sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Đỗ Thành Công, Đỗ Hoàng Điềm và Đỗ Nam Hải


“Nhân dân Việt Nam xứng đáng ở tầm nào,
Mỹ sẽ ‘chơi’ ở tầm đó.”

(Hà Sĩ Phu)

Tác giả câu nói thượng dẫn (vốn) là một sĩ phu, ở đất ngàn năm văn vật. Hà Nội – trong mắt ông – là nơi: “không có nhân cách người ta vẫn sống, thậm chí còn sống béo tốt hơn.”

Béo tốt – giữa lúc nhân tâm ly tán, trăm họ lầm than, và xã hội đã hình thành một giai cấp mới đang tập tành diet – ngó (cũng) khó coi. Đã thế, ở phố thị công an và xe hơi mỗi lúc một thêm đông. Lạng quạng dám bị (cho) xe đụng – mất mạng như không – nên đương sự lật đật bỏ của chạy lấy người, lần lên cao nguyên, tìm đường ở ẩn.

“Người miền núi,” theo như lời của nhạc sĩ Y Vân, “thích ôm khung trời.” Họ ghét sự câu thúc nên cách ăn ở, cũng như ăn nói, đều thường quá độ:

Đ… mẹ cây hồng
Sao không lao động
Mà mày trổ bông?

Hoặc:

Tôi định có một ngày nào thật thảnh thơi
Leo lên trời
Ỉa

Ở đâu quen đó. Gần mực thì đen. Gần đèn thì hút. Sĩ phu họ Hà sống gần những người bạt mạng, kiểu như cha nội đã viết những câu thơ (lựu đạn) vừa ghi, nên ngôn ngữ của ông nghe cũng hơi (hơi) có âm hưởng sơn cước hay… Sơn Núi:

“Nhân dân Việt Nam xứng đáng ở tầm nào,
Mỹ sẽ ‘chơi’ ở tầm đó.”

Câu văn thượng dẫn, nếu được đặt trong văn cảnh (context) của nó, chắc cũng không đến nỗi nào. Thử đọc (nguyên con) mà xem:

“Đối với Việt Nam, Mỹ sẽ là sứ giả của dân chủ, nhân quyền hay chỉ là anh lái buôn, điều đó do nội tình của Việt Nam quyết định. Nhân dân Việt Nam xứng đáng ở tầm nào, Mỹ sẽ ‘chơi’ ở tầm đó. Nếu Việt Nam tự khẳng định mình là một dân tộc có nhân phẩm, đang đấu tranh đòi người cầm quyền nước mình phải hoà nhập vào thế giới văn minh bằng con đường quang minh chính đại, thì Mỹ sẽ đóng trọn vai trò người anh hùng, nghĩa hiệp. Nếu nhân dân Việt Nam tự bộc lộ mình là đàn vịt trong trại thì Mỹ chỉ làm ăn với ông chủ trại thôi…”

(Chia Tay Ý Thức Hệ. Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản năm 96, trang 191).

Mười năm sau, dự đoán này đã có cơ hội được kiểm nghiệm, khi tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đến thăm Việt Nam – vào tháng 11 năm 2006. Chuyến đi này đã khiến cho nhiều người thất vọng. Thiên hạ nhớ lại nội dung bài diễn văn của ông, đọc trong buổi lễ nhậm chức lần thứ hai, cách đó chưa lâu, với một tiếng thở dài – cố nén:

“Tất cả những ai đang sống trong chế độ độc tài và tuyệt vọng hãy hiểu rằng: Hoa Kỳ sẽ không bỏ quên sự ngược đãi mà quý vị đang phải chịu, hoặc tha thứ cho kẻ áp bức quý vị. Một khi quý vị đứng dậy vì nền Tự Do, chúng tôi sẽ đứng bên cạnh quý vị.”

Những kẻ “đang sống trong chế độ độc tài và tuyệt vọng,” như hàng trăm triệu người dân Việt hiện nay – ít nhiều – đều kỳ vọng là Hoa Kỳ (mà đại diện là ông Bush) “sẽ không bỏ quên sự ngược đãi” mà họ đang phải chịu đựng – như đã hứa. Đương sự đã không hề thực hiện lời hứa đó, trong chuyến đi vừa rồi.

Điều này khiến nhiều người ngộ nhận và … tức giận. Ông Trần Giao Thủy, một bỉnh bút quen thuộc của ĐCV Online, đã bầy tỏ sự phẫn nộ như sau:

“Ngay đến tấm bảng vàng ghi ‘Tiết hạnh khả phong’ treo ở lầu xanh hay ‘Nước vỏ lựu máu mào gà’ của gái đĩ thập thành còn đáng tin hơn lời Bush hứa…” .

Những người “chủ trại vịt” ở Việt Nam cũng hiểu lầm ông Bush, theo cách khác. Họ tin rằng ông ấy đã hành xử như một anh lái buôn, và thái độ dửng dưng của đương sự (trước vấn đề nhân quyền) được diễn giải rằng chính phủ Mỹ đã coi dân Việt “là một đàn vịt trong trại” và “chỉ làm ăn với ông chủ trại thôi” – theo như cách nói ví von của Hà Sĩ Phu, trong bài tiểu luận dẫn thượng.

Với niềm tin (và niềm vui) đó, “Việt Nam Đã Khai Chiến Với Những Người Bất Đồng Chính Kiến” (1) – theo như bài tường thuật của ký giả Kay Johnson, từ Hà Nội: “Vietnam’s War on Dissent Goes Public” (Times, số ngày ra 28 tháng 5 năm 2007).

Đây quả là một sự hiểu lầm tai hại. Trận chiến này tuy “hoàn toàn” thắng lợi nhưng vô cùng bất lợi, cho nhà đương cuộc Việt Nam, sau khi chiến tích bịt mồm bịt miệng người dân của họ (qua phiên toà xử linh mục Nguyễn Văn Lý) được trưng bầy cho toàn thể nhân loại… chiêm ngưỡng. Những người đang nắm quyền hành ở xứ sở này đã không ai biết rằng, trong chuyến du hành vừa qua, ông Bush đã khóc thầm – và khóc bằng tiếng… Mỹ (nên họ không hiểu gì hết trơn hết trọi)!

Về tới nhà, sau khi lau khô nước mắt, tổng thống Hoa Kỳ đã triệu tập nội các của mình và cho mời một số đại diện (tiêu biểu) của bốn tổ chức đấu tranh và/hay vận động cho dân chủ tự do đến họp tại toà Bạch Ốc – vào ngày 29 tháng 5 năm 2007 – để thảo luận về phương cách đối phó với Việt Nam, trong lãnh vực nhân quyền.

Từ trái: Đỗ Thành Công, Lê Minh Nguyên, Dick Cheney, George W. Bush, Đỗ Hoàng Điềm, và Nguyễn Quốc Quân
tại phòng Bầu dục Toà Bạch Ốc (29/05/2007)
(Nguồn: danchu2006.com/Ảnh: AP Photo/Evan Vucci)

Bốn người Việt đã có thể đáp lời mời là qúi ông Đỗ Thành Công – thành viên sáng lập của Đảng Dân chủ Nhân dân, ông Đỗ Hoàng Điềm – Chủ tịch Đảng Việt Tân, ông Lê Minh Nguyên – Chủ tịch Mạng lưới Nhân Quyền Việt Nam, và ông Nguyễn Quốc Quân – Tổ chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản.

Riêng ông Đỗ Nam Hải và Nguyễn Chính Kết, hai nhân vật lãnh đạo của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, đã không thể có mặt vì một số lý do ngoài ý muốn. Theo tường trình của phóng viên Tâm Việt, gửi đi (cùng ngày) từ Washington D.C:

“đây là một cuộc gặp gỡ mà ông Bush nhắm được trao đổi thực sự với một số tổ chức hay lực lượng chính trị hiện đang hoạt động ở trong nước chứ không phải chỉ là với cộng đồng các nơi hay những tiếng nói cá lẻ trong phong trào dân-chủ đang phát triển mạnh ở VN.”

