Ủng Hộ Ðảng và Nhà Nước Chống Tham Nhũng. Chả bao lâu sau, trên tạp chí Thông Tin Công Tác Tư Tưởng Lý Luận số tháng 2 năm 2003 (trang 20 &23) bỗng có “thông báo” – thế này:

“Ngày 2/1/2003, cơ quan an ninh điều tra đã khởi tố Phạm Quế Dương và Trần Khuê về tội gián điệp theo điều 80 Bộ luật hình sự …”

“Để chủ động trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương thông báo về hành vi phạm tội của Phạm Quế Dương và Trần Khuê, đề nghị các cấp ủy, tổ chức Đảng thông báo cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ về âm mưu, ý đồ của các đối tượng trên để nâng cao ý thức cảnh giác, chủ động tấn công phản bác lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Các cơ quan chức năng của Bộ Công an đang khẩn trương điều tra để đưa Phạm Quế Dương và Trần Khuê ra xét xử công khai trước Pháp lật trong thời gian tới”.

Dù Ban Tư Tưởng Văn Hoá Trung Ương đã gợi ý rõ ràng như thế, hai ông Trần Khuê và Phạm Quế Dương vẫn không bị kết tội gián điệp. Họ chỉ bị gán một cái tội vớ vẩn gì đó, và lãnh một bản án nhẹ hều: 19 tháng tù.

Cái mũ gián điệp (đã có lúc) có thể trùm gọn, và xuyên suốt, hết cả cuộc đời của Nguyễn Hữu Đang (nay) rõ ràng đã chật. Dùng để chụp (đại) lên đầu hai ông Trần Khuê và Phạm Quề Dương – ngó bộ– không xong, và cũng không yên.

Sau mười lăm năm tù, Nguyễn Hữu Ðang lủi thủi trở về làng quê ở Thái Bình. Ông sống nhờ vào … côn trùng và cóc nhái. Ước vọng cuối cùng của ông, theo lời kể của Phùng Quán, là được nằm trong: “… một búi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (Ba Phút Sự Thật – Ngày Cuối Năm Tìm Thăm Người Dựng Lễ Ðài Tuyên Ngôn Ðộc Lập).

Những kẻ đã chụp cái mũ gián điệp lên đầu Nguyễn Hữu Đang hẳn là sung sướng khi nghe được những lời trăn trối thê thảm như thế. Những kẻ định chụp mũ gián điệp lên đầu Trần Khuê và Phạm Quề Duơng, tiếc thay, không có được sự may mắn và hả hê tương tự.

Ngày 12 tháng 6 năm 2005, hai ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê đã đưa đơn kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam vể tội xuyên tạc và mạ lỵ.

Theo qui định thì đơn kiện của hai ông phải được phúc đáp trong ba muơi ngày. Đã hơn một năm lặng lẽ trôi qua, ông Trưởng Ban Tư Tưởng và Văn Hóa Trung Ương Nguyễn Khoa Điềm đã cuốn gói … về vườn (cho nó đỡ lôi thôi) còn Đảng và Nhà Nuớc thì nhất định làm … thinh, dù hai ông Trần Khuê và Phạm Quế Dương rất nặng lời và lớn tiếng:

“Tại sao trong khi ‘các cơ quan chức năng của bộ công an đang khẩn trương điều tra’ mà Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương đã vội vã đưa ra lời buộc tội và kết án, trước cả Viện Kiểm sát và Tòa án. Thử hỏi Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương có quyền buộc tội và kết án các công dân không? Và họ đã dựa trên cơ sở pháp lý nào để tùy tiện thay thế Viện Kiểm sát và Tòa án?”

“Còn Tòa án thì cụ thể đã có kết luận như thế nào? Cả hai phiên tòa: phiên xử ông Trần Khuê tại TP Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 7 năm 2004 và phiên xử ông Phạm Quế Dương tại Hà Nội ngày 14 tháng 7 năm 2004 đều không nói tới tội danh gián điệp mà chỉ nêu tội danh lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước.’

“Rồi cả Tòa án Hà Nội cũng như Tòa án TP Hồ Chí Minh hầu như đều nhận thấy kết án như thế là gượng ép, không đúng thực tế nên đều tổ chức xử kín chứ không dám đàng hoàng ‘xét xử công khai’ như lời kết luận của bản Thông báo cũng như lời viết trong giấy triệu tập…”

“Thật đau lòng khi thấy trên một đất nước văn hiến như nước Việt Nam ta lại bỗng nhiên nhan nhản những gián điệp… Nhân dân thì kinh ngạc, thế giới thì chê cười cái lối vu cáo bỉ ổi, hèn hạ và độc ác nhường đó…” (Phạm Quế Dương và Trần Khuê kiện ban tư tưởng văn hóa trung ương đảng cộng sản).

Chửi rủa xối xả cỡ đó mà Đảng và Nhà Nuớc vẫn nhẫn nại ngồi im kể cũng là chuyện lạ, và là một chuyện … đáng mừng, ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ là giới cầm quyền bắt đầu biết lỗi, và quan trọng hơn, biết ngượng.

Và ai mà mừng sớm như vậy (kể như) là mừng … hụt, ráng chịu! Theo tin của FNA (Free News Agency), đọc được trên Người Việt Online ngày 20 tháng 10 năm 2006, mới đây, hai công dân Việt Nam khác – tên Nguyễn Chính Kết và Đỗ Nam Hải – sau khi tuyên bố thành lập Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền VN, vẫn bị công an chụp mũ là … gián điệp (Hai nhân vật đấu tranh dân chủ ở Việt Nam có thể bị truy tố với một số tội danh từ “lợi dụng tự do dân chủ”, “gián điệp”).

Thôi (Đ.M.) bỏ đi Tám ơi! Mệt quá rồi. Hơn nửa thế kỷ qua, chả lẽ không có sáng kiến hay sản phẩm gì mới mẻ khác sao mà cứ phải dùng đến nón cối và mũ gián điệp hoài như vậy? Nó cũ và … chật ních rồi, đội không vừa đầu dân Việt nữa đâu – nhất là những thằng dân (cứng đầu) như Phương Nam và Nguyễn Chính Kết. Vừa bị hai ông Trần Khuê và Phạm Quế Dương mắng cho một trận (như tát nước vào mặt) mà đã quên ngay rồi sao, mấy cha?

Tưởng Năng Tiến
10/2006

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuyện Từ Những Chuyến Đò Ngang


Ngày 19 tháng 5 năm 2003, một chuyến đò ngang – qua bến Cà Tang – bị nước cuốn trôi, khiến cho mười tám em học sinh chết đuối! Người phải chịu trách nhiệm trong tai nạn thương tâm này là ông Võ Nghĩnh, và kẻ liên đới là bào đệ của ông ta – ông Võ Quang Trang. Cả hai đều là những công dân lão hạng. Dù không ai trong số những gia đình nạn nhân nói trên đã đưa đơn thưa kiện, ông Võ Nghĩnh vẫn bị truy tố và xử phạt ba năm tù giam vì tội vi phạm các qui định điều khiển giao thông đường thủy.

“Bị cáo Võ Quang Trang (người giao đò cho anh trai điều khiển) và UBND xã Quế Trung phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường gần 282 triệu đồng cho các bị hại… “(*)

“Trước tòa, bị cáo Nghĩnh nhận hết trách nhiệm trong vụ án. Ông nói: “Tôi lẽ ra là người chết rồi, nhưng sống được tới giờ cũng khổ sở lắm chứ sướng ích chi. Tòa xử sao tôi cũng chịu vì tôi là người có lỗi”. Chủ tọa Vũ Thanh Liêm hỏi: “Biết mình già yếu, tuổi đã cao nhưng tại sao ông vẫn còn chèo đò. Lúc đó ông có biết đã vi phạm pháp luật vì không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy không?”. Ông Nghĩnh đáp: “Tôi gắn bó với sông Thu Bồn từ nhỏ. Già cả rồi nhưng nghĩ tới hột lúa hột gạo nên phải làm. Cả đời tôi không đi ra khỏi làng, làm sao biết quy định của pháp luật được”.

Tính cho đến hôm nay, án tù dành cho ông ta và bào đệ vẫn chưa đáo hạn. Rồi sáng nay, ngày 7 tháng 10 năm 2006, một vụ chìm đò khác xẩy ra – ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An – khiến cho 19 người thiệt mạng. “Theo người dân địa phương và một số học sinh sống sót, chủ đò tên là Phong, nhưng chuyến đò định mệnh này lại do con trai ông Phong lái, trên đò chở khoảng 25 em học sinh đang trên đường đến Trường THCS Lạng Khê. Lúc đò rời bến Chôm Lôm ra giữa sông Cả, nhận thấy đò quá nặng, lái đò loay hoay quay đò vào bờ để bớt người thì bị mất lái, chiếc đò chao đảo, học sinh hoảng loạn và đò lật chìm … các cơ quan chức năng đã vào cuộc để cứu nạn và điều tra làm rõ vụ lật đò này”

Không biết các cơ quan chức năng sẽ “cứu nạn” thế nào (khi mà 19 thi thể trẻ thơ đã bị cuốn phăng theo dòng nước lũ) nhưng khỏi cần điều tra thì người ta cũng có thể đoán được là Toà Án Nhân Dân Huyện Con Cuông sẽ có bản án xử phạt ra sao cho hai cha con người làm chủ con đò, ở bến Chôm Lôm. Hai anh em ông Võ Trang và Võ Nghĩnh đã trở thành vật tế thần cho oan hồn của những bé thơ ở bến Cà Tang, số phận cha con ông Phong (chắc chắn) cũng không thể khác.

Đó là những chuyện thường ngày vẫn xẩy ra ở huyện, và ở huyện nào thì những “cơ quan chức năng” cũng sẽ “xử lý” y như thế mà thôi. Chỉ có phản ứng của những giới chức ở trung ương, trong vụ đắm đò lần này, là hơi khác, và đây là một hiện tượng rất đáng khích lệ.

Ngay ngày hôm sau – ngày 8 tháng 10 năm 2006 – người dân ở bản Chôm Lôm đã nhận được công điện từ văn phòng của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông “gửi lời thăm hỏi ân cần và chia buồn sâu sắc đến gia đình các cháu… Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Nghệ An phải rút kinh nghiệm nghiêm túc và có biện pháp chấn chỉnh ngay, không để xảy ra tình trạng tương tự”.

Qua hôm sau nữa, Bộ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân cũng gửi thư chia buồn đến trường trung học Lạng Khê. Cùng lúc, bí thư tỉnh ủy Nghệ An, Nguyễn Thế Trung cũng đã đến “chia buồn với các gia đình nạn nhân, cũng như cảm ơn những người dân đã thể hiện tinh thần tuơng thân tuơng ái, tham gia tìm kiếm thi thể các em…Ông cũng ra lệnh phải “khắc phục ngay tình hình an toàn giao thông ở bến Chôm Lôm”.

Ở những vùng cao, vùng xa, vùng sâu như huyện Con Cuông mà nhận được những lời chia buồn thảm thiết – cùng với sự quan tâm thắm thiết – của các giới chức lãnh đạo cao cấp như thế quả là một sự kiện hiếm hoi, và (vô cùng) cảm động. Là một người dân miền núi, tôi cảm thấy (rất) ấm lòng và an ủi. Chỉ có điều đáng tiếc là những biện pháp để “khắc phục” hoặc để “chấn chỉnh tình hình an toàn giao thông ở bến Chôm Lôm” mà qúi ông Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Bí Thư Tỉnh Ủy đã nhắc đi nhắc lại – trong những công điện hay huấn thị vừa rồi – thì nghe sao có vẻ hơi (bị) tù mù!

Dường như không ai trong qúi ông biết rằng đây không phải là lần đầu, mà là lần thứ 4 (trong vòng mấy năm qua) đã xẩy ra tai nạn chìm đò ở bến Chôm Lôm. Lần nào cũng có người tử nạn, và lần nào người dân cũng như những cán bộ địa phương cũng đều nhận được những chỉ thị “khắc phục” (tương tự) nhưng dường như không ai biết phải xoay trở ra sao cả?

Tôi cũng e rằng không ai trong số qui vị biết rằng, “sau ba lần bị chìm đò tại bến sông này làm thiệt mạng năm học sinh, năm 2004, dự án Luxembourg đã tài trợ cho xã Lãng Khê một thuyền lớn 12 sức ngựa, có thể chở từ 25 – 30 người để đưa các em học sinh qua sông đi học. Nhưng xã Lăng Khê lại không đưa vào sử dụng vì ‘tốn dầu’, thu sẽ không đủ chi. Thay thế chiếc thuyền này, xã đã thuê đóng chiếc thuyền có trọng tải dưới 1 tấn và ký hợp đồng với ông Lô Quốc Phong (sinh 1951) người bản Chôm Lôm làm người lái. Chính chiếc đò này đã gây vụ tai nạn thương tâm ngày 7-10″.

Như thế, rõ ràng, những nạn nhân trong tai nạn vừa rồi đều chết là do số – số nghèo. Và họ nghèo đến mức nào thì đây (có lẽ) là điều ngoài sức tưởng tuợng của tất cả mọi người – chứ chả riêng chi qúi ông Thủ Tướng, Bộ Trưởng hay Tỉnh Uỷ… ở Việt Nam.

“Cả bản Chôm Lôm như chết lặng trong tiếng khóc thương. Nghĩa trang của bản đã phủ thêm 13 vòng hoa trắng. Nhiều em không thể có nổi tấm ảnh thờ, gia đình phải dùng sách vở, giấy khen để làm di ảnh”.

Ở một nơi mà những cụ già đến tuổi tám muơi vẫn phải làm việc mưu sinh, và những đưá bé suốt thời ấu thơ chưa bao giờ có đuợc cơ hội chụp một tấm hình, mà đòi hỏi ông lái đò phải có giấy phép hành nghề, và khách đi đò phải có phao an toàn là những biện pháp … “khắc phục” (nghe) rất … viển vông!

Và chuyện bắc một cái cầu, thay cho những chuyến đò ngang thì còn viển vông hơn nữa – theo như nhận định của ký giả Quang Long, người đã đến tận nơi để viết bài tường thuật: ”Bao giờ bản làng Chôm Lôm heo hút mới có một cây cầu nối hai bờ sông, để các em khỏi phải qua những chuyến đò rét mướt? Bao giờ, cho đến bao giờ?”

Chả cần đợi đến hôm nay người ta mới nhận thức được khoảng cách giàu nghèo (xa thẳm, và mỗi lúc một xa) ở Việt Nam, cùng với nguyên nhân của nó. Ai cũng biết một trong những lý do chính là tệ nạn tham nhũng. Và vấn để này đã được chính phủ đặt ra trước đó, trước đến … ba ngày, nếu tính từ hôm có chuyện th ương tâm xẩy ra – ở bến Chôm Lôm.

Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, vào ngày 4 tháng 10 năm 2006, đã có phiên họp (đầu tiên!) về việc phòng chống tham nhũng tại Hà Nội. Trong dịp này, Thủ Tuớng Nguyễn Tấn Dũng (Trưởng Ban Chỉ Đạo) tuyên bố: ”Chúng ta phải kiên quyết, kiên trì, đồng bộ từng bước ngăn chận và đầy lùi tham nhũng”.

Ông Dũng nói năng cứ y như là một người vừa mới từ trên Trời rớt xuống. Nghe sao mà dễ ợt vậy, cha nội? Nếu có chút xíu hiểu biết về thành tích và lịch sử của cái đảng (thổ tả) có tên là Đảng Lao Động VN thì có lẽ đương sự đã không lớn tiếng đến như thế. Trước đây đã lâu, vào ngày 13 tháng 9 năm 2001, ông Nguyễn Thụ (người mà tuổi Đảng nhiều hơn tuổi đời của ông Nguyễn Tấn Dũng) đã nói nhỏ nhẹ hơn, về vấn đề này, như sau:

“Từ hơn hai mươi năm nay, lấy mốc từ NQ /228 (mà cán bộ và nhân dân gọi đùa là ‘nghị quyết hai hai túm’), cho tới nay đã có hàng chục nghị quyết khác về chống tham nhũng: hết NQ14 sang NQ/15, rồi tới QÐ 240, lại ra NQ/45. Hết của Ðảng tới Chính phủ… Có khác gì chống tham nhũng bằng mồm, bằng văn bản? Nạn tham nhũng vẫn cứ như vòi bạch tuộc lộng hành khắp chốn khắp nơi”

Sống dưới sự lãnh đạo của “những cái vòi bạch tuộc lộng hành khắp chốn khắp nơi” như thế, cùng với đám ký sinh là “những doanh nghiệp nhà nước” thì khoảng cách giàu nghèo – ở Việt Nam – sẽ mỗi ngày một rộng hơn. Và chuyện bắc một cái cầu, qua những bến sông thay cho những chuyến đò ngang, mãi mãi sẽ là ước mơ vô vọng của những người dân ở bản Chôm Lôm, xã Lãnh Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Giá ngày trước Bác (giai) đừng đi linh tinh (tìm đường cứu nước, và chung chạ tùm lum) thì mọi chuyện – không chừng – đã khác, và đã khá. Cứ ở lại quê mình với bác gái, một vợ một chồng – sớm tối có nhau – không có sức vóc làm ruộng thì nuôi gà, nuôi vịt, đan lát quàng qué kiếm thêm (có lẽ) cũng không đến nỗi nào. Được thế thì bây giờ gia tộc cũng đỡ mang tiếng xấu và tỉnh nhà (chắc chắn) đã có một chiếc cầu ngang, qua bến Chôm Lôm. Còn những công dân lão hạng khắp mọi nơi (như ông Võ Nghĩnh) cũng sẽ đều được nằm chết ở nhà mình – thay vì ở nhà … tù, vì tội đưa đò – khi đã quá tuổi tám mươi.

Tưởng Năng Tiến
10/2006


Ghi chú: (*) Ngày 2 tháng 2 năm 2004, những gia đình có con thiệt mạng trong vụ những gia đình có con bị thiệt mạng trong vụ lật đò ở Nông Sơn, đã đồng loạt đệ đơn chống án lên TAND Tối cao, đề nghị cho bị cáo Võ Quang Trang không phải chịu trách nhiệm thanh toán hơn 140 triệu đồng bồi thường theo phán quyết của án sơ thẩm (18 gia đình bị hại trong vụ lật đò kháng cáo có lợi cho bị cáo).


02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Gió Đã Chuyển


“Trong những năm 30, Liên Bang Xô Viết không có một nhà bất đồng chính kiến nào, ít nhất thì cũng không có người nào được phương Tây biết đến… Nếu Gandhi của Ấn Độ đối diện với chế độ chính trị của Stalin hay Hitler thì chắc chắn cuộc đấu tranh của ông đã bị dập tắt trước khi nó bắt đầu”
( Natan Sharansky, The Case For Democracy – Trans. Trần Trung Việt)


Cho đến những năm đầu của thế kỷ 21- dù khi Liên Bang Xô Viết đã tan hàng, và chủ nghĩa cộng sản sập tiệm từ lâu – mọi chính kiến bất đồng vẫn không được chấp nhận, ở Việt Nam. Vụ “Kết Ước Năm Hai Ngàn” là thí dụ tiêu biểu cho một “cuộc đấu tranh bị dập tắt trước khi nó bắt đầu,” như thế. Bản Kết Ước này, toàn văn, như sau:

Thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba đến vào giữa lúc mà xu hướng toàn cầu hóa đã trở thành áp đảo. Trong kỷ nguyên mới này, cũng là kỷ nguyên của sáng kiến và sự hiểu biết, các quốc gia mà biên giới được coi như hàng rào ngăn chặn đà tiến chung và những giá trị phổ cập của loài người sẽ không còn lý do tồn tại và sẽ không thể tồn tại. Các quốc gia như thế sẽ không được sự hương ứng của người dân, sẽ không động viên được nội lực, sẽ thua kém, sẽ bị giải thể trong lòng người và sau cùng sẽ tan rã.

Chúng tôi là những người Việt Nam cùng chia sẻ một lo âu trước sự tụt hậu của đất nước, trước sự thờ ơ của quần chúng và trước sự thiếu tầm nhìn của nhiều người lãnh đạo đất nước. Chúng tôi tin là phải tìm ra một giải đáp chung cho những khó khăn của đất nước; sự kiện người dân mất lòng tin và ý thức cộng đồng, mỗi người tự tìm một giải pháp cá nhân là rất nguy hại cho đất nước và cho mọi người. Chúng tôi muốn giữ đất nước mà ông cha đã đổ mồ hôi và xương máu tạo dựng cho con cháu. Chúng tôi muốn để lại cho các thế hệ mai sau một đất nước đẹp hơn, đáng yêu và đáng tự hào hơn.

Chúng tôi quan niệm đất nước cần cho mọi người, vì đó là một tình cảm và một không gian tương trợ giữa những người cùng một ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa. Ðất nước ấy nhìn nhận và bảo đảm chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người.

Bạo lực và đàn áp phải được loại bỏ, thay vào đó, đối thoại, thoả hiệp và hợp tác phải được tôn vinh như những giá trị nền tảng của xã hội; mọi người Việt Nam phải quí mến nhau trong sự tôn trọng mọi khác biệt. Nhà nước phải xuất phát từ nhân dân qua một chọn lựa thực sự tự do; nhà nước ấy có sứ mạng làm công cụ của toàn dân để thực hiện một dự án tương lai chung, liên tục hình thành và đổi mới, nhưng lúc nào cũng được mọi người tự nguyện chấp nhận.

Chúng tôi tin tưởng rằng nếu được quan niệm lại một cách đúng đắn để phát huy được nội lực và trí tuệ toàn dân, đất nước ta có thể vươn lên rất mạnh mẽ; giành được một chỗ đứng vẻ vang trên thế giới và góp phần xứng đáng làm đẹp hơn một trái đất đã trở thành mái nhà chung của nhân loại anh em.

Ðầu thiên niên kỷ thứ hai, ông cha ta đã mở ra kỷ nguyên tự chủ. Chúng ta hãy bước qua mọi ngăn cách và hận thù để phấn đấu và động viên nhau phấn đấu mở ra cùng với thiên niên kỷ thứ ba kỷ nguyên của một nước Việt Nam tự do và dân chủ.
Dù chỉ chứa đựng những lời kêu gọi cho tự do/ dân chủ một cách hết sức thiết tha và hoà nhã như vậy, Kết Ước Năm 2000 đã khiến cho một số người (trong đó có ông Hà Sĩ Phu) bị đe doạ lãnh án tử hình, với tội danh phản quốc, chỉ vì nhà đương cuộc Việt Nam tin rằng ông Hà có liên hệ với những người … soạn thảo ra nó – theo như tường trình của HRW:“Vietnamese authorities apparently believe that Mr. Ha is connected to the drafters of an open appeal for greater democracy being prepared by some intellectual dissidents … and threatened to charge him with treason under Article 72 of Vietnam’s Criminal Code. If put on trial and convicted, Mr. Ha could face a sentence from seven years imprisonment to the death penalty”.

Nhờ cả thế giới xúm lại can thiệp nên Hà Sĩ Phu (và bằng hữu của ông) thoát nạn nhưng bản Kết Ước Năm 2000 thì không. Nó bị chết từ trong trứng nước. Đây là một cuộc đấu tranh “đã bị dập tắt trước khi nó bắt đầu,” nếu nói theo kiểu Natan Sharansky. Quần chúng chưa có dịp, hoặc có (e) cũng không ai dám, ký tên vào bản Kết Ước này – dù chỉ để bầy tỏ (một cách hết sức ôn hoà và… tội nghiệp) rằng: “Nhà nước phải xuất phát từ nhân dân qua một chọn lựa thực sự tự do” – thế thôi!

Chỉ có “thế thôi” mà chính Hà Sĩ Phu cũng không tán thành việc vận động chữ ký cho Kết Ước 2000. Theo ông thì chưa phải lúc: “… tôi nghĩ không nên làm lúc này vì ai cũng biết nguyên lý sơ đẳng xưa nay là trong khi mọi ‘kết cấu hạ tầng’ chưa có mà đã khoa trương diện mạo thì diện mạo ấy dễ bị sụp đổ, đập nát ngay mà không có gì để bảo vệ và nuôi dưỡng nó… Việc này chỉ làm khi có tình huống, tình huống ấy nay chưa có, nếu có làm được chăng nữa thì cũng chỉ là một việc đơn độc thôi, môi trường chưa có gì để tiếp nối nó cả” (Thư Gửi Đỗ Mạnh Tri & Nguyễn Gia Kiểng ngày 14/12/2001).

Và lý do khiến Hà Sĩ Phu bi quan cũng được ông trình bầy ngay trong bức thư, vừa dẫn:

“Ở nước ta thì chỉ cần bộc lộ thái độ dân chủ một cách rõ ràng là sẽ bị bao vây, khống chế tứ bề, nói xấu khắp nơi… cứ như thế cho đến hết đời. Chẳng những mất cả cuộc đời mình mà còn khổ sở cả gia đình con cái nữa. Chỉ làm một việc bình thường theo lương tâm mà phải trả cái giá quá đắt như thế thì đương nhiên số đông người ta không ai muốn cả.”

Bức thư này viết vào tháng 3 năm 2000. Bẩy tháng sau, trong một buổi toạ đàm tại Berlin, nhà văn Phạm Thị Hoài cũng bầy tỏ sự bi quan tương tự về “tình huống” ở Việt Nam – vào thời điểm đó – như sau:“… xã hội Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ của những cá nhân hoang mang và bất ổn”.

Cứ theo lẽ thường thì lịch sử tính bằng thế kỷ, đời người tính bằng năm. Tuy nhiên, có những lúc gấp ruổi, khi sắp sang trang, lịch sử cũng tính theo năm. Bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ được công bố vào ngày 8 tháng 4 năm 2006, với chữ ký của 118 công dân VN đang sinh sống ở trong nước, là một biến cố như thế.

Không như nội dung ôn hoà và nhũn nhặn của Kết Ước Năm Hai Ngàn, Tuyên Ngôn 8406 thẳng thừng kết tội đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân đưa đất nước và dân tộc này đến cảnh “điêu tàn và thê thảm”. Nó cũng ngang nhiên xác nhận mục tiêu của cuộc đấu tranh “là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được ‘đổi mới’ từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xẩy ra”.

Ý Trời, rõ ràng đây là những lời tuyên chiến với ĐCSVN – chớ còn (khỉ) gì nữa! Nhưng khác với sự dự đoán của Hà Sĩ Phu – ngay sau đó – đã có thêm hàng ngàn người ở trong nước đã ghi tên, sẵn sàng… tham chiến! Họ cũng không “bị bao vây, khống chế tứ bề, nói xấu khắp nơi…” – như sĩ phu họ Hà lo ngại. Đã thế, sự thể còn có khuynh hướng xẩy ra theo chiều hướng ngược.

Không phải những người lên tiếng ủng hộ tự do/dân chủ đang bị “nói xấu khắp nơi” mà chính ĐCSVN đang bị mắng mỏ, vì cách hành xử “còn thua quân đầu đường xó chợ” của họ – theo như cách nói (hơi hơi) chua ngoa của một thành viên 8406, nhà văn Trần Mạnh Hảo.

Một thành viên 8406 khác, mục sư Ngô Hoài Nở, đã lớn tiếng thoá mạ rằng“… đất nước VN… như một nhà tù bao la, còn tôi là một phạm nhân đang bị giam giữ trong tay một lực lượng cai ngục phi nhân là đảng CSVN… Tôi xin minh định lại rằng: Khối 8406 là tập họp của những người lên tiếng nói công bằng cho xã hội, lên tiếng đòi lại quyền mà ai làm người cũng phải có, trừ ra con vật thì nó không có quyền đó, nhưng làm người thì không thể thiếu nó”.

Một thành viên khác nữa, ông Nguyễn Ngọc Quang, trong thời gian qua đã bị công an thẩm vấn nhiều lần và buộc tội “chống phá chính quyền cách mạng. Khi phóng viên Trà Mi của RFA hỏi rằng “anh sẽ dự định làm gì, trước những lời đe doạ này,” ông thản nhiên tuyên bố: “Trước giờ do sợ hãi và hèn nhát tôi đã thiếu trách nhiệm với dân tộc mình. Tôi không thể câm lặng mãi và thiếu trách nhiệm với dân tộc mình nữa”.

Và cứ như là một chuyện đùa, những mẫu đối thoại giữa ông Nguyễn Ngọc Quang và nhân viên công an – không hiểu sao – đều được thu băng và gửi đến đài Á Châu Tự Do, sau mỗi lần phỏng vấn. Thính giả của đài này đã không nhịn được cười khi nghe nhân viên công an (hoang mang) “yêu cầu ông Quang phải xoá bỏ đoạn băng ghi âm trên web site RFA, nếu không sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật”.

Sau khi nghe xong hết những băng thu thanh này từ đài Á Châu Tự Do, nhà báo Phạm Nhân Quyền đã có nhận xét (ví von) rằng “công dân và công an đang khiêu vũ những điệu múa đôi ngoạn mục: Cứ một bên bước tới thì cùng phía chân đó, bên kia phải bước lùi”.

Cái thời mà tư thất của Hà Sĩ Phu (tự nhiên) biến thành lao thất, rồi Đảng sai du côn ném đá vào nhà, cùng lúc xua bọn bồi bút bôi bẩn thanh danh của ông trên đài cũng như trên báo đã qua – và đã… xa như dĩ vãng!

Bỉ nhất thời giả, thử nhất thời giả. Hồi đó là một thời. Bây giờ là một thời, hoàn toàn khác. Gió đã chuyển rồi.

Tưởng Năng Tiến
8/2006

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Du Lam và Chuyện Đàn Ông Nước Việt


Trước giờ do sợ hãi và hèn nhát tôi đã thiếu trách nhiệm với dân tộc mình. Tôi không thể câm lặng mãi và thiếu trách nhiệm với dân tộc mình nữa.”
(Nguyễn Ngọc Quang – RFA 15/08/2006)


Có lần, khi tôi tình cờ nghe được một câu than thở của vợ mình – với bà bạn – qua điện thoại, như sau:

– Đàn ông còn có thằng này, thằng kia chớ mấy thằng chồng thì thằng nào… cũng vậy!

– Ý Trời, bộ thiệt vậy sao em?

Tui tính hỏi lại như thế nhưng vì vội ra khỏi nhà nên thôi. Thôi, không hỏi nhưng vẫn thấy buồn buồn trong lòng. Vợ tôi hay nói trật nhưng riêng câu nhận xét vừa rồi thì (có lẽ) không. Sự thực, hình như, đúng là như vậy.

Khi còn là tình nhân thì mọi người đàn ông đều lịch sự, và dễ thương giống y như nhau. Đến khi làm chồng rồi thì mấy cha nội này đều hoá tệ, và mỗi thằng cà chớn theo một kiểu. Tựu trung, cung cách cư xử tệ bạc của họ (thường) na ná như nhau: đòi ăn, đòi uống, đòi đụ, rồi lăn (đùng) ra ngủ!

Nhiều thằng còn tệ hơn như thế nữa: say sưa, cờ bạc, và hay nặng lời (cũng như nặng tay) với cả vợ lẫn con. Và tệ nhất là cái thứ “lồn bà cớ gì mày không đéo mà lại đi fucking around (khắp mọi nơi) thế hả, đồ khốn nạn?”

Đàn ông, kiểu đó, quả là đáng phàn nàn. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, những đấng nam nhi – với vô số tính xấu như vừa kể – đều là những người may mắn. Họ được ở vào hoàn cảnh no cơm ấm áo, và không có gì để phải bận tâm – ngoài chuyện thoả mãn những nhu cầu căn bản của một con người: ăn, ngủ, đụ, ỉa …

Nói tình ngay, có lẽ tất cả đàn ông – trên hành tinh này – cũng đều chỉ mong muốn có một cuộc sống an bình và giản dị thế thôi. Và phần lớn, đều được sống như thế cả.

Chỉ riêng ở VN thì hoàn cảnh, xem chừng, hơi khác. Đàn ông (nói chung) và những ông chồng (nói riêng) ở xứ sở này, đôi khi, không có được một cuộc sống bình thường (hay tầm thường) theo kiểu đó. Ông Du Lam là một trong những người tiêu biểu (không may) như thế.

Du Lam sinh trưởng ở miền Nam. Năm 1975, ông vừa đến tuổi 17 thì phải bỏ học để tham gia nghĩa vụ lao động làm đường sắt. Chuyện này được kể lại như sau:

“Làm quần quật suốt ngày với mê, trạc, gánh khiêng… rồi đường cũng thông vào ngày 25/12/76, trên đoàn tầu ấy chẳng thấy thằng nào mặc rách ăn đói như chúng tôi cả, toàn những VIP nọ VIP kia… Tầu chạy tới đâu dù tốc độ rất chi thổ tả, thì công an mật vụ đủ thứ bủa vây, những đứa làm đường như chúng tôi đặc biệt bị đuổi ra xa nhất, vì rách ruới vì không có cờ hoa, vì không biết hoan hô đả đảo, âu cái thành quả mà kẻ xắn tay áo làm ra không bao giờ hưởng chuyện ấy cũng thường tình, tầu đã chạy là những quả chanh hết kiệt nước.” (*)

Sau kinh nghiệm đầu đời và ngắn ngủi này, Du Lam (bỗng) trở nên hoài cổ, hay nói rõ hơn là … “hoài ngụy”: “Nếu giải phóng miền Nam thống nhất kiểu này thì sống trong chiến tranh, hiện sinh kiểu Mỹ một chút còn hơn…”

Cách mạng không chỉ có tham vọng giải phóng miền Nam mà còn muốn giải phóng luôn đất nuớc láng giềng nữa nên, sau đó, Du Lam phải thi hành nghĩa vụ quân sự thêm nhiều năm nữa. Khác với nghĩa vụ lao động, ngoài mồ hôi và nuớc mắt, chiến tranh còn đòi hỏi rât nhiều xương máu cũng như mạng sống của mọi người:

“Bao nhiêu lính Việt Nam chết chưa lấy được xác, bao nhiêu nghĩa trang dọc biên giới ngày đi qua là những cánh đồng, mà ngày về của tôi là những rừng mộ… chúng tôi nhiều đứa chết, bạn bè chết càng căm thù vu vơ càng bắn giết… Chúng tôi giống họ, những thanh niên Bắc Việt trên dải Trường Sơn, chưa hết giặc thì ta cứ đi, đi đâu? Đi bắn giết người chứ còn đi đâu nữa.”

May mắn là Du Lam thoát chết và được trở về (nguyên vẹn) với giấy chứng nhận là “cảm tình Đảng,” cùng với rất nhiều lời an ủi động viên của chính trị viên đơn vị.

Cả hai đều không xoa dịu được sự phẫn uất của Du Lam, trước một đất nước khốn cùng về mọi mặt nhưng hàng ngày người dân vẫn phải nghe ra rả những lời lẽ tuyên truyền (ba hoa) rất xa sự thật:

“Làm một quân nhân, có biết chút chữ tôi thấy xấu hổ nếu không biết nói thật, người lính chết còn chưa sợ, chiến trường còn chưa sợ, tại sao sợ sự thật khi đã hoà bình?”

Những sự thực, cần phải được phơi bầy, theo như cách nhìn của Du Lam, xem ra, cũng dễ hiểu thôi:

– “… yêu nước có quyền không yêu CNXH, có quyền không yêu cộng sản, các ông trưng cầu dân ý, ai mà cho độc quyền lãnh đạo? Con cá, sống cũng là cá, chiên với dầu cũng là cá, kho ngọt, kho mặn cũng là cá, nấu canh cũng là cá, thì người VN yêu nước VN không cần thêm chữ gì vào hai chữ tổ quốc, dân tộc cho thêm rối rắm.”

– “ nếu đúng là anh minh, không sợ gì thì nên minh bạch TRƯNG CẦU DÂN Ý”.

Thái độ (thẳng thắn) và ngôn ngữ (bộc trực) của Du Lam, ngó bộ, không thích hợp mấy với cái chế độ chủ trương dối trá và toàn trị ở VN. Vì thế, ông ấy gặp hơi nhiều rắc rối. Điều này được đương sự cho biết, qua một cuộc phỏng vấn dành cho DCVOnline, vào ngày 10 tháng 8 năm 2006:

Việt Hồng (VH): Xin anh cho biết cuộc sống của anh có gì thay đổi không kể từ khi các báo hải ngoại đăng một số bài viết của anh?”

Du Lam (DL): … Có rất nhiều thay đổi, thưa chị, nói chung là những thay đổi theo chiều hướng xấu đi, mỗi ngày một xấu hơn vì lúc này ngoài khó khăn đời thường của cuộc sống tinh thần tôi còn chịu ức chế.”

VH: Anh nói rằng có nhiều thay đổi, vậy anh có thể cho biết cụ thể hơn về những thay đổi đó không?”

DL: Trước hết là tinh thần tôi luôn bị ức chế vì có thể bị công an Việt Nam mời bất kỳ lúc nào, hoặc bị theo dõi khi đi ra ngoài. Chính vì vậy tôi không thoải mái lắm trong cuộc sống. Tình hình Việt Nam như chị đã biết, các nhà Dân chủ gặp quá nhiều khó khăn, dù đang sống trong một hoặc ‘sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật’ những điều ghi thành khẩu hiệu tại các cơ quan hay thường nói trên phương tiện thông tin đại chúng.”

VH: Hoàn cảnh gia đình anh hiện nay như thế nào?”

DL: Thưa chị, tôi năm nay 49 tuổi, là lao động chính trong gia đình, vợ tôi ở nhà nội trợ, chúng tôi có 4 con nhỏ đang tuổi ăn học, và một bà mẹ già 92 tuổi. Tất cả trông vào xưởng gỗ của tôi. Nhưng khó khăn về vật chất chúng tôi có thể chịu được, người ta có thể ăn nữa bữa, ngủ nữa giấc, nhưng bị o ép, truy bức hành hạ về tư tưởng là không thể được. Đó là điều không riêng tôi mà đại bộ phận người lương thiện bức xúc nhất, còn những khó khăn về phương tiện, tiện nghi… chúng tôi có thể khắc phục được, những năm chiến tranh biên giới Tây Nam, là người lính, gian khổ và thiếu thốn nhiều hơn, chia nhau từng khói thuốc, hớp nước trong mùa khô xứ Cămbốt, chúng tôi vẫn vui vẻ chịu. Nhưng chúng tôi không nghĩ đã chiến đấu cho một xã hội VN như hiện tại… ”

Du Lam và người bạn đời (Nguồn: DCVOnline)

Nghe cái kiểu ông Du Lam nói chuyện với cô Việt Hồng mà tôi thấy ái ngại cho người bạn đời của ông ta hết sức. Bà ấy mỗi ngày phải chăm sóc mẹ chồng ở tuổi 92, phải lo hai bữa cơm cho bốn đứa con còn ở tuổi ăn học, và thu nhập thì không có. Xưởng gỗ của gia đình đã bị ngưng hoạt động từ lâu vì không chịu chi tiền để “bôi trơn” hay “làm luật” cho những quan chức địa phương. Đã thế, ông chồng còn phải luôn túc trực ở nhà để chờ công an đến … gọi.

Chỉ được cái là yêu cầu của công an khi “làm việc” với Du Lam, nói tình ngay, cũng “giản đơn” thôi – theo như chính lời của đương sự, qua cuộc phỏng vấn thượng dẫn:

“Công an nói với tôi, nhà nước đang sửa đổi nhiều, anh không nên viết như thế… Tôi nói rằng, muốn không có khói thì đừng đốt lửa, chứ không thể người cứ đốt lửa đồng thời buộc kẻ khác phải không được kêu khói.”

Du Lam, thiệt tình, nóng nẩy quá cỡ. Người ta đã nói là “nhà nước đang sửa đổi nhiều” nhưng thằng chả không chịu chờ, và cũng không chịu nhượng bộ – dù chỉ một ly:

“ … tôi không chỉ là súng lục mà khi cần chơi cả Đại bác vào quá khứ không logic với hiện tại của một đám ăn mày dĩ vãng, nhân danh dân tộc tôi làm bậy, tự phong rồi lọc lừa cơ hội với danh xưng là lãnh đạo trí tuệ…”

Coi: một vợ, bốn con, mẹ già ở tuổi chín mươi hai mà hung hăng cỡ đó thì cuộc đời sẽ lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và chắc chắn là còn lôi thôi lớn. Nếu vợ tôi mà vớ phải một ông chồng như thế thì cách nói của bà ấy về đàn ông, không chừng, sẽ đổi như sau:

– Đàn ông còn có thằng này, thằng kia chớ mấy thằng chồng đấu tranh cho dân chủ thì thằng nào … cũng (quậy tới bến) y như vậy!

Mấy cha nội Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Chính Kết, Phương Nam, Nguyễn Hồng Quang … – quả tình – đều làm phiền vợ con quá xá. Có điều, tôi tin rằng những người bạn đời của họ – tự thâm tâm – đều ít nhiều cảm thấy hãnh diện vì đấng phu quân của mình. Họ đúng là những người đàn ông, thứ thiệt! Lấy chồng cho đáng tấm chồng (như thế) chứ!

Mà có phải mấy chả cũng đâu phải thuộc loại “nhân tài thu diệp” hay “tuấn kiệt thần tinh” gì đâu. Theo cách nói của Du Lam thì họ “chỉ là những que diêm trong đêm nhưng thà là que diêm còn hơn là cúi đầu thinh lặng với bóng tối mịt mùng.”

Khi cái ác như một bóng đen khủng khiếp đang bao trùm hết cả quê hương, dân tộc Việt cần có thêm “những que diêm” như thế. Sự cần thiết này (tiếc thay) chưa được đáp ứng đúng mức ở Việt Nam, cũng như ở trong những cộng đồng người Việt nơi hải ngoại.

Tưởng Năng Tiến
8/2006

Ghi chú:
(*) Tất cả những chữ in nghiêng trong bài đều được trích từ bài “Trần Mạnh Hảo – Sĩ Ẩn và một người đứng giữa” trên Phù Sa ngày 2/5/ 2006


02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | 1 phản hồi

Con Ở Miền Nam Ra Thăm Lăng Bác

Trong quyển “Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến”, có đoạn ghi rằng: “Mùng 2 Tết Nguyên Đán năm Ất Mùi (1955), trong buổi chúc tết Bác Hồ tại Phủ Chủ Tịch, đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh thay mặt đồng bào Nam Bộ dâng tặng Bác cây vú sữa.”

“Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác Hồ. Nhưng ai là người trực tiếp gửi tặng Bác cây vú sữa, nguồn gốc cây vú sữa là ở đâu?”

Ý chà, hỏi khó dữ à nha! Hồi đó, miền Nam có cả đống người ái mộ Bác Hồ chớ đâu phải một hay hai. Làm sao mà biết chính xác “ai là người trực tiếp gửi tặng Bác cây vú sữa” cho được, mấy cha?

Vậy mà hai phóng viên Hồ Văn và Phương Nguyên, nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm những chuyến tầu tập kết, đã thực hiện được kỳ tích đó. Hai người lặn lội tuốt xuống xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để làm một thiên phóng sự về vụ này.

Bài viết của họ, có tựa là Ai Gửi Tặng Bác Hồ Cây Vú Sữa Miền Nam – tuy có vẻ hoang đường nhưng hấp dẫn – được đăng trên tuần báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 3 tháng 2 năm 2005: “Chúng tôi thuê tắc ráng xuôi kinh 10 tới thẳng nhà ông Nguyễn Văn Phận – một nhân chứng của những ngày tập kết lịch sử. Ngày trước ông là tổ trưởng tổ Đảng ấp 10, xã Trí Phải. Trong những ngày tháng tập kết đầy xúc động ấy, ông là người đón, đưa bộ đội về xã, về Vàm Chắc Băng chuẩn bị lên đường ra Bắc.”

Ông kể: “Khi lễ tiễn đưa sắp kết thúc, mẹ Tư hai tay ôm cây vú sữa nhỏ bước tới đưa cho anh Ba Kiên (khi đó là đại đội trưởng đại đội pháo của tiểu đoàn 307), nhắn gửi tặng Cụ Hồ. Ai nói gì thì nói, riêng tôi và nhiều người nữa ở xã này biết rõ cây vú sữa ấy là do mẹ Tư gửi tặng Bác Hồ. Nó được cô Bảy (con gái mẹ Tư, hiện còn sống ở kinh 9) bứng từ nhà ông Năm Đươn, cha nuôi của mẹ Tư hồi xưa”

Hồi đó, cô Bảy chỉ mới 14 tuổi. Cô kể: “Khi các chú với tía mang balô lên Vàm Chắc Băng tập kết, mẹ gọi tôi vào nói: Tụi nó đi mà không có gì gửi cho Cụ Hồ. Mày chạy xuống nhà ngoại bứng về cho má cây vú sữa gửi cho Cụ nhanh lên!”

“Chẳng ai trả lời được câu hỏi tại sao mẹ Tư lại tặng cây vú sữa mà không là cây khác.”

Cô Bảy kể lại: “khi đã ở cái tuổi “gần đất xa trời”, mẹ cô nói với con cháu rằng muốn được một lần ra thăm lăng Bác để coi lại cây vú sữa bà tặng Cụ Hồ bây giờ ra sao. Nhưng mong ước chưa thực hiện vì không có điều kiện thì mẹ đã ra đi mãi mãi. Bây giờ mộ mẹ nằm đó, bên cạnh mộ chồng. Còn cô Bảy, khi kể chuyện thỉnh thoảng lại hỏi chúng tôi: ‘Đã ra thăm lăng Bác lần nào chưa? Kể cho cô nghe với. Lăng có đẹp không? Vô đó có nhìn thấy Bác không? Cây vú sữa có sai quả không?’ Cô hỏi mà chúng tôi không kịp trả lời, mà cũng chẳng trả lời nổi. Họ là vậy đó, vẫn một lòng hướng về với Bác, với đồng bào miền Bắc như cái thời đất nước còn chia cách!”

Hồ Chí Minh và cây vú sữa


Ông Nguyễn Hữu Thành – phó Ban tuyên giáo tỉnh Cà Mau – cho biết do có quá nhiều ý kiến xung quanh sự kiện “Cây vú sữa miền Nam” nên Tỉnh ủy và UBND tỉnh Cà Mau đã tổ chức cho thẩm tra, và kết luận: “Cây vú sữa miền Nam gửi tặng Bác Hồ năm 1954 là do gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác Hồ’. UBND tỉnh cũng đã chấp thuận cho xây dựng bia kỷ niệm ‘Cây vú sữa miền Nam với Bác Hồ’ tại nhà bà Sảnh để kỷ niệm 50 năm những chuyến tàu tập kết”

Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt. Câu chuyện dù khó tin nhưng vẫn (cứ) vô cùng cảm động. Trên suốt đoạn đường, đi ròng rã cả năm, từ Cà Mau ra Hà Nội, chắc anh Ba Kiên ăn không ngon ngủ không yên vì phải lo chăm sóc cây vú sữa. Không chừng, dám có lúc, anh bỏ uống luôn để lấy nước nuôi cây. Chớ không lẽ cây vú sữa mà mẹ Tư đại diện nhân dân miền Nam dâng Bác mà lại tưới bằng nước đái.

Chỉ có cái quyết định của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Cà Mau, về chuyện “cho xây bia tưởng niệm cây vú sữa miền Nam với bác Hồ”, là có vẻ hơi nặng phần trình diễn. Tưởng gì chớ mộ bia, và bằng khen thì “những gia đình có công với cách mạng” – Bắc cũng như Nam – đâu có thiếu. Nhà nào mà sau vườn không ngổn ngang bia mộ liệt sĩ, và trên tường không treo (tá lả) cả đống bằng khen thưởng.

Thay vì xây bia, để tiền cho cô Bẩy ra ngoài Bắc chơi một chuyến có phải đã hơn không? Hồi 1954, cô Bẩy 14 tuổi. Bây giờ, cổ sắp bước vào tuổi thất tuần. Sợ rồi cô Bẩy (cũng như mẹ Tư) sẽ qua đời với ít nhiều ân hận là chưa được dịp đi tham quan lăng Bác, và coi lại cây vú sữa.

Đất nước đã thống nhất hơn ba chục năm, và đã hơn hai muơi năm kể từ khi Đảng cương quyết (và dũng cảm) có quyết định đổi mới để đưa đất nước đi lên, không lẽ Nhà Nước ta không chi nổi một cái vé tầu Thống Nhất để đền ơn đáp nghĩa sao?

Thôi bỏ đi Tiến à! Đừng có tưởng vậy. Tưởng vậy là tưởng năng thối. Người ta không tạo cơ hội cho cô Bẩy ra Hà Nội đâu phải vì thiếu tiền mà chỉ vì sợ rằng – sau khi tham quan lăng Bác – con mẹ không chịu đi về thôi.

Chớ ở lại ngoài đó làm gì?

Tham gia biểu tình, đòi lại đất đã bị cướp chớ làm gì!

Ý Trời, có vụ đó nữa sao?

Chớ sao không, ngay bây giờ đây nè – giữa vườn hoa Chí Linh – có người đang đi vòng vòng, tay cầm một tấm bảng nhỏ, ghi dòng chữ như sau: “KHA VĂN CHẦU, CÁN BỘ LÃO THÀNH, MỘT THƯƠNG BỆNH BINH, GIA ĐÌNH LIỆT SĨ CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG, KIỆN NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN BA LẦN CƯỚP ĐẤT.”

Ủa, cha nội này là ai vậy cà?

Ông Kha Văn Chầu trước tượng đài Lenin, Hà Nội


Ổng là người cùng quê, và cũng cùng thế hệ (chống Mỹ cứu nước) với cô Bẩy đó, chớ ai. Hồi đó, ông Kha Văn Chầu gia nhập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, được kết nạp vô Đảng vào đúng ngày sinh nhật của Bác (19 tháng 5 năm 63) tại chiến trường Cà Mau, thuộc quân khu IX. Còn ổng bỏ Đảng hồi nào thì chỉ có Trời mới biết.

Mà không phải mình ên ông Kha Văn Chầu kỳ cục (dữ) như vậy đâu nha. Không tin, ghé qua vườn hoa Mai Xuân Thưởng mà coi. Từ nhiều năm nay, biết bao nhiêu người dân miền Nam kéo ra Hà Nội khiếu kiện theo kiểu đó. Trong số này thiếu gì những bà “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” (như mẹ Tư) và những người thuộc diện “gia đình có công với cách mạng” (như cô Bẩy).

Riêng bây giờ thì ngoài ông Kha Văn Chầu, còn có thêm rất nhiều người khác nữa đã cùng ký tên vào thư Thư ủng hộ Tuyên ngôn Dân Chủ ngày 8/4/2006 và Lời kêu gọi Đại Đoàn kết Dân tộc xây dựng lại đất nước ngày 15/4/2006 – theo như bản tin của ĐCV Online, đọc được vào ngày 26 tháng 7 năm 2006, với nội dung như sau:

“Chúng tôi gồm có 483 công dân của 3 tỉnh: tỉnh Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ. Trong số những người này gồm có nhiều thành phần trong xã hội, có người là quân đội thuộc Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền nam Việt Nam trước năm 1975, là dân kháng chiến qua 2 thời kỳ cũng như những gia đình nuôi chứa cán bộ cơ sở quân đội Việt Cộng miền Nam trước 30-4-1975 cùng nhiều gia đình truyền thống cách mạng CS VN có công, là thân nhân các liệt sỹ và cùng nhiều bà con nông dân quê mùa ngu dốt, chân lấm tay bùn quanh năm chỉ biết đến ruộng lúa bờ khoai, đầu tắt mặt tối lấy đồng ruộng làm nguồn vui làm lẽ sống”.

“Sau ngày gọi là “giải phóng miền Nam” chúng tôi rời đơn vị cùng trở về quê hương, người thì bị thương tật, người thì lớn tuổi sức khoẻ kém đã nghỉ việc về sống với gia đình, đoàn tụ gia đình thân nhân họ hàng quyến thuộc tại miền Nam VN. Trước năm 1975, cuộc sống của gia đình người thân chúng tôi tuy sống dưới chế độ cũ Việt Nam Cộng hoà nhưng cuộc sống rất êm đềm và sung túc, cảnh làng quê và 2 bờ kênh rạch trù phú. Các gia đình chúng tôi đất đai ruộng vườn tược rất nhiều, có từ hàng chục đến hàng trăm công ruộng”.

“Nhưng đến năm 1976, các địa phương chúng tôi ở miền Tây Nam bộ đã bị các cán bộ của ĐCS, Nhà nước VN là những kẻ ỷ chức, ỷ quyền mượn danh nghĩa quân đội quốc phòng + cảnh sát, chính quyền thuộc bộ, ngành các cấp từ ấp, xã, huyện, tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh đến Trung ương. Những kẻ này đã tổ chức cướp đất đai, nhà cửa, vườn ruộng, san ủi cả mồ mả tổ tiên, ông, bà, cha, mẹ chúng tôi để bán cho các công ty kinh doanh, cưỡng chế người dân chúng tôi lấy đất ruộng, lập nông trường, kẻ thì lấy đất để thuê người làm nhằm trục lợi, kẻ thì cướp được đất bán cho người khác lấy tiền đút túi, chúng chia chác đất đai tứ tung coi như của riêng của chúng, mà không trả tiền đền bù thoả thuận gì hết cho người nông dân chúng tôi”.

“Chúng mượn danh Luật Đất đai của Nhà nước CSVN được ghi trong điều 1 là: “Đất đai là công thổ của toàn dân” và Điều 4 của Hiến pháp CS VN qui định: “Đảng CSVN là đại biểu quyền lợi cho dân tộc VN, lãnh đạo trực tiếp, toàn diện tuyệt đối nhân dân VN…” để hợp pháp hoá việc cướp đoạt đất đai của nhân dân Việt Nam mà chúng tôi cũng là một nạn nhân trong những vụ cướp này. Cán bộ Nhà nước Cộng Sản Việt Nam ra lệnh là ai trong số chúng tôi mà không giao đất, nhà cửa cho chúng, là bị chúng chụp mũ liệt người đó thuộc vào đối tượng chống lại chính quyền cộng sản cách mạng, sẽ bị công an, cơ động cảnh sát điều tra, bắt bớ đánh bằng roi điện, súng điện, có cả toà án, viện kiểm sát do bọn chúng lập ra dựa vào Hiến pháp, Luật pháp của Nhà nước CS VN kết án bỏ tù oan sai”.

“Dân lành chúng tôi đã phải chịu đựng hơn 30 năm nay: nào là mất đất đai, mất tài sản, trắng tay hơn 30 năm qua mà không biết kêu ai. Đơn Yêu cầu khiếu tố của chúng tôi gửi từ địa phương cho đến Trung ương ở Hà nội, chẳng được một ai, hoặc được một cơ quan nào giải quyết mà hậu quả là người đưa đơn bị cảnh sát bắt bớ, tù đày, tra tấn và đánh đập dã man để chúng tôi không còn một ai dám ló đầu đi thưa kiện những kẻ cướp đất của mình…”.

Trong quyển Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến, có đoạn ghi rằng: “mùng 2 Tết Nguyên Đán năm Ất Mùi (1955), trong buổi chúc tết bác Hồ tại Phủ Chủ Tịch. đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh thay mặt đồng bào Nam Bộ dâng tặng Bác cây vú sữa.”

“Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác Hồ “.

Tình cảm của những đồng bào ở những “vùng tận cùng của tổ quốc” (rõ ràng) đã đổi. Cây vú sữa ở Phủ Chủ Tịch – ngoài Hà Nội – không biết có còn sống hay không chớ tấm lòng của dân miền Nam đối với Bác, Đảng và Nhà Nước thì đã chết – và chết từ lâu rồi. Cuốn Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến chắc phải viết lại, và sắp sang trang.

Tưởng Năng Tiến

02/02/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | 7 phản hồi