sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Đi Ra Đi Vào và Đi Luôn (bis)


Trên Cao Nguyên, đồng bào Thượng đã bất khuất, can đảm đứng dậy mặt đối mặt đấu tranh chống nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, đòi cho bằng được TỰ DO, DÂN CHỦ, và NHÂN QUYỀN. Xin đồng bào ở Đồng Bằng trong nước và ở Hải Ngoại hãy nhiệt tình ủng hộ, và mạnh mẽ tiếp tay cùng đồng bào Thượng trong cuộc đấu tranh chung này. Kinh Thượng đoàn kết, keo sơn gắn bó, chúng ta nhất định phải toàn thắng.
Y Tin Hwing (Little Saigon ngày 18, tháng 4, 2004)

Trăm năm trong cõi người ta
Ở đâu cũng được đi ra đi vào
Xa xôi như xứ Bồ Đào
Người ta cũng được đi vào đi ra
Đen đủi như An-Go-La
Người ta cũng được đi ra đi vào
Chậm tiến như ở nước Lào
Người ta cũng được đi vào đi ra
Chỉ riêng có ở nước ta
Người ta không được đi ra đi vào.


Những câu “ca dao tân thời” vừa dẫn, tôi được nghe từ Lê Đình Điểu – khi ông ấy mới từ Việt Nam sang, và chúng tôi đang trên đường đi Sacramento (thủ phủ của tiểu bang California) để đưa ông Bình Nguyên Lộc đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Thuở ấy, chúng tôi đều còn trẻ nên đi đưa ma mà chả đứa nào buồn. Cả lũ đều cười sằng sặc khi nghe hai câu cuối:
Chỉ riêng có ở nước ta
Người ta không được đi ra đi vào!

Và từ cái “thuở ấy” đến nay, thấm thoát, đã suýt xoát hai mươi năm chẵn. Biết bao nhiêu là nước mắt, nước máy, nước mưa, nước sông, nước suối, nước rãnh… đã (ào ào) chẩy qua cầu và qua cống. Lê Đình Điểu không còn nữa. Những câu ca dao tân thời (thượng dẫn) cũng không “trụ” được với thời gian, và đã trở nên… lỗi thời – ít ra là phân nửa.

Ở nước ta, bây giờ, tuy đi ra vẫn còn bị ngăn cấm và kết tội là “vượt biên trái phép” nhưng đi vào thì (vô cùng) thong thả và được nồng nhiệt đón chào – theo như tường thuật của báo Nhân Dân, số ra ngày 5 tháng hai năm 2002. Ngày hôm đó có hai “buổi gặp mặt thân mật giữa các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước với kiều bào Việt Nam về thăm quê hương nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ” ở cả Hà Nội lẫn Sài Gòn.

Tại Hà Nội, “những người có mặt rất phấn khởi và xúc động lắng nghe Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đọc bài phát biểu gửi toàn thể bà con Việt Kiều.” Còn ở Sài Gòn, vẫn theo (nguyên văn) số báo vừa dẫn, phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm và bí thư thành ủy Nguyễn Minh Triết đã thay mặt đảng và nhà nước “bầy tỏ sự tin tưởng và mong muốn cộng đồng kiều bào Việt Nam ở nước ngoài – một bộ phận không thể tách rời của dân tộc – tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa, thiết thực hơn nữa vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.”

Tôi có liếc qua tên tuổi của những vị lãnh đạo Đảng đến đón tiếp và chung vui với “bà con Việt Kiều” hôm 5 tháng 2 năm 2002, và đếm được đâu chừng vài chục mạng (toàn là cỡ Ủy Viên Trung Ương, cấp bộ trưởng trở lên). Đông thì chắc chắn là phải vui rồi.
Tôi chỉ hơi buồn chút đỉnh khi chợt nhớ tới bữa “đón tiếp” những người trở về, qua cửa khẩu Lệ Thanh, ở tỉnh Gia Lai. Không khí bữa đó, ngó bộ, không vui gì cho lắm. Báo Nhân Dân, số ra ngày 16 tháng 3 năm 2002, có đề cập đến chuyện này bằng một mẩu tin ngắn ngủn – như sau:

Ngày 15 tháng 3, tại cửa khẩu Lệ Thanh, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, các cơ quan chức năng của tỉnh tiếp nhận 35 người vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia trở về quê hương. Những người trở về vui mừng xúc động khi được trở về tổ quốc. Nhiều người khóc vì ân hận đã bị kẻ xấu lừa bịp. Họ bầy tỏ sự biết ơn với Đảng, Chính phủ.”

“Những người trở về vui mừng xúc động” tới cỡ đó mà sao không thấy có vị lãnh đạo Đảng nào tới dự hết trơn hết trọi, cỡ huyện ủy hay xã ủy cũng không luôn. Cùng là dân “vượt biên trái phép” như nhau, và ai cũng ra đi vì “nghe lời bọn xấu” (chỉ trừ mấy cái cột đèn không có tai nên mới ở lại) nhưng sao cái cách mà Đảng và Nhà Nước đón tiếp những người trở về tại Sài Gòn hay Hà Nội – rõ ràng – rộn ràng và đình đám hơn những kẻ nơi bản làng xa. Sao kỳ vậy há? Mà Cao Miên cũng là nước ngoài, chớ bộ?
Tôi không tin là có sự kỳ thị Kinh-Thượng trong vụ này. Tôi cũng không dám nghĩ là có sự đối xử phân biệt giữa “Việt Kiều” và “Thượng Kiều” ở nước ta đâu. Nghĩ như vậy (lỡ trật) mang tội chết mẹ, và đi cải tạo như không!

Do đó, tôi phỏng đoán, sự dị biệt (chả qua) là vì vấn đề phong tục. Thượng Kiều về không đúng lúc, không phải dịp Tết, vậy thôi. Tết mới vui chớ. Ngày thường, ai cũng bận thấy mồ tổø, đâu có “hưởn” mà lên tới tuốt Gia Lai để đón tiếp người về cho được.
Nếu không vì phong tục thì (có lẽ, tôi trộm nghĩ) cũng chỉ vì phong thổ mà thôi. Tại Thượng Kiều về không đúng chỗ mà. (Wrong time and wrong place, too). Thay vì đi bằng xe tải đến tỉnh Gia Lai, nếu họ dùng phản lực cơ, đáp cái ào xuống phi trường Tân Sơn Nhất (rồi lơn tơn đi vô cổng, với chút đỉnh tiền đô kẹp hờ trong passport) thì chuyện đón tiếp – không chừng- đã khác!

Và khác có chút xíu vậy thôi mà đã khiến cho cả đám mích lòng. Họ giận. Yàng ơi, ai mà dè đồng bào Thượng lại nhậy cảm quá Trời, quá đất như vậy chớ. Chín trăm lẻ năm (905) Thượng Kiều tạm trú ở Cao Miên (hồi đó) đã quyết định đi luôn, qua Mỹ. “Most of refugees have already said they want to live in the United States” – theo như tường thuật của ký giả Ker Munthit, thuộc hãng tin AP, gửi đi từ Ang Snuol (Cambodia), hôm 31 tháng 3 năm 2002.

Trong bản tin này, Ker Munthit cũng có ghi lại lời tuyên bố của Hun Sen rằng “Cao Miên sẽ không tiếp nhận người tị nạn nữa. Từ đây về sau, “ai đến sẽ bị trả về”, ráng chịu. (“Whoever will come in the future will be sent back”)!

Ông Thủ Tướng nói vậy nhưng ông Quốc Vương thì nói khác, nghe tử tế hơn nhiều. Ngay sau khi xẩy ra biến động ở Tây Nguyên, vào đúng hôm lễ Phục Sinh năm 2004, ông Hoàng Sihanouk đã khẳng khái lên tiếng: “Hôm nay, tôi khẩn cầu Chính Phủ Hoàng Gia và Liên Hiệp Quốc bảo vệ những người dân Cao Nguyên này và sẽ không không bao giờ trục xuất họ hoặc để cho những kẻ bất hạnh đang tị nạn tại quê hương của chúng ta bị trục xuất khỏi Cao Miên” (Aujourd’hui, je supplie le G.R.C et l’O.N.U. de proteger ces Montagnards et de ne jamais lex expulser ou laisser expulser du Cambodge ces malheureux se refugiant chez nous”(www.norodomsihanouk.info ).

Tấm lòng của Quốc Vương Cao Miên rất rộng nhưng quyền hạn của ngài thì (dường như) không. “Đời vẫn vốn không nương người thất thế”! Thân phận của những kẻ cùng đường, vừa tìm đến được xứ Chùa Tháp, vô cùng bi đát – theo như tường thuật của đặc phái viên Lý Định Phát, thuộc đài RFA, vào ngày 19 tháng 4 năm 2004:

Hệ quả từ cuộc đối đầu giữa 10.000 người Thượng với lực lượng an ninh, bộ đội Việt Nam trên vùng Tây nguyên vào ngày 10 tháng 4. Nay đã được thấy trên vùng biên giới Việt – Kampuchea.

Theo số báo tường thuật của Cambodia Daily sáng thứ hai 19 tháng 4 tại Phnompenh cho biết, Nhiều nhân viên của những tổ chức Nhân quyền hiện có mặt tại Tỉnh Mondolkiri nói vào hôm chủ nhật rằng: cảnh sát Tỉnh Mondolkiri đã hợp tác với cảnh sát và bộ đội biên phòng Việt Nam, bắt giữ và trục xuất 160 người Thượng, tại vùng ranh giới hai nước trong tuần qua. Và hiện nay họ đang tiếp tục truy lùng những người Thượng đang lẫn trốn. …

Vẫn theo trích thuật của Cambodia Daily từ báo cáo của những tổ chức Nhân quyền: hiện nay cảnh sát và bộ đội Việt Nam tự do đi lại trên lãnh thổ Kampuchea, tại vùng giáp ranh với Việt Nam, nhằm săn tìm những người Thượng đang trốn chạy qua đất chùa tháp tìm tự do.”

Cách đây chưa lâu, vào lúc 5 giờ 43 phút, chiều ngày 24 tháng 5 năm 2001, từ Phnom Penh, đặc phái viên của AFP cũng gửi đi một bản tin với nội dung (gần) tương tự:”Có thêm hàng tá người Việt thuộc sắc tộc thiểu số trốn tránh sự đàn áp của chính phủ ở cao nguyên trung phần đã được tìm thấy đang trốn tránh tại một vùng đất hẻo lánh phía đông bắc nước Cam Bốt, làm nẩy sinh sự quan ngại của quốc tế về số phận của họ (Dozens of Vietnamese ethnic minority people fleeing a government crackdown in the central highlands have been found hiding in remote northeastern Cambodia, sparking growing international concern over their fate.) Bản tin này cũng đề cập đến con số 89 người đã bị xua đuổi hay lùng kiếm ở Cam Bốt và một bức thư ngỏ của Cao Ủy Tị Nạn Quốc Tế gửi thủ tướng Hun Sen, thúc dục Nam Vang ngăn chận việc bắt người của Hà Nội. Bức thư cũng tố giác rằng “Việt Nam đã làm cho vấn đề trở nên tệ hại hơn khi gửi công an qua biên giới để săn đuổi người tị nạn và bắt họ về nguyên quán.” (Vietnam has made the problem worse by sending military police officials accross the border to hunt down refugees and bring them back to Vietnam).

Vào thời điểm này, cộng đồng người Việt ở hải ngoại (phần lớn là những kẻ bị CSVN chèn ép đến mức độ phải bỏ chạy khỏi nuớc, và cũng từng tạm trú ở những quốc gia láng giềng như Cao Miên hoặc Thái Lan) đã không hề có một phản ứng nào về việc đồng bào của họ bị ngược đãi và săn đuổi.

Thảm kịch Tây Nguyên đang tái diễn. Thời gian, cũng như những thảm cảnh triền miên mà những người dân sơn cước phải gánh chịu, đã đánh động và thay đổi tâm thức của mọi người dân Việt. “Bi kịch lương tâm” của tập thể người Việt tị nạn sẽ không tái diễn. Tôi hy vọng và tin tưởng như thế. Nếu không, dù ngày mai chủ nghĩa CS có vội vã bỏ đi (đi luôn, of course) vấn đề Tây Nguyên sẽ vẫn còn ở lại.

K’ Tien
(April/02 – April/04)

02/03/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đầu Năm Khỉ Nói Chuyện Người Và Ngựa


Cái ác là hình thức thô thiển nhất của sự ngu dốt.
(Nikolai Rerikh )


Tây và Tầu đều yêu thích ngựa. Ta thì không. Hoàn toàn và tuyệt nhiên không. Chả bao giờ nghe người Việt nhắc đến loài ngựa (và những thuộc tính của nó) với những lời lẽ thân thiện, tử tế hay trìu mến. Đã thế, có một phụ nữ Việt Nam ra trước toà – vì bị buộc tội gây thương tích trầm trọng cho người khác – đã thản nhiên chỉ tay vào mặt nạn nhân, và nói (tỉnh rụi) như sau:

– Tui không có tội tình gì hết trơn á. Tui tạt át xít vô mặt cái “con đĩ ngựa” kia chỉ để tự vệ. Tui phải lo bảo vệ … hạnh phúc gia đình của mình chớ!

Một chuyện (thấy ghê) cỡ đó, rất có thể, bạn chưa bao giờ được nghe nhưng những lời lẽ chanh chua, trì triết, đắng cay, đay nghiến dành cho “những con đĩ ngựa” thì chắc chắn chính bạn đã nghe – hoặc nói – nhiều lần chớ không phải một, đúng không? Nếu bạn lỡ quên (hoặc làm bộ quên) thì để tôi nhắc cho:

– Đồ đĩ ngựa!
– Chứ con đĩ ngựa (khốn nạn) đó nó có cái gì hơn tôi mà anh chết mê chết mệt, ăn dầm ở dề với nó, và mang tiền cho nó trơn hết trọi như vậy?

Hoặc, đôi khi, quyết liệt và đe doạ hơn nhiều:

– Từ nay trở đi anh ở với con đĩ ngựa đó luôn đi, đừng trở về đây nữa, cũng đừng gọi điện thoại cho mẹ con tôi làm gì cả.
– Bà mà biết con đĩ ngựa nào chim chồng bà thì đừng có trách nhá. Đồ khốn nạn.

“Đĩ ngựa”, tất nhiên, không phải là sinh vật duy nhất mà đời sống và tính mạng (thuờng xuyên) bị đe dọa (trầm trọng) như thế – ở Việt Nam. Báo Thanh Niên, số ra ngày 23 tháng 9 năm 2003, đã lên tiếng báo động về nguy cơ tuyệt chủng của loài cá ngựa. Hiện nay, chỉ riêng khu vực Bến Đá – Ba Đình (Vũng Tầu) đã có hơn mười đại lý thu mua hải mã (một tên gọi qúi phái khác của cá ngựa) với giá một ký lên đến hai triệu đồng.

Cá ngựa rất được giá và bị săn bắt ráo riết vì bỗng dưng người ta “phát hiện” ra được tính bổ âm và cường dương của nó. Cá ngựa trị được bệnh hiếm muộn (cho phụ nữ) và yếu sinh lý (cho các đấng nam nhi). Xương hải mã xấy khô, ngâm rượu, ông uống bà (tấm tắc và rối rít) khen ngon. Thịt hải mã chưng gừng và hành lá, với nấm mèo và thịt ba chỉ bằm nhỏ, bà ăn ông (gật gù và suýt xoa) khen tốt. Đồng vợ đồng chồng tát bể Đông cũng cạn. Phen này bể Đông phải cạn. Biển cạn thì cá gì mà không thấy … mẹ, chớ có riêng chi cá ngựa.

Gấu ngựa, hiện tại, cũng đang lâm vào hoàn cảnh khốn đốn và lâm nguy không kém. Theo nguồn tin của hãng thông tấn AFP, phát đi từ Hà Nội hôm 1 tháng 10 năm 2003 thì hiện tại ở Việt Nam chỉ còn độ một trăm con gấu sống trong môi trường thiên nhiên, số còn lại (độ năm ngàn con) đang bị bắt giữ để lấy mật vì người ta tin rằng mật gấu pha với ruợu uống làm tăng cường sinh lực, và chữa được nhiều bệnh ngoại khoa rất công hiệu. Bản tin vừa dẫn cũng có trích lời của bà Jill Robinson, nhân viên của Asia Animal Foundation, như sau: “loài gấu sẽ biến mất ở Việt Nam, nếu tình trạng săn bắt gấu để ăn thịt hay để nuôi lấy mật như hiện nay“.

Và đó là chuyện đã cũ, từ hồi năm 2003 lận. Bà Jill Robison chắc chưa biết chuyện này: dân Việt mới (“chợt”) khám phá ra rằng mật của gấu ngựa còn chữa được cả bệnh ung thư nữõa cơ đấy! Loài gấu (nói chung) hậu vận chưa biết ra sao chứ gấu ngựa (nói riêng) phen này chắc chết, chết chắc, chứ không phải bỡn.

Ngoài đĩ ngựa, cá ngựa và gấu ngựa…. ra, còn một số “sinh vật” khác nữa cũng đang gặp nhiều chuyện lôi thôi lắm, lôi thôi lớn, lôi thôi lâu, và không chừng – dám – lôi thôi luôn, lôi thôi vĩnh viễn hoặc nói tóm gọn lại là có có nguy cơ bi diệt chủng. Đó là người dân miền núi ở Việt Nam.

Trong bài tham luận có tựa là “Thực Hiện Tốt Chính Sách Dân Tộc Của Đảng”, được phổ biến vào ngày 23 tháng 9 năm 2003, bà Tòng Thị Phóng (Bí Thư Trung Ương Đảng, Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương) nhắc khẽ cả Đảng rằng phải: “quan tâm đặc biệt đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến trước đây; tăng cường cơ sở khám bệnh, cán bộ y tế cho các xã, thôn ấp, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian; từng bước ngăn chận tình trạng suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một số dân tộc thiểu số” (http://www.vov.org.vn/2003_09_23/vietnamese/thoisu1.htm#10 ).

“Tình trạng suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một số dân tộc thiểu số” – nếu nói theo ngôn ngữ của đời thường – giản dị chỉ có nghĩa là nhiều sắc dân thiểu số ở Việt Nam đang chết dần, chết mòn và sắp chết hết đến nơi vì đói khát và bệnh tật – thế thôi!
Bà Tòng Thị Phóng không phải là … thường dân đâu à nha, cũng không phải là một con mẹ bá vơ nào đó (thuộc những tổ chức phản động hay thù nghịch ở nước ngoài) mà là Bí Thư Trung Ương Đảng và là Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương lận. Những gì bà ấy nói hẳn là phải có co sở, trọng lượng và cần phải được mọi người suy nghĩ.

Vì lý do “bảo vệ hạnh phúc gia đình” nên người ta (đành) phải tạt acid vào mặt mấy con đĩ ngựa, vì hy vọng có thể “bảo vệ hạnh phúc lứa đôi” nên người ta phải mần thịt những con cá ngựa, và để “bảo vệ sức khoẻ” nên người ta phải uống mật của những con gấu ngựa … Tất cả những chuyện này, nghĩ cho cùng, đều có thể (ráng) hiểu được. Còn việc tìm mọi cách hủy diệt đời sống của những người “ở vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến truớc đây” – nghĩa là những người mà Đảng đã chịu ơn, những người hoàn toàn không đụng chạm gì đến quyền lợi của Đảng hết trơn hết trọi – thì thiệt là một việc làm ác độc (vô cùng) khó hiểu.

Ngoài bờ biển phía Đông ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc thiểu số (những kẻ ở vùng xa, vùng sâu …) tự ngàn xưa. Họ chính là chủ nhân đích thực của đất nước Việt Nam. Và chính họ tạo thành tuyến đầu và vòng đai an ninh cho toàn lãnh thổ. Cũng chính họ, với cuộc sống đơn giản hài hoà với thiên nhiên, đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng và tạo một “vòng đai xanh” cho tổ quốc. Cớ gì mà Đảng “phải” tìm mọi cách dồn họ vào tử lộ, đẩy họ đến mức diệt vong như thế?

Cái ác, trong trường hợp này, không chỉ là hình thức thô thiển nhất của sự ngu dốt. Nó còn cho thấy cái khía cạnh bệnh hoạn (sadism) của những người CSVN.

K’Tien
2/2004

02/03/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Công An Và Phương Nam

Người ta dùng lửa thử vàng.
Lấy vàng thử đàn bà.
Và mang đàn bà thử đàn ông.

(Ngạn ngữ )

Cứ theo như lời của bố tôi thì đây là chân lý mà dân Á Rập hay Ba Tư (hoặc Ấn Độ gì đó) đã tìm ra. Và ông không quên dặn dò rằng tôi phải nhớ thật kỹ như thế để sống cho nó ngon lành và khỏi trật đường rầy.

Tôi đâu có dám quên lời bố dặn nhưng cuộc đời tôi, nói tình ngay, không được ngon lành gì cho lắm. Tôi chôm vàng của mẹ, mang thử đàn bà (rất) nhiều lần, lần nào cũng … trật. Họ coi tôi như quái vật, và phần lớn đều rất cong cớn, cất giọng mỉa mai:

– Trời! Bộ đi vượt biên hay đi chạy hộ khẩu Hà Nội sao mà mang theo cả đống vàng vậy, cha nội?

Tử tế hơn một chút, có bà nhìn tôi với ánh mắt (vô cùng) thương hại, rồi hỏi khẽ:

– Rõ khổ, thế anh không có hột kim cuơng nào à?

Sau những kinh nghiệm (ê chề) như thếù, tôi nhận ra rằng không có chân lý nào vĩnh cửu cả. Mọi giá trị thay đổi theo thời gian và không gian. Vào thời của tôi, và ở quê hương của tôi, sự việc đều khác hẳn:

Người ta (vẫn) dùng lửa thử vàng.
Nhưng lấy vàng thử công an.
Và mang công an thử đàn … ông
.

(Trên nguyên tắc, có thể dùng công an để thử tất cả mọi người – không phân biệt tuổi tác, tôn giáo, sắc tộc hay phái tính. Tuy nhiên sau khi “thử ” bà Dương Thu Hương – và bị bà ấy chửi cho (gần) tắt bếp – thì Đảng và Nhà Nước đồng ý, “bỏ qua” cho đám đàn bà phụ nữ.)
Dùng lửa thử vàng, nếu vàng đổi màu là vàng giả. Lấy vàng thửû công an mà họ không cầm (liền) thì kể như bạn đã không gặp công an thứ thiệt. Và mang công an thử đàn ông mà cha nội này xanh mặt thì đúng là đồ (đàn ông) dởm.

Xin đơn cử thí dụ về một trường hợp … dởm. Cách đây không lâu, khi giới văn nghệ Việt Nam được (tạm thời) cởi trói thì nhà văn Trần Mạnh Hảo thừa thắng xông lên. Ông đòi hỏi phải được “nghỉ chơi” với Đảng. Trần Mạnh Hảo cho ra đời cuốn Ly Thân, và nói xa gần bóng gió rằng cuộc hôn nhân cưỡng bách giữa Đảng và ông ta đã kéo dài quá lâu và quá mệt. Ông xin được ra riêng, cho nó khỏe.

Ý muốn của Trần Mạnh Hảo hoàn toàn chính đáng nhưng Đảng vẫn muốn biết xem ý chí (độc lập tự do) của ông tới cỡ nào nên đương sự đã được công an mời đến thử. Kết quả cho thấy rằng Trần Mạnh Hảo chỉ là loại sọc dưa.

“Sọc dưa” là một từ ngữ có nguồn gốc từ giới đá cá lia thia. Giống cá này thường rất hiếu chiến. Cứ bỏ hai con đực vô chung một cái thẫu là chúng lập tức phùng mang, rẽ nước, nhào vô đấm đá chết bỏ. Lâu lâu mới gặp phải con lia thia … dởm. Loại cá này khi thấy địch thủ có vẻ hùng hổ thiệt và hùng hổ hơn mình thì toàn thân nó bỗng nổi sọc (trông như những đường sọc trên quả dưa) và … bỏ chạy.

Trần Mạnh Hảo thuộc loại sọc dưa như thế. Và như thế, nghĩ cho cùng, cũng không có gì để nói. Điều đáng phải phàn nàn là Trần Mạnh Hảo đã đi xa hơn thế. Sau khi bị công an “thử”, ông đã vội vã xé đơn xin ly thân. Rồi Trần Mạnh Hảo bỗng đổi hẳn thái độ, trở nên hậm hực và gầm ghè với bất cứ ai đòi ly dị Đảng.

Ai cũng như Trần Mạnh Hảo thì nghề công an thiệt khoẻ. Nếu không nhận được vàng từ người bị thử thì cũng được sự hợp tác chặt chẽ của họ. Những người sọc dưa như thế, tiếc thay, dường như mỗi lúc một ít hẳn đi – ở Việt Nam. Nói cách khác, làm công an ở xứ sở này – xem chừng – cũng mệt, và mỗi lúc một … thêm mệt (bạo).

Sau đây là vài trường hợp “không khoẻ mấy” đã xẩy ra.

Lúc 10 giờ sáng ngày 5 tháng 9 năm 2001, một công dân Việt Nam lão hạng, ông Nguyễn Thụ, nhận được giấy mời đến văn phòng công an quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) “để bàn về an ninh quốc gia”. Tại đây, ông được nói cho biết rằng có một số người đang tập hợp để chống tham nhũng. Đây là chuyện (riêng) của Đảng và Nhà nước. Công an nhã nhặn và lịch sự đề nghị ông cụ không nên có quan hệ với Hội Chống Tham Nhũng này.”

Nghe xong, ông Nguyễn Thụ (ngó bộ) không vui. Sao kỳ cục vậy cà? Sao tiền thuế của người dân bị ăn cắp vì nạn tham nhũng mà họ lại không có quyền tham dự vào việc chống lại vụ này? Sao kẻ cắp lại dành quyền đi bắt … trộm như vậy chớ? Sao từ trước tới giờ chống thực dân, chống phong kiến, chống Pháp, chống Mỹ, chống giặc Bắc Kinh xâm lược … thì người ta thiết tha kêu gọi ông cụ – cũng như con cháu – tích cực tham gia mà đến khi chống tham nhũng thì họ lại bảo là việc (riêng) của Đảng và Nhà Nước? Thế nà thế lào?

Tuy băn khoăn như vậy nhưng ông Nguyễn Thụ không nói năng gì nhiều, chỉ lẳng lặng ra về. Về đến nhà ông cụ viết một bài dài (có tựa là “Kể Chuyện Lên Công An Quận”) với nội dung rất “phản động”, mang phát tán tùm lum, gửi ra tận nước ngoài. Bạn có thể đọc bài báo này, ở website sau: http://www.thongluan.org/VN2/viet_frame_0601.htm, hoặc http://www.ykien_filesmykbdv07.htm
Sau đó, có lẽ ông Nguyễn Thụ bị công an … giận! Họ không bao giờ thèm ghé chơi nhà, và cũng thôi (không) mời ông ấyï đến đồn để … thử (thêm) một lần nào nữa. Chả lấy được vàng, không được cộng tác, mà còn bị ông già viết bài mắng chửi xỏ xiên như thế thì ai mà không giận chứ?

Những người già thường (khó chơi) thế đấy. Chỉ có vẻ bằng mặt nhưng không bằng lòng. Về nhà mới chửi toáng lên. Phản ứng của người trẻ thì khác. Xin đơn cử một thí dụ khác – về trường hợp của một công dân khác, một thanh niên còn rất trẻ – xẩy ra ở đồn công an Đống Đa, Hà Nội, vào cùng ngày 5 tháng 9 năm 2001:

Khoảng 14 giờ 20 phút, một tốp công an khoảng 10 người to khoẻ ập vào nhà tôi và đưa tôi giấy triệu tập do trưởng công an quận Đống Đa Vũ công Long ký, với lý do “hỏi có việc liên quan đến an ninh quốc gia …”. Cuộc thẩm vấn chỉ xoay quanh vấn đề Hội Chống Tham Nhũng, nhưng tôi bị giữ tại cơ quan CA 3 giờ. Tôi hết sức bất bình vì thái độ của các công an viên, đặc biệt là anh Tâm. Anh này có thái độ vô cùng xấc xược và vô văn hóa đến mức không tưởng tượng nổi. Lúc thả tôi, anh Tâm nói:


– Tao tha cho mày vì mày ốm yếu, chứ không tao đã bắt mày rồi. Nhưng tao cấm mày ra khỏi nhà.


– Có văn bản pháp luật nào cấm tôi ra khỏi nhà không ?


– Tao không cần văn bản nào cả.


– Vậy là văn bản miệng à?


– Đúng. Miệng tao là pháp luật.


– Vậy thì tôi vẫn cứ ra khỏi nhà nếu tôi muốn.


(Lê Chí Quang,”Kịch Liệt Phản Đối Việc Bắt Giữ Khám Xét Những Người Chủ Trương Thành Lập Và Tham Gia Hội Chống Tham Nhũng”, http://www.ykien_filesmykbdv07.htn).

Thái độ của những người như Nguyễn Thụ, Lê Chí Quang … hẳn là đã làm cho giới công an ở Hà Nội (hết sức) thất vọng và (vô cùng) kinh ngạc. Họ không mang vàng đến “thử” công an (đã đành), không chịu hợp tác (cũng đành) mà còn lớn tiếng la lối như thế thì thực là tệ quá. Sao bỗng dưng đàn ông VN cũng trở nên khó thử (y như đàn bà) thế nhỉ?

Và trường hợp tệ nhất, khó thử nhất mà tôi được biết thì mới xẩy ra ngày 10 tháng 12 vừa qua, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền. Đang không cả thế giới nhận được bức thư ngỏ của một công dân VN, có bút hiệu là Phương Nam, ông ta la lối và hô hoán lên – như sau:
Tên tôi là: Đỗ Nam Hải – Sinh năm 1959, tại Hà Nội. Thường trú tại: 441 Nguyễn Kiệm – Phường 9 – Quận Phú Nhuận – Tp. HCM. Nghề nghiệp: kỹ sư kinh tế ngân hàng. Chiều ngày 6/8/2004, trong khi tôi đang làm việc tại ngân hàng thì có một số sỹ quan thuộc Cơ quan an ninh – Bộ công an đến tận nơi, khéo léo mời tôi lên một chiếc xe hơi để đi làm việc tại ngôi biệt thự số: 310 đường Trường Chinh – Phường 13 – Quận Tân Bình – Tp. Hồ Chí Minh. Sau đó, tôi bị giữ lại đây hơn 2 ngày (từ 16 giờ ngày 6/8/2004 đến 18 giờ ngày 8/8/2004), để “Trả lời một số vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia”, theo như nội dung ghi trong Giấy Mời. Bốn tháng sau, tôi lại bị các sỹ quan công an trên giữ lại 24 tiếng (từ 17 giờ ngày 3/12/2004 đến 17 giờ ngày 4/12/2004) tại trụ sở Công an quận Phú Nhuận, số: 181 đường Hoàng Văn Thụ – Phường 8 – quận Phú Nhuận – Tp. HCM. Cũng trong khỏang thời gian 4 tháng qua, tôi còn bị hàng chục lần phải đi làm việc theo yêu cầu của công an: khi thì ở nhà hàng, khi thì trong những phòng kín của các khách sạn khác nhau; khi thì trên một chiếc xe cứu thương bít bùng trên bờ kênh Nhiêu Lộc, thuộc quận Tân Bình. Máy tính của tôi (cục CPU) cũng đã bị tạm giữ từ ngày 4/12/2004 tại Công an quận Phú Nhuận, và theo lời giải thích miệng của công an là: “khi nào chúng tôi xóa hết các dữ liệu trong đó thì sẽ trả cho anh”.


Vì vậy, hiện nay tôi không có phương tiện làm việc tại nhà.


Dù ở vào một hoàn cảnh khó khăn như thế, Phương Nam lại có một kiến nghị (rất viển vông) thế này:


Tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ và Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam hãy nghiên cứu, xem xét ý kiến đề nghị của tôi về 1 cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt Nam.

Trong đó, câu hỏi duy nhất cần nhân dân Việt Nam trả lời là:


Việt Nam nên hay không nên theo chế đa đảng?


Nếu ai đồng ý thì ghi Có. Ai không đồng ý thì ghi Không.


Tôi sẽ rất vui lòng và sẵn sàng cùng các bạn hữu trong và ngoài nước của mình chờ đợi những cuộc đối thoại từ phía Quốc hội, Chính quyền hay ĐCSVN tổ chức, để làm rõ hơn ý kiến đề nghị trên của mình. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm của các cơ quan trên và xin chân thành cảm ơn trước. Trường hợp các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam thấy rằng: những việc làm của tôi là có điều gì trái pháp luật thì tôi sẵn sàng đối diện với khả năng xấu nhất có thể xảy ra với mình. Còn tình trạng hiện nay của tôi là rất ụ ụ, xọe xọe, rất không đàng hòang, mà Cơ quan an ninh – Bộ công an Việt Nam đã áp dụng với tôi trong hơn 4 tháng qua. Thay cho lời kết, tôi xin được ghi lại câu nói của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900 – 1944): Tự do không thể van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có
!”

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc là những ông hay những bà công an ở thành phố HCM (quang vinh) đều đã há hốc miệng ra – sau khi đọc bức thư ngỏ của Phương Nam. Họ vô cùng ân hận, và sẽ ân hận cho đến chết, vì đã “thử” (lầm) một thằng cha lắm điều và nhiều chuyện (trời biển) tới cỡ đó.

Thấy chưa, tôi đã nói trước rồi mà không nghe. Thời buổi này không thể mang vàng để thử đàn bà, cũng không thể mang công an để thử dân VN được nữa – bất kể họ là đàn bà hay đàn ông.

Và trong một chế độ độc đảng, công an trị mà công an hết sài được rồi thì còn chờ gì nữa mà không tổ chức “trưng cầu dân ý” đi chớ. Đó là lối thoát cuối cùng mà. Nghe lời cha nội Phương Nam đi, trước khi quá muộn! Cái giá mà những kẻ bạo ngược phải trả vì đã (dám) thử thách cả một dân tộc – chắc chắn- sẽ rất là không rẻ. Đừng có dại mà thử (coi sao) nha. Cái đám công an cộng sản (nói riêng) và cả bọn cộng sản Việt Nam (nói chung) chả qua chỉ là một bọn sọc dưa, không hơn không kém.

Tưởng Năng Tiến
2004

02/03/2010 Posted by | Sổ tay thường dân | %(count) bình luận