Kẻ viết những dòng chữ này vô cùng ngưỡng mộ tất cả những tổ chức hay lực luợng chính trị, và những vị đại diện có tên vừa kể, từ lâu. Tuy nhiên, vì giới hạn của một bài viết ngắn, đôi dòng kết luận còn lại xin được chỉ gửi riêng đến ba người họ Đỗ.

Cả ba nhân vật này đều còn ở tuổi bốn mươi. Lứa tuổi lý tưởng để theo đuổi cuộc đấu tranh (còn dài) trước mặt. Trong Thư Ngỏ Gửi Tổng Thống George W. Bush, ông Đỗ Thành Công đã viết như sau:

“…nhiều tổ chức và đảng phái chính trị đã công khai ra đời tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do. Liên Minh Dân Chủ và Nhân Quyền được thành lập nhằm hội tụ tất cả các đoàn thể và cá nhân trong cuộc đấu tranh này. Các đảng phái như đảng Thăng Tiến Việt Nam, đảng Dân Chủ 21, đảng Dân Chủ Nhân Dân, và Hiệp Hội Công Nông Việt Nam đều được hình thành tại Việt Nam. Mỗi nhóm có đường lối riêng nhưng đều có cùng một mục đích: đó là thách thức đảng cộng sản Việt Nam chấp nhận các đảng phái đối lập, và cùng nhau bắt tay xây dựng một nước Việt Nam tốt đẹp hơn.”

Dù có thêm bao nhiêu nhóm, và bao nhiên “đường lối riêng” chăng nữa, tiến trình “thách thức đảng cộng sản Việt Nam chấp nhận các đảng phái đối lập, và cùng nhau bắt tay xây dựng một nước Việt Nam tốt đẹp hơn” (nghĩ cho cùng) vẫn chỉ qui tụ vào hai con đường chính: vương đạo hay bá đạo – nếu xét vấn đề theo tinh thần văn hoá Việt Nam.

Bằng vào vương đạo, chắc chắn tổ chức của ba vị sẽ nắm được tay nhau và (chung cuộc) sẽ kết hợp được với tất cả những lực luợng, cũng như mọi cá nhân khác, đang cùng hướng lòng về một lý tuởng chung – giành lại tự do và dân chủ cho đất nước, từ tay những người cộng sản VN.

Kinh nghiệm (không hay) của những thập niên qua cho thấy rằng tinh thần đố kỵ, phân hoá, cùng những tiểu xảo hay thủ đoạn chính trị – theo kiểu bá đạo, như đã từng được một trong những tổ chức của qúi vị sử dụng trong quá khứ – sẽ không bao giờ tạo được cho chúng ta sức mạnh mong muốn và cần thiết, để đối đầu với cường quyền.

Dân tộc Việt sẽ được ngoại nhân đánh giá và đối xử ra sao (phần nào) tùy thuộc vào tư cách của ba vị, chứ không phải là “ba người khác” (ba cái đồ ba láp, cái thứ lăng nhăng, khốn nạn…) đang tác yêu tác quái ở Việt Nam.

“Người dân Việt đừng quá lo nước mình không có Đảng đối lập mà hãy biết sợ rằng đến một lúc Đảng đối lập sẽ ra đời, nhưng chẳng có cái nào của mình” hết trơn hết trọi.

Cũng ông Hà Sĩ Phu, một công dân lão hạng ở VN, đã bầy tỏ sự lo ngại như trên – trong bài tiểu luận thượng dẫn. Là những người lãnh đạo của những đảng phái, và những lực lượng đối lập hiện nay, qúi vị đang có cơ hội để chứng minh cho cả nước – cũng như cho sĩ phu họ Hà – thấy rằng ông (già) đã lo quá xa, và lo… trật lất!

Lời cuối: kẻ viết những dòng chữ này, nói nào ngay, cũng là một người dân miền núi. Sự thiếu tinh tế của một kẻ quen sử dụng thứ ngôn ngữ bỗ bã, nơi miền sơn cước – nếu có, và chắc có – trong những trang sổ tay hôm nay, kính mong được sự bao dung và lượng thứ của cả ba vị, cũng như của tất cả những độc giả đã (lỡ) ghé mắt xem.

K’ Tien



09/02/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: