sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Núm ruột quê hương (2)


“Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phú Bình kể rằng nhạc sĩ Phạm Duy khi tiếp nhận văn bản cho phép ông về định cư và phổ biến tác phẩm đã nói: ‘Thật tuyệt vời. Đất nước đã đổi thay thế nào thì cùng lúc một viên tướng (ông Nguyễn Cao Kỳ), một nhà sư (thiền sư Thích Nhất Hạnh) và một nhạc sĩ lại cùng về. (Cẩm Hà, “Nhiều Con Tim Đã Vui Trở Lại”) [1]



Trong số “nhiều con tim đã vui trở lại” vừa kể, Phạm Duy quên đề cập đến một nhân vật nữa – cũng tăm tiếng và tai tiếng chả kém ai – thi sĩ Du Tử Lê. Ông là tác giả nhiều câu thơ bất hủ, xin đơn cử một:

– “Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển!”

Một phần tư thế kỷ sau, sau khi câu thơ thượng dẫn được phổ biến, nhà thơ của chúng ta vẫn sống, và hoàn toàn không có triệu chứng gì sắp chết hay sẽ chết. Trong thời gian này, đất nước đã trải qua “những thay đổi lớn lao … và tôi được đối xử chân tình, chu đáo” – theo như lời tâm sự của (cựu) thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ [2]. Có lẽ vì “những thay đổi lớn lao”, cùng với sự “chân tình và chu đáo” như thế, thi sĩ Du Tử Lê đã vội vàng mua vé máy bay trở lại Việt Nam – thay vì chờ được thả xác, về bằng đường biển.

Quyết định này của nhà thơ hoàn toàn hợp thời và hợp lý. Nó phù hợp với chủ trương đại đoàn kết dân tộc của nhà cầm quyền đương đại, và cũng đỡ phiền toái cho rất nhiều người. Nếu ông cứ tiếp tục, thỉnh thoảng, lẳng lặng về chơi, thăm nhà một chuyến như vẫn thường làm như thề thì (thật) quí hóa biết chừng nào.

Cũng như những nhân vật vốn tăm tiếng (và tai tiếng) khác. Du Tử Lê dường như không thích hợp lắm với một cuộc đời trầm lặng, dù ông sống ở bất cứ nơi đâu.

Mới đây, người ta đọc được một bản tin ngắn – xuất xứ từ VN – về “Thơ Tình Du Tử Lê”, toàn văn như sau:

“Nổi tiếng với lĩnh vực thơ tình ở miền Nam từ trước giải phóng, Du Tử Lê còn được xem là một trong những tác giả có thơ được phổ nhạc nhiều nhất. Ơn em, Trên ngọn tình sầu (Từ Công Phụng), Khúc Thụy Du (Anh Bằng), Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau, Tình sầu Du Tử Lê (Phạm Duy)… đã đi vào lòng người yêu nhạc nhiều thế hệ.”

“Sau giải phóng, Du Tử Lê định cư ở nước ngoài (Mỹ) nhưng không nguôi thương nhớ quê hương. Ông nhắn nhủ người thân khi ông nhắm mắt hãy thủy táng ông trên biển để theo ý nguyện, thể xác ông xuôi về với quê nhà, “cáo chết quay đầu về núi”. Từ đây, thơ Du Tử Lê đã được giới thiệu rải rác trở lại trong nước qua các bài viết đặc sắc của các nhà phê bình, nhà thơ Thanh Thảo, Phạm Xuân Nguyên, Trần Mạnh Hảo… gây được chú ý trong công luận.”

“Theo nhà thơ Nguyễn Liên Châu, người được tác giả ủy thác đại diện tác quyền, cũng như tuyển chọn và thực hiện tập thơ này, nhà thơ Du Tử Lê rất vui mừng khi được Bộ Văn hóa – Thông tin và Nhà xuất bản Văn Nghệ đồng ý cho xuất bản tập thơ này. Tuyển tập gồm gần 80 bài, tuyển chọn giai đoạn sáng tác 1956 – 1975, đặc biệt có một loạt phụ bản ảnh, sơn dầu, ký họa, màu nước vẽ chân dung tác giả của nhiều nghệ sĩ, họa sĩ nổi tiếng như Trịnh Cung, Đinh Cường, Duy Thanh, Nguyễn Trọng Khôi, Khánh Trường, Phạm Công Thiện, Nguyễn Bá Văn, Hồ Thành Đức… lần đầu được tập hợp công bố. Ảnh bìa 4 chụp nhà thơ Du Tử Lê tuổi 60 trở về Hà Nội của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Tốn và bìa rất trang nhã, sang trọng của nhà thơ họa sĩ Nguyễn Trọng Tạo.” [3].

Dư luận ở hải ngoại, nghe ra, hơi khác. Tạp chí Khởi Hành, số 101, phát hành từ California, số tháng 3 năm 2005, trong mục “Giữa Tòa Soạn Và Bạn Đọc”, có đoạn viết như sau: “Để có tác phẩm được cs cho tái bản ở trong nước, không phải cứ xanh vỏ đỏ lòng là được. Còn phải biếu xén quà cáp nhiều lắm. Chẳng vinh dự gì đâu.”

Cụm từ “xanh vỏ đỏ lòng” vừa ghi, có lẽ, đã khiến cho thi sĩ Du Tử Lê cảm thấy nhột nhạt. Khi được hỏi về những vấn đề có liên quan đến vấn đề này, ông cho biết:”

“Gần đây, tại Việt Nam, Bộ Văn hóa đã xét duyệt, và bắt đầu cho in lại những tác phẩm văn học nghệ thuật không có tính cách chính trị, nên anh Châu đã ngỏ lời với tôi rằng cho phép anh ấy in tập thơ của tôi. Tôi nói “Ừ, cậu muốn làm gì đó thì làm.” Tôi chỉ nói thế thôi…

Cho tới bây giờ, không có một giòng chữ nào, chữ ký nào ủy quyền, ủy thác cho ai ở Việt Nam…”

“Mặc dù tôi già rồi, tôi chỉ muốn sống yên, tuy nhiên, nếu tôi bị tấn công, mà có nguy hiểm đến tính mạng, nhất là vấn đề chụp mũ tôi là Việt cộng, tôi vẫn dành quyền luật pháp can thiệp. Vì sinh mạng của mình, nên mặc dù tôi nghèo, tôi vẫn có thể theo đuổi một vụ kiện như vậy” (Nguyễn Quang Minh, “Nhà Thơ Du Tử Lê La Trời,” [4]).

Du Tử Lê nói rõ rằng “nếu tôi bị tấn công, mà có nguy hiểm đến tính mạng, nhất là vấn đề chụp mũ tôi là Việt cộng, tôi vẫn dành quyền luật pháp can thiệp”. Tuy nhiên, những người ở trong nước lại hiểu (lầm) rằng thi sĩ sẽ kiện họ vì ông “không hề cho phép bất cứ cá nhân hay tổ chức nào xuất bản cuốn TTDTL”; do đó, họ đã cho in phóng ảnh giấy ủy quyền xuất bản tác phẩm này cho mọi người cùng … thưởng lãm [5]. Cùng lúc, báo chí trong nước không tiếc lời thóa mạ thi sĩ của chúng ta là “lật lọng, xảo trá và thiếu nhân cách” [6].

Chuyện đi/về và thơ/thẩn của thi sĩ Du Tử Lê mới còn ở giai đoạn “triển khai” nhưng chỉ nghe tới đây thôi nhiều người (xem chừng) đã… oải. Do đó, phần còn lại của bài viết ngắn ngủi này, xin được đề cập đến những cách hồi hương khác, của những núm ruột xa quê khác.

Có những kẻ không trở về bằng đường biển, theo như cách mà thi sĩ Du Tử Lê (từng) đòi hỏi. Họ cũng không đi máy bay, theo như lối phổ biến của đời thường. Họ được thả cho trôi lại quê nhà, bằng đường … sông – theo như tường thuật của RFA, nghe được vào hôm 15 tháng 7 năm 2005:

“Bốn thi thể trôi trên sông Sesan thuộc địa phận tỉnh Ratanakiri bên Campuchia được cho là xác của những người dân tộc Việt Nam. Tin này do một viên chức thuộc tổ chức Adhoc tranh đấu cho nhân quyền tại Campuchia nói với hãng thông tấn AFP vào ngày hơm qua…” Theo ông thì đó là xác của bốn nguời dân tộc thiểu số Việt Nam vì được tìm thấy tại khu vực mà truớc kia nguời dân tộc Tây Nguyên từ bên Việt Nam hay lẩn trốn. Tuy nhiên nguyên nhân tử vong của họ thì ông không đuợc rõ.

“Ông Bonnar còn cho biết hồi năm 2001, thi thể của hai người dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng đã được tìm thấy với hai tay bị trói ké sau lưng” [7].

– Ủa, nói vậy không lẽ đồng bào Thượng cũng bỏ đi luôn sao?

– Trời, trong một xứ sở mà cột đèn, nếu có chân, cũng không chịu ở thì ai mà không đi – cha nội? Sức người, kể cả người Thượng, có hạn thôi chớ bộ.

Chỉ tiếc là những người dân miền núi đã đi (quá) chậm nên phải chịu thiệt thòi. Họ không có quyền đòi hỏi người khác mang mình ra biển, sau khi chết. Họ bị thả trôi sông (với hai tay bị trói ké sau lưng) ngay khi còn sống! Hoặc bị bắt trả về (hàng loạt) bằng đường bộ.

“Theo tường thuật do thông tín viên Kate Woodsome của đài VOA gởi về từ Phnom Penh sáng ngày thứ tư, cảnh sát Kăm Pu Chia đã phong tỏa con đường dẫn tới một trại tị nạn của Liên hiệp quốc ở ngoại ô Phnom Penh để ngăn không cho những người Thượng trốn ra khỏi trại, trước khi họ đưa những người này lên xe buýt để chở tới cửa khẩu Mộc Bài ở tỉnh Tây Ninh của Việt nam…”

“Theo tin của hãng thông tấn Pháp, một viên chức cao cấp ở cửa khẩu Mộc Bài xác nhận rằng 107 người Thượng đã được Kăm Pu Chia giao trả cho giới hữu trách Việt nam, và nhà chức trách Việt nam sẽ dùng xe chở những người này về nguyên quán của họ…”

“Các tổ chức nhân quyền đã lên án hành động trục xuất này và đả kích Kăm Pu Chia về việc ép buộc những người Thượng trở về Việt nam…”

“Ông Ny Chakrya, người đứng đầu bộ phận theo dõi của một tổ chức nhân quyền Kăm Pu Chia, có tên là ADHOC, nói rằng những người Thượng này không được bảo đảm an ninh khi họ trở về Việt nam” [8]

Tuyệt nhiên, không nghe ai đả động gì đến những người dân miền núi đã trở về bằng đường sông hay đường xe như thế cả. Mọi cơ quan truyền thông, ở trong nước, đều dồn hết nỗ lực ca tụng những chuyến hồi hương (để “thể hiện tình đoàn kết dân tộc và xây dựng quê hương”) của những người tăm tiếng. Còn giấy mực và những diễn đàn, ở ngoài nước, thì chỉ dùng vào việc mai mỉa hay riếc móc những tai tiếng mà các nhân vật tăm tiếng đã gây ra – ở quê nhà.

Trong ánh mắt của đại đa số, từ trong ra ngoài, người dân thuộc những sắc tộc thiểu số ở VN – dường như – không phải là đồng bào của họ. Mai hậu, khi họa cộng sản đã qua, khi cần đến sự đồng tâm của mọi thành phần dân tộc để xây dựng lại đất nước, dân Việt sẽ có (rất) nhiều dịp để ân hận về sự vô tâm của họ hôm nay.

Tưởng Năng Tiến
9/2005

…………….

[1] http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=93941&ChannelID=87.
[2] http://www3.thanhnien.com.vn/Kiebao/2005/4/4/103537.tno
[3]http://web.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2005/8/5/118045.tno?SearchTerm=”du%20tu%20le”
[4]  http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw3n33/duTuLe.html
[5] http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=19310&ChannelID=7
[6] http://www.baocongantphcm.com.vn/detail_news.php?a=art07632
[7] http://www.rfa.org/vietnamese/tintuc/vietnam/2005/05/04/Vietnam_Cambodia_Montagnards/
[8] http://www.voanews.com/vietnamese/2005-07-20-voa9.cfm

03/05/2010 - Posted by | Sổ tay thường dân

%(count) bình luận »

  1. Đọc xong cả hai bài, lòng thấy buồn và ray rức…Tôi đã từng sống ở miền núi và rất cảm thông với những người dân tộc thiểu số ở nước ta. Họ hiền lành, chất phác nhưng cũng là nhóm người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong mọi thời đại.

    Bình luận bởi Phi Vũ | 04/05/2010 | Phản hồi


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: