sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Giữa Núi và Sông


Lâu lắm tôi chưa có dịp ăn lại một cái bánh tiêu. Sống nơi xứ lạ, nhiều sáng mãi đến khi mở mắt mới biết trời đang mưa. Một ngày mưa không bận việc phải ra khỏi nhà, cuộn người trong chăn ấm là thể nào tôi cũng thấy nhớ và thèm ăn bánh tiêu chấm với cà phê pha vợt. Đây không phải là một món điểm tâm hấp dẫn gì cho lắm. Tuy thế, giữa tôi và cái bánh tiêu có những kỷ niệm thân thiết và xót xa đến độ muốn quên (e) cũng khó !

Có mùa mưa tôi đi bán hàng rong. Cũng như ở rất nhiều thành phố khác ở Việt Nam, vào mùa này Rạch Giá hay bị ảnh hưởng của những cơn bão rớt. Trong những ngày tháng ảm đạm buồn bã đó, biển động mạnh, mưa nhỏ nhưng kéo dài lê thê suốt ngày. Mây xám màu chì, nặng nề kéo ngang qua bầu trời thấp xám, âm u của thị xã. Sáng nào tôi cũng dậy thật sớm, tay cầm mẹt (người dân địa phương gọi là cái xề) vội vã đi đến nơi người ta chiên bánh. Tôi bước đi lầm lũi, co ro, tất tả, lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang. Tôi đi không thấy nhà, không thấy phố, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ.

Tiếp tục đọc

Advertisements

28/09/2014 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giữa Dế và Người


Nhiệt độ thời tiết thay đổi đột ngột như thân nhiệt của một người mang bệnh sốt rét. Mới sáng bữa trước trời còn lành lạnh và nhạt nắng; qua sớm bữa sau nắng đã chuyển màu vàng sậm và trời thì hâm hấp nóng. Tới trưa thì nóng như hun. Tôi mở cửa bước vào xe mà tưởng như mình bước chân vô cái lò bánh mì.

Người dân bản xứ bỏ giầy, bỏ vớ, bỏ luôn quần trong, áo ngoài; họ chỉ còn đeo lại vài mảnh vải nhỏ xíu trên người, đi lơn tơn ở ngoài phố, gặp nhau họ chào hỏi hớn hở và gật gù nhận xét thú vị “’The summer’s coming !” Mùa hè thiệt sao ? Hè ở đâu mà tới một cái rào vậy kìa ? Có cái gì đột ngột, mới mẻ quá khiến cho một thằng dân ti nạn khó tránh được cái cảm gia’c ngỡ ngàng, xao động.

Tiếp tục đọc

18/09/2014 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cánh thiệp cuối năm




Khi bạn đứng tần ngần trước một quầy hàng bầy thiệp giáng sinh, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm thì mọi chuyện (kể như) đã lỡ. Chúng ta lại chậm trễ mất rồi.

Năm ngoái, cũng vào khoảng thời gian này đây. Nghĩa là cái lúc mà Noel đã đến sát tận lưng, và tết Dương Lịch đang lù lù trước mặt thì (không dưng) bạn nhận được dăm ba cánh thiệp muộn màng.

Thiệp có đặc tính chung là thường chuyên chở một thứ nội dung làm sẵn, và hoàn toàn đã nhẵn – đại loại như:”…một mùa giáng sinh tràn đầy ân sủng Chúa và một năm mới tràn đầy hạnh phúc.” Ân sủng Chúa, nếu có, e cũng khó mà có thể phân phát tùm lum cho toàn thể nhân loại được.

Chúng ta đông quá, và mỗi lúc một thêm đông. Sức Chúa, cũng như sức người, có hạn thôi chớ bộ.

Còn hạnh phúc thì sợ rằng chưa ai biết nó hình dáng hay mùi vị (thực sự) ra sao. Chúng ta chỉ đều hiểu (một cách mơ hồ) rằng hễ nói đến hạnh phúc thì chớ dại mà mong cho nó “tràn đầy.” Mọi thứ đầy đều dễ đổ. Và hạnh phúc thì (ôi thôi) cứ đổ bể rầm rầm, ở bất cứ thời nào, và bất cứ nơi đâu.

Bạn có thể không để ý đến nội dung hàm hồ của những tấm thiệp kiểu đó nhưng tên người gửi vẫn khiến bạn phải lưu tâm (chút đỉnh) chớ, đúng không? Ủa, có nhiều thằng cha lạ hoắc; tại sao chả lại gửi thiệp làm chi vậy cà? Có những con mẹ mà bạn tưởng rằng đã hoàn toàn và vĩnh viễn bước ra khỏi đời mình rồi thì (bỗng dưng) chiều cuối năm – khi nắng vàng dịu dàng đang nhẹ nhàng ôm ấp những thảm cỏ xanh mênh mông ở California –  bạn lại nhận được một cánh thiệp (từ nơi xa xăm) của … cố nhân!

Mà không phải là loại thiệp dởm, mua hàng lố đâu. Thiệp loại (cực) chiến, kích thước dềnh dàng, mắc tiền là cái chắc. Cũng không phải chỉ có một chữ ký vội vàng (cẩu thả) bên dưới hàng chữ “Merry Christmas and Happy New Year,” hay vài câu viết thêm vừa vô nghĩa, vừa ngớ ngẩn – như thường thấy – đâu nha. Người ta tuy chỉ viết đôi dòng ngắn ngủi nhưng thiệt là thấm đậm, nồng nàn và tình tứ hết biết luôn.

(Cố nhân ơi biết chiều nay ta buồn!)

Những cánh thiệp muộn màng (và bàng hoàng) cỡ đó, đôi khi, làm người nhận vô cùng bối rối. Nó là bằng chứng hùng hồn về cách cư xử (rất) thiếu văn minh của bạn. Nó khiến chúng ta lấy làm tiếc là tại sao mình lại vô tâm đến thế, sao không nhớ gửi thiệp cho thiên hạ – như họ đã (đều đặn) gửi cho mình –  vào dịp cuối năm. Có lúc, yếu lòng hơn, nó còn (dám) khiến bạn tự hứa là sang năm sẽ nhớ ghé qua hàng bán thiệp cho phải chuyện, và ghé sớm – cho xong chuyện.

Nếu đến đúng cái lúc gọi là “sang năm” đó mà chúng ta thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh đàng hoàng thì cuộc đời (rõ ràng) là ổn thỏa, và dễ sống biết chừng nào mà nói. Cuộc đời, than ôi, vốn cùng khó sống. Bởi vậy, khi mà bạn có đủ trí nhớ (và nghị lực) để dừng xe, tắp ngay vào một cửa tiệm nào đó thì chuyện gửi thiệp (e) lại muộn mất rồi.

Bạn lại đứng tần ngần trước trước một rừng thiệp giáng sinh, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm – y như năm ngoái, hoặc năm kia vậy. Và tình trạng này (không chừng) đã xẩy ra từ năm kỉa, hay năm kìa lận.

Chèng ơi, nếu duyên nợ của bạn đối với mấy tấm thiệp mà cứ nhì nhằng (triền miên) từ năm này qua năm khác, hay từ thập niên nọ đến thập niên kia thì cũng đừng vì thế mà … bi lụy quá, rất hại cho sức khỏe. Như vậy, không chừng, còn là một điều may mắn nữa đó nha.

– Ủa, may sao?

– Dạ, đúng!

Nói tình ngay thì bạn cũng không may gì mấy. Có điều, chắc chắn, là bạn vẫn may mắn hơn cả đống người Việt tha hương khác. Xin đơn cử một thí dụ, về một trường hợp rất không may, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Có kẻ ngay sau khi thấy rằng chuyện gửi thiệp giáng sinh không còn kịp nữa thì họ quyết định ngay là mua thiệp xuân để gửi đi cho kịp Tết. Họ thua keo này (liền) bầy keo khác.

Họ suy tính một cái “rẹt” ; hành động một cái “rột.” Thấy mà đã mắt, nghe mà sướng tai. Trong sinh hoạt hàng ngày của họ không có những giờ phút (vớ vẩn) kiểu như “tần ngần,” “do dự” hay “nuối tiếc”… về bất cứ chuyện gì. Bạn thấy họ sống mà ham, đúng không?

Khoan, gượm một tí đi … Có nhiều chuyện (ngó) tưởng vậy chớ không phải vậy. Từ từ rồi bạn sẽ thấy là họ cũng khốn đốn thấy mẹ luôn …

Hãy hình dung ra chính bạn đang ngồi ngay ngắn nơi bàn viết, với một đống thiệp xuân –  mua trước Tết cả tháng trời –  và với địa chỉ của tất cả những người quen trên “toàn thế giới” đi. Rồi sao nữa? Không lẽ ký tên cái ào bên dưới câu “Cung Chúc Tân Xuân” rồi gửi (đại) đi sao ?

Ðâu có được, cha nội! Làm như vậy thì thà “làm biếng” còn hơn. Mỹ, Tây, Tầu, Ðại Hàn, Ba Lan, Nhật Bổn, Miên, Lèo… thì sao không biết, chớ người Việt mà nhận được một cái thiệp ký tên (xuông) như vậy là họ mích lòng (cấp kỳ) à nha. Bạn phải viết vô đó vài chữ cho nó đàng hoàng chớ. Câu hỏi  hỏi đặt ra là (Trời ơi) biết viết cái gì đây ?

Với bố mẹ, anh chị, cô dì, chú bác… đang còn (kẹt) ở Việt Nam thì bạn tính  sao? “Một mùa Xuân an bình” hay “con cầu chúc bố mẹ, anh chị, các em, các cháu luôn được vui tuơi và khỏe mạnh trong năm mới…”

Nghe đặng không?

Nè (tui nói cho mà hay nha) dù thân nhân ở quê nhà có thương yêu bạn cách mấy, và có xuề xòa dễ tính đến đâu chăng nữa, họ cũng không chấp nhận được những lời cầu chúc vô tâm và vô trách nhiệm quá cỡ  vậy đâu. Nếu ở Việt Nam mà có “một mùa xuân an bình,” hay một cuộc sống “vui tươi và khỏe mạnh” thì đâu có lý do gì để cả nước phải chen chân đi lấy chồng xa, đi lao động xuất khẩu, hay băng băng chui đầu vào  rừng núi xứ người để trở thành … một đám người rơm – hay còn gọi là người rừng, hoặc nouveaux boat people,  những thuyền nhân mới của thế kỷ 21 – những kẻ tứ cố vô thân, bị  trấn lột, bị cuỡng dâm, và bị coi như rác ruởi bên lề xã hội, ở đất lạ xứ người.

Rồi chúng ta viết điều gì trên cánh thiệp giáng sinh gửi cho một đứa em, hay đứa cháu, đi lấy chồng xa (nhưng không ở nhà chồng) và đang ở trong …nhà thổ?  Và chúng ta nói sao với một người thân đi xuất khẩu lao động nhưng chưa được trả một đồng tiền lương nào, kể từ tháng Sáu năm ngoái đến nay? “Một năm mới tràn đầy hy vọng”chắc?

Thôi bỏ đi Tiến ơi. Hết năm rồi, nói chuyện gì khác (một bữa) được không? Sao không gửi cho nhau đôi lời chúc mừng may mắn và vui vẻ cho rồi. Mệt mỏi nguyên năm rồi (bộ) chưa đủ hay sao, cha nội?

O.K. That’s fine! Như vậy, giữa chúng ta – những kẻ may mắn, không ít đứa còn được coi như “thành đạt” nữa là khác (dù là “thành đạt trong thời buổi nhiễu nhưong) và đều đang sống an bình phú túc ở hải ngoại – sẽ gửi cái gì “cho nhau” qua cánh thiệp cuối năm ?

Những lời chúc tụng truyền thống đều quá date hết trơn rồi, đâu còn sài được nữa? “Chúc ông bà, anh chị…làm ăn phát tài gấp năm, gấp mười năm ngoái” nhe? Đ… mẹ, nói vậy có đứa dám tưởng là mình xúi nó đi ăn cướp nhà băng hay bán cocaine lắm à.

Cũng chớ có quen miệng mà “boong” một câu, kiểu như “đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái” nha, má non. Cái gì chớ phá thai là chuyện rất phiền, và tốn tiển dữ lắm. Đừng có nói năng lạng quạng mà gây thù chuốc oán như không.

Hay là cũng bỏ qua luôn mấy chuyện lẻ tẻ đó đi. Phang đại một lời cầu chúc cho quê hương và đại cuộc cho nó …ngon lành. Tới luôn bạng vàng, đâu có chết thằng Tây nào mà sợ:

“Chúc đất nước sớm tai qua nạn khỏi” nhá.

Hay:

“Hãy giữ vững niềm tin để mai này chúng ta sẽ cùng về xây dựng lại Việt Nam.”

Nghe thì cũng vui nhưng nghĩ lại (e) hơi khó. Với hiện trạng (nát như tương) ở ngoài này, ngó bộ, mốt (hay ngày kia) cũng chưa chắc về nổi chớ đừng nói chi mai; trừ khi, bạn được mời về tham dự Đại Hội Việt Kiều (vào năm tới, nếu có) hay giả dạng làm du khách “chơi lén” một chuyến thì không kể.

Khó há. Lờ tít chuyện thiệp xuân thiệp tết đi thì cũng hơi kỳ, nhưng nhào vô cái vụ này thì phiền phức quá. Ðời sống, tự nó, đã phiền  phức quá rồi mà. Bầy thêm chuyện để phiền mình (và phiền lẫn nhau) làm chi nữa, đúng không?

Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò trang nhã, có tính cách truyền thống, rất đáng giữ gìn, của những cánh thiệp trao đi gửi lại – vào dịp cuối năm. Rõ ràng là nó đẹp, và vô cùng lịch sự nhưng chỉ e nó không hợp (mấy) trong lúc này thôi. Cái lúc mà chúng ta vẫn còn đang sống giữa nhũng mùa xuân ly loạn đó mà.

Tưởng Năng Tiến
12/2010


Mời nghe: Cánh thiệp cuối năm – Tưởng Năng Tiến – Cát Bụi đọc


19/12/2010 Posted by | Tùy bút | 9 phản hồi

Đêm Trăng


Một đêm sáng trăng. Một đêm trăng sáng. Bao nhiêu là đêm trăng sáng đã qua mà chúng ta không hề biết. Sống ở một nơi máy bay nhiều hơn chim, cộ đèn nhiều hơn cây, đèn sáng hơn trăng nên trăng dù có cũng như không ! Nơi đây không ai đói ăn thiếu mặc. Nơi đây không ai “ngày đổ mồ hôi, đêm chùi lệ ướt” và cũng nơi đây – chả hiểu tại sao – rồi cũng chả ai có một ngày một giờ một phút thảnh thơi ngẩng mặt nhìn trời !

Có đêm trăng chúng ta kẹt trong một rạp xi-nê ba phim chiếu trong một xuất; kéo dài năm tiếng đồng hồ. Chúng ta không giữ được mình ở trong phòng nên phải tự giam vào một rạp chiếu bóng. Có phải ở đây rồi ai cũng buồn và quá cô đơn để chả còn ai dám sống một mình. Có phải ở đây chúng ta bị cô lập về văn hóa khít khao đến độ phải tìm những hình ảnh quen thuộc với văn hóa của mình qua những phim “tình cảm tâm lý xã hội”…. ! Một thứ xã hội giả trá, nhầy nhụa, bẩn thỉu mà chúng ta – phần lớn – cũng đã biết rồi.

Có đêm trăng chúng ta kẹt trong một hí viện. Có đêm trăng chúng ta kẹt trong một phòng trà. Chúng ta đến đó để thưởng thức những chương trình văn nghệ có “chủ đề”: Đại Nhạc Hội Nắng Ấm Quê Hương; Đêm Hát Cho Những Người Ở Lại; Đêm Tường Trình Với Tự Do; Đêm Tắm Mát Ngọn Sông Đào…. Chúng ta cố làm y như là thật. Dù tự thâm tâm những người tổ chức cũng như những người đến tham dự đều biết rằng: “Chúng ta đồng thanh toa rập phát hành và xài bạc giả”.

Khì bước ra khỏi những nơi như vậy thường thì trời đã về khuya, đêm lạnh. Chợt ngẩng mặt nhìn trời và bắt gặp một vầng trăng. Trăng tròn cao và sáng vằng vặc giữa bầu trời.

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

Rồi thỉnh thoảng chúng ta cũng chợt nhớ ra là mình đã quên bẵng đi rằng: chúng ta có một quê hương khốn khổ ở xa lắc xa lơ đâu đó bên kia bán cầu.

Còn nhiều đêm trăng khác nữa chúng ta ngồi dán mắt vào một chiếc ti vi vì nếu không ngồi xem ti vi thì cũng chả biết … làm gì cho nó hết ngày, cho nó qua đời ! Bao nhiêu đêm trăng chúng ta nằm chết dí trong một góc phòng lổn ngổn rượu bia, sặc sụa khói thuốc. Bao nhiêu đêm chúng ta chợt thức giấc, đầu cổ váng vất, hơi thở nặng nhọc, tâm hồn trống rỗng và lại chợt nhìn thấy ánh trăng len qua khe cửa, chiếu một vệt dài vàng sáng trên nền thảm.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dậm trường

Chúng ta lại bắt gặp cái cảm giác hổ thẹn ngượng ngùng. Hẳn cũng có nhiều kẻ bắt đầu cuộc đời lưu lạc của mình bằng những cái nghiến răng; những câu thề thốt, những hoài vọng vị tha tốt đẹp, đàng hoàng đấy chứ. Chao ôi ! Vậy mà chả hiểu nửa vầng trăng bên kia bán cầu có còn soi gối chiếc hay không chứ ở nơi đây, bây giờ, nửa vầng trăng còn lại… không soi một tí dặm trường nào cả ! Nó chỉ soi rọi những mảnh đời ly tán, tan nát; những tâm hồn mệt mỏi rã rời của một lũ người mất nước đang cùng nhau đành đoạn để cho đất nước… mất luôn !

Ghi nhận một số những hình ảnh sự kiện rồi khai quát hóa vấn đề, đưa đến một kết luận như vậy là một việc làm mang ít nhiều tính chất hồ đồ. Sự thực – có lẽ – không đến nỗi thê thảm, tệ bạc, khốn nạn như vậy !

Dẫu là đang lưu lạc tứ tán khắp nơi… ở từng góc của địa cầu nơi đâu có sự hiện diện của người Việt tị nạn là nơi đó vẫn còn những kẻ có lòng; những kẻ không chịu nhận bại trận lưu vong. Quả thực chúng ta những kẻ luôn luôn đấu tranh, hoạt động.

Có điều lạ… đã gần mười năm qua rồi. Mười năm… thời gian đủ cho tổ tiên tổ chức và hoàn thành một cuộc kháng chiến một cách vẻ vang anh dũng. Còn hôm nay, ở đây chúng ta đã đi qua hai phần đoạn đường của thời gian tương tự mà thành quả thì – nếu có can đảm nhìn nhận một cách thực lòng – là một con số không vĩ đại.

Lý do? Tất nhiên phải có. Có nhiều là khác. Vì có quá nhiều nên không thể nói một lần. Mà nói rồi cũng chả chắc đã cùng. Và lỡ dại “nói lung tung” không chừng còn gây ngộ nhận, còn làm mích lòng “làm anh em gặp nhau khó nói chuyện”, làm “mất tình bạn bè”.

Dẫu vậy vẫn còn một điều “có thể” nói được, nói ngay vì nó không… đụng tới ai; nó không chạm tới tổ chức đoàn thể nào hết ráo; nó cũng chả làm ai mích lòng vì đây là sự thực trong tận đáy lòng của tất cả những thằng dân mất nước. Một sự thực mà ít kẻ (hoặc không ai) chối cãi được vì nó quá hiển nhiên. Nó hiển nhiên đến cái độ làm cho chúng ta sợ. Chúng ta tìm mọi lý do để bào chữa để dấu tội cho nhau.

Đã bao nhiêu mùa trăng lưu lạc. Sẽ còn cả triệu mùa trăng khác nữa trôi qua lảng nhách nơi đất lạ xứ người nếu chúng ta không có can đảm nhìn nhận một cái tật rất xấu rất lớn của mình chúng ta có rất ít khi hoặc chả có bao giờ làm một chuyện gì một cách tận lực hết lòng cả .

Chúng ta đều hoạt động đấy chứ nhưng chúng ta hoạt động như … chơi ấy ! Chúng ta cũng đều đang cố gắng đấy chứ nhưng thường thì chúng ta chỉ cố gắng một cách rất vừa phải. Chúng ta đôi khi cũng chịu sự hy sinh nhưng chỉ hy sinh một chút xíu hà. Chúng ta không bao giờ lăn xả dấn thân tận tình. Rất ít khi chúng ta làm hết sức. chúng ta sẵn sàng tham dự vào hầu hết những sinh hoạt hữu ích của cộng đồng nhưng luôn chúng ta chỉ chơi một phần tư ga. Một tổ chức, một đoàn thể tệ hại dễ làm cho những thành viên chán nản. Điều này hiển nhiên. Còn một điều không kém hiển nhiên nữa là chính những thành viên của tổ chức luôn chỉ tham dự vào mọi sinh hoạt một cách dè dặt vừa phải, đó là làm cho tổ chức hóa thành tệ hại !

Tệ hơn nữa là đôi khi chúng ta ngụy trang để lừa dối tha nhân và lừa dối chính mình. Chúng ta như những kẻ chỉ luôn luôn ngồi rồ máy chứ chả bao giờ dám cho xe chuyển bánh. Chúng ta cứ đứng yên một chỗ bóp kèn inh ỏi vì…. chúng ta thực sự chả biết là phải chạy đi đâu, làm gì, hoặc vì chúng ta đâu có đời nào dám chạy.

Chúng ta – mọi người – đều có đủ mười tỷ lý do để bào chữa cho cái tinh thần tắc trách, thiếu trách nhiệm của mình. Chúng ta đều bận rộn hết trơn mà. OK ! bận thiệt chứ. Thượng đế chơi rất là không “fair” nhiều chuyện nhưng riêng về cái vụ phân phối thời gian thì cha nội đó rất công bằng.

Mỗi người chủ đều có đúng 24 giờ đồng hồ cho mỗi ngày. Bao nhiêu thời gian chúng ta phải bỏ ra để lo cho chuyện mưu sinh. Bao nhiêu thời gian cần phải có để giải trí. Bao nhiêu thời gian để ngồi lơ mơ, để nói chuyện nhảm nhí. Bao nhiêu thời gian nữa để lo cho vợ, cho con. Chúng ta nghĩ đến mình nhiều quá. Nhiều đến cái độ mà chúng ta dùng hết thời giờ để lo lắng chăm sóc cho mình và gia đình còn chưa đủ thì làm sao có thể rảnh để làm chuyện khác !

Bận rộn vẫn thường kéo theo mệt nhọc. Mệt thiệt chứ. Khi đã bước chân vào vòng đua nhu cầu và chạy cuống cuồng trên đó như một con chuột bạch chạy vòng cầu thì bà nội thằng nào mà không mệt !? Và dẫu không tham dự vào cái trò chơi dại dột ngu xuẩn đó thì cái đời sống quái gỡ này vẫn cứ làm cho chúng ta mệt như thường. Có vô số người trong chúng ta chả bao giờ khỏe ! Và sự thực thì cũng khó ai biết đâu là giới hạn tận cùng của sự cố gắng và đâu là mức bắt đầu cho sự lười biếng đơn hèn.

Chao ôi ! vậy mà tự thâm tâm chúng ta vẫn tự nghĩ mình là những người “hoạt động cách mạng”. Chúng ta vẫn tự nghĩ là mình bận rộn mệt nhọc hơn người khác vì luôn luôn đang làm thêm một cái “job part-time” có tên là “hoạt động phục quốc”. Sự thực chúng ta không hoạt động tận tình, kỷ luật, hiệu quả như khi đi làm thêm để kiếm tiền.

Sự thực là chúng ta tham dự những tổ chức đoàn thể chống cộng y như cái kiểu của một anh công dân trung lưu bản xứ tham dự vào những “golf club” hay “ski club” của họ. Chúng ta chỉ là những tên hoạt động chính trị “weekend” mà thường thì cũng không dám xài hết hai ngày cuối tuần cho tổ chức, cho lý tưởng mà mình đang theo đuổi. chúng ta không phải là những người làm cách mạng. Chúng ta chỉ là những kẻ làm dáng hoạt động, tô son điểm phấn cách mạng để che dấu bớt cái mặt cảm lưu vong tha phương cầu thực của đời mình.

Bỏ chạy trong cơn quốc biến là một trọng tội. Nước mất thân mình yên mà không dám tính chuyện trở về khôi phục là một trọng tội thứ hai. Hoạt động đấu tranh làm màu làm mè chỉ cốt để lừa dối kẻ khác và tự lừa dối trấn an, ru ngủ lương tâm của mình là một trọng tội thứ ba . Một kiếp đời lưu lạc mà mang một lượt ba trọng tội với tổ quốc thì hỏi sao nhìn trăng, nghĩ đến quê hương mà không thẹn.

Đêm nay… một đêm mùa trăng sáng. Đêm nay trăng sáng héo úa trên thung lũng điện tử Silicon. Đêm nay trăng sáng mờ nhạt giữa những ánh đèn mầu của bầu trời Los Angeles. Đêm nay trăng trơ vơ giữa bầu trời rộng ở một nông trường mièn tây bắc Úc Đại Lợi. Đêm nay trăng tàn thảm thiết trên những con hẻm nhỏ ở Paris. Đêm nay trăng u hoài giữa một vùng thảo nguyên mênh mông của Gia Nã Đại.

Đêm nay, một đêm mùa trăng sáng. Đêm nay trăng sáng lắm ở vùng biển vịnh Thái Lan. Một đêm trăng lý tưởng cho bầy dã thú hải tặc đi săn mồi tỵ nạn. Đêm nay trăng sáng vằng vặc ở Hoàng Liên Sơn, Yên Bái. Trăng soi rõ những vòng rào kẽm gai đã sét rỉ chằng chịt bao quanh những trại tù. Sắt còn hoen rỉ với thời gian thì chả hiểu còn được bao nhiêu chiến hữu chưa ngã quị? Đêm nay trăng sáng lắm ở vùng kinh tế mới Tân Rai. Trăng soi rõ những túp lều tranh của những con người bị đọa đầy khốn khổ như cái thuở sơ khai mà loài người còn ở giai đoạn du canh.

Đêm nay, trăng còn sáng dữ nữa trên một ngọn đồi cao nơi thành phố quê hương. Nơi đó những đêm trăng vẫn còn có người mẹ già mái tóc bạc sương ngồi tựa của nhìn trăng, trông ngóng những đứa con đã ra đi, và đi… luôn ! Tuyệt không có một cái thư, không có một gói quà, không có luôn một lời hứa hẹn (dù vu vơ)  hẹn ngày trở lại.

Đêm nay (còn được) bao nhiêu kẻ ly hương nhìn trăng mà… không thẹn với lòng?

Tưởng Năng Tiến
Tháng 10 năm 1982


22/03/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tháng Tư



Bây giờ là cuối tháng Tư. Có những ngày tháng, thời gian chuẩn điểm gây ám ảnh, ray rứt thù hận suốt một kiếp người. Một tháng tư ở Việt Nam – thường – là một ngày mưa. Một buổi chiều mưa. Mưa đầu mùa. Một buổi chiều mưa đầu mùa, trời chuyển âm u thấp xám. Thời gian và không gian như ngưng đọng lại trong giây phút chuyển mùa. Rồi sấm chớp và kế tiếp là những giọt mưa nặng hạt, ào ạt, xối xả, phủ kín vạn vật.

Mưa gội sạch cây lá, tưới mát những bãi cỏ úa vàng, thấm ướt đất khô cằn cỗi. Nước mưa, nguồn sinh lực kỳ diệu đã làm vạn vật hồi sinh sau những ngày nắng cháy .

Rồi mưa tạnh, trời quang. Mặt trời lại hiện ra từ một nơi nào đó, rọi những tia vàng ấm khắp nơi. Đất bốc hơi thơm nồng ngai ngái. Cây có sạch tươi dịu mát. Chim chóc ca hát trong trẻo líu lo…

Những buổi chiều mưa đầu mùa não nề diễm tuyệt như vậy rồi cũng mất hút trong đời.

Có những buổi chiều mưa đầu mùa bao nhiêu kẻ bỗng dưng bị bỏ rơi rồi rả ngũ. Hốt hoảng, căm hận, sợ hãi, người ta chạy tán loạn về thành phố. Những thành phố quê hương yêu dấu thoáng chốc mà ngùn ngụt khói lửa. Súng nổ râm ran ở khắp nơi. Dân chúng bồng bế dắt díu nhau để chạy.

Chạy đi đâu nữa? Có còn nơi nào an toàn để chạy khi mà chính mình cũng đành buông súng với sự ray rứt, xót xa, đớn đau, loay hoay và sợ hãi.

Rồi đến những buổi chiều mưa tháng Tư của những năm tháng kế tiếp. Có bao nhiêu kẻ nằm mê man chờ chết bởi những cơn sốt rét ở trại tù binh xa xôi, heo hút. Trong cái cảm giác rối loạn của một thần trí không còn tỉnh táo, người ta vẫn mơ hồ cảm nhận được cái tâm cảm não nề u uẩn vào những lúc trời chuyển âm u. Người ta vẫn cứ nghe tiếng sấm chớp ngang trời và vẫn cứ thầm mong đó là tiếng súng. Chao ôi ! phải chi mà có những tiếng súng gầm thét vang trời vào những ngày tháng lao tù nghiệt ngã ấy thì dẫu có phải chết, chết ngay tức khắc, chắc chắn cũng có nhiều kẻ cam lòng.

Nhưng người ta đã không chết dù phải chịu đựng hàng trăm thứ đòn thù thâm độc, dù đã trải qua bao nhiêu là cơn sốt thập tử nhất sinh. Con người còn sống được không phải chỉ nhờ vào cái kháng lực mong manh của cơ thể mà còn là nhờ vào cái ý chí khao khát được sống, cái ước mơ có ngày được trở lại thành phố quê hương của mình để nhìn cảnh khói lửa, để nghe súng đạn nổ ròn. Và lần này thì do chính tay họ siết cò…

Cái giấc mơ đó chưa bao giờ đến. Nỗi ước vọng được nghe tiếng súng đại bác nổ vang giữa đêm tù cũng chưa hề xẩy ra trong suốt thời gian người ta bị giam cầm. Vậy mà bao kẻ vẫn cứ mãi trông chờ, ngóng đợi – hoài công !

Trong bao nhiêu đêm khuya, có người chợt thức giấc vì chợt nghe tiếng súng vọng lại từ một nơi xa xôi nào đó. Tiếng nổ mơ hồ, nhỏ bé phát ra từ một nòng súng cá nhân đến khi lọt vào thính giác của một tù binh bỗng bùng vỡ lên trong óc họ như tạc đạn. Tim người ta liền đập hụt đi mấy nhịp, rồi sau đó là những nhịp dồn dập, rộn ràng. Mạch máu da thịt của những người tù căng ra. Mắt người ta mở lớn, trợn trừng trong bóng đêm. Tai vểnh lên như tai của loài thú rừng khi đang rình rập. Họ nằm nín thở, nghe ngóng, chờ đợi đặt hết niềm tin hy vọng vài tiếng súng vừa phát ra. Họ chờ đợi một tiếng nổ kế tiếp, rồi một tiếng nổ kế tiếp nữa. Sau đó là hàng loạt những tiếng nổ xé gió vang trời thì càng tốt.

Rồi họ tưởng tượng thêm, lẫn trong tiếng nổ đều đặn ấy là tiếng nổ ròn tan của những nòng súng cộng đồng. Chưa chết, bằng vào cái ảo giác của những kẻ đã bao năm trông chờ khao khát người ta như nhìn thấy được cả ánh hỏa châu soi sáng đêm tối bao la. Sau đó là bom đạn, phi pháo và nhà cửa, đồn địch cháy sáng một góc trời…

Đã bao nhiêu kẻ ước ao, nếu có phải chết xin cho họ được chết trong bối cảnh khói lửa bom đạn ngất trời như vậy. Không ai có thể đành tâm chết mỏi mòn, khắc khoải giữa những vòng rào thép gai tù ngục. Hận thù không phải là một tình cảm tốt đẹp. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, rửa hận là một điều cần thiết và công bằng.

Suốt những năm dài của đời sống tù binh khắc nghiệt bao người đã nhờ vào sự trông chờ hy vọng để giữ cho mình khỏi bị gục ngã. Niềm hy vọng thỉnh thoảng lóe lên khi họ chợt nghe được tiếng súng nổ; rồi tắt lịm dần trong những giây phút im lặng tàn nhẫn phũ phàng sau đó.

Vậy mà người ta vẫn cứ không thôi trông chờ, mong đợi. Đợi mãi cho đến một lúc, lẫn trong cái tâm trạng mong chờ mòn mỏi người ta bắt gặp trong tâm hồn mình có thêm một thứ tình cảm buồn phiền oán hận. Người ta oán hận những kẻ đang sống ngoài vòng tù ngục. Chắc chắn họ có nhiều đồng ngũ đang sống lẩn quất bên ngoài, có nhiều đồng ngũ khác đang sống tự do ở những phương trời xa xăm nào đó. Rồi người ta cảm thấy chua chát khi biết mình đã bị bỏ quên cho chết dần mòn, khắc khoải trong vòng tay kẻ thù. Có phải rằng chính họ đã bặm môi, cắn chặt răng bắn đến viên đạn cuối cùng để cho cấp chỉ huy, để cho đồng đội có đủ thời gian “di tản!”.

Và rồi người ta quyết định…. phải tìm cách đào thoát. Và nhiều kẻ may mắn đã thoát thân.

Bây giờ là một ngày cuối tháng Tư. Tháng Tư ở một vùng đất thuộc miền ôn đới. Nơi đây bây giờ không phải là những ngày tháng bắt đầu cho mùa mưa. Ở đây bây giờ là mùa Xuân. Mùa  Xuân  xứ người.

Một buổi sáng mùa Xuân ở một nơi an bình và phú túc. Đường phố nhộn nhịp người đi . Những bộ quần áo ngắn, mỏng, lạ mắt và đẹp mắt. Những cặp đùi thon. Những cánh tay trần, hồng, trắng, nõn nà. Những bộ ngực căng đầy nhựa sống. Có kẻ lái xe đi giữa phố phường, hòa nhập với giòng người, với đời sống, vui lây với niềm vui của những người dân bản xứ bao quanh. Mùa Xuân đến với vạn vật với mọi người, kể cả người tị nạn.

Bất chợt có một tiếng còi. Tiếng còi lanh lảnh ghê rợn xoáy vào thính giác. Người ta giật bắn người tắp ngay xe vào lề đường. Có một chiếc xe khác thắng gấp phía sau. Một khuôn mặt đỏ gay vì giận dữ quay lại nguýt nhìn, lầu bầu chửi rủa. Người ta không quan tâm đến điều đó. Người ta chỉ muốn ngoái người lại nhìn xem chuyện gì đã xẩy ra?

Không có gì cả. Tiếng còi chỉ do một người vừa thổi để chận đứng giòng xe đang xuôi ngược cho những đứa bé được an toàn băng qua đường đến trường học. Chỉ có vậy thôi ! Người ta thở phào nhẹ nhỏm, rút khăn lau mồ hôi trán. Đúng là không có gì xẩy ra. Tiếng còi lanh lảnh ở đây không còn biểu tượng cho sự bắt bớ, khủng bố, giam cầm đầy ải nữa. Mọi người vẫn sinh hoạt bình thường. Ở đây mọi-chuyện-đều-luôn-luôn-rất-bình-thường.

Bây giờ là một ngày cuối tháng Tư. Một buổi chiều Xuân. Trời xanh cao, mây trắng nõn, nắng hanh vàng. Có kẻ đứng trước sân nhà, mải mê nhìn những con bướm trắng tung tăng trên thảm cỏ xanh, những con ong bầu bỉnh lượn vòng quanh những khóm hoa… và chợt người ta nghe tiếng súng. Tiếng súng nổ gần. Người ta lại giật thót người. Ly rượu trên tay sóng sánh. Vài giọt tràn ra tay. Điếu thuốc đang hút dở dang tắt ngấm. Những con chim sâu nhỏ bé đang lẩn quẩn, an bình trên những cành mai hồng thắm vụt cánh bay. Người ta không thấy sợ hãi nhưng chợt cau mày với cái cảm giác bực dọc khó chịu. Không có thêm một tiếng súng nào tiếp theo đó. Không gian, khung cảnh trở lại yên tỉnh, an bình.

Chỉ có tâm hồn người ta là không an bình nữa. Mặt người ta chợt đỏ lên dù ly rượu trên tay chưa kịp uống. Người ta vừa trực nhận một cái cảm giác hổ thẹn. Tại sao lại bực dọc và khó chịu nhỉ? Có phải vì tiếng súng đã làm hỏng mất một buổi chiều Xuân êm đềm và thi vị không?

Vậy mà đã có lúc người ta thiết tha mong nhớ một tiếng súng. Một loạt những tiếng súng thì càng tốt ! Mới ngày nào tiếng súng nổ còn là dấu hiệu cho sự bạo động quật khởi, báo thù rửa hận. Bây giờ ở một nơi an bình, tiếng súng chỉ còn là khẩu hiệu cho sự bất an và lâm nguy !

Bây giờ là một ngày cuối tháng Tư. Một đêm tháng Tư xứ lạ. Có kẻ buổi chiều quá chén, nửa đêm thức giấc không biết mình đang nằm ở đâu !? Có tiếng máy sưởi tự động giảm nhiệt độ . Sự đàn hồi của kim loại phát ra những tiếng kêu tí tách. Trong cái cảm giác ngái ngủ người ta tưởng như mình đang nghe tiếng mưa rơi.

Tiếng mưa rơi trên mái tôn của một căn nhà trong một con hẻm lầy lội, “hắt hiu vàng ánh điện câu”. Đã bao đêm mưa người ta được bao che để sống chui nhủi dưới một mái nhà tôn như vậy. Đã bao đêm người ta thức giấc nằm nghe tiếng thằn lằn tắc lưỡi, tiếng ú ớ của những đứa em thơ nói trong mơ, tiếng động lục đục của những người mẹ già tảo tần lo lắng cho gánh hàng rong bán vào sáng sớm, tiếng xe xích lô nổ ròn đầu xóm. Và đôi khi tiếng ru con ầu ơ buồn não ruột của một người đàn bà hàng xóm.

Chiếc máy sưởi nguội dần, những tiếng kêu tí tách của kim loại đàn hồi từ từ nhỏ lại. Người ta lại nghe như là tiếng mưa rơi trên những mái tranh. Những mái tranh trống lốc, gió thổi tứ bề của trại tù Suối Máu, Cà Tum. Những mái nhà tranh của trại Minh Rồng, Đại Bình, Đại Lộc… người ta đã thức giấc bao nhiêu lần ở những trại tù heo hút đó để nghe tiếng mưa rơi, để chờ mong một tiếng súng vọng về từ rừng thẳm.

Đêm nay ở phương trời xa xăm cũ biết trời có mưa không?

Đêm nay trong vòng rào tù ngục có bao nhiêu kẻ (chợt) thức giấc giữa đêm trường nằm mong chờ khắc khoải trong đói lạnh một tiếng súng mơ hồ?

Và đêm nay – ở nơi đây – ai có bạc đầu không?

Tưởng Năng Tiến
Tháng Tư 1983.



15/03/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vĩnh Biệt Sơn Nam


Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

(Câu hò miền Nam, VN)

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…


Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dông giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! — Ảnh: tuoitre.com.vn

“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Copyright @ DCV online 2006


(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Tưởng Năng Tiến
5/2006

01/02/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sơn Nam và Rừng U Minh

Mới đây, khi về lại Việt Nam, giáo sư Nguyễn Văn Lục ghé thăm giáo sư Lý Chánh Trung. Ông có nhận xét như sau về người bạn đồng nghiệp cũ:

“… sau 1975 … có mấy mấy nhà văn, nhà báo trong Nam được cầm bút lại như Lý Chánh Trung. Con số đếm chưa hết một bàn tay… Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay”

Tôi có ngồi học với giáo sư Lý Chánh Trung đâu chừng… nửa giờ, ở trường Văn Khoa Đà Lạt. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Tôi không dám bàn luận lôi thôi gì (thêm) về một người thầy học cũ của mình.

Tuy thế, không hiểu sao, nhận xét vừa nêu của giáo sư Nguyễn Văn Lục lại khiến tôi nhớ đến nhà văn Sơn Nam. Ông là một trong những người may mắn hiếm hoi của miền Nam (trong “con số đếm chưa hết một bàn tay”) vẫn được phép cầm viết, sau khi vùng đất này đã được hoàn toàn… giải phóng! Ông cũng là một trong những nhà văn mà tôi thích đọc.

Tác phẩm (có lẽ) đắc ý nhất của Sơn Nam là cuốn Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Tác giả kể lại chuyện một người dân ở U Minh Hạ, đặt mua báo dài hạn nhưng không trả tiền nên nhà báo phải cử người đi đòi nợ. Xin trích vài đoạn đọc chơi – cho đỡ ghiền – bảo đảm là không dở:

– Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?

Thầy xã trưởng đáp:

– Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Để tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó lên công sở…

Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình:

– Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quí vị độc giả thân mến gần xa.

Thầy xã hỏi:

-Phái viên là gì vậy thầy?

– Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thu tiền.”

(Sơn Nam. “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Hương Rừng Cà Mau, tr. 99).(1)

Nhân vật chính trong truyện, ông Trần Văn Có, theo như lời dân cùng xóm, là một người độc thân, làm nghề giăng câu, nuôi heo, lấy tổ ong, và hơi có máu ba hoa trời biển: “Anh ta công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang Sa gởi xuống công sở; đi ăn giỗ thì nói chuyện Hít-le, chuyện nước Ý đánh nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện Tầu…”

Nghe nói vậy nhưng không phải vậy đâu. Khi phái viên báo Chim Trời giáp mặt độc giả Trần Văn Có, tại nơi cư trú của ông, cuộc hội kiến – rõ ràng – rất là đàng hoàng và (vô cùng) thắm thiết:

“Buổi cơm chiều ngon lành làm sao! Ăn cá lóc nướng trui, uống rượu… Tư Có kèm thầy phái viên ở lại ngủ một đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy trở lại công sở mà đón tàu đi. Thếp đèn dầu cá kéo thêm một tim thứ nhì nữa, cháy khá sáng. Bếp un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ rõ từng sợi khói mịn màng như mành lưới tơ giăng bủa khắp căn chòi nhỏ hẹp.

Tư Có bỏ mùng xuống, chun vơ tấn ba phía rồi mời:

– Thầy Hai vơ trong này ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngồi muỗi cắn. Khói như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh trong thếp đèn dầu cá đó.

Ngượng nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí mùng, chui lẹ vào ngồi kế bên:

– Xứ gì lạ quá! Anh Tư ở đây hồi sanh bịnh chết.

Tư Có đáp:

– Xứ Cà Bây Ngọp, tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học.

Thầy phái viên trố mắt:

– Vậy à? Còn mấy làng khác?

– Ðông Thái, Ðông Hồ, Ðông Hưng, Vân Khánh Ðông… không làng nào có trường hết. Thầy nghĩ coi…

– Hèn chi miệt này chỉ một mình anh Tư là độc giả báo Chim Trời của chúng tôi… Báo có thích hợp không anh Tư?

– Làm báo thì cần nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên? Tiếc là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó, ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, từ cứ. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?

Thầy phái viên cười:

– Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách toòng teng bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.

Tư Có nói:

– Chắc là thầy muốn nói bài “chốn quê hương đẹp hơn cả” chớ gì?

Rồi chú đọc một hơi:

– Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy…

– Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá… Người du lịch mới trả lời: ở chốn quê hương… từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan… Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.

– Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ… Không, chăn trâu sướng lắm chứ.

Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:

– Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ…

Không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim…

Giọng Tư Có nói nhỏ:

– Ngủ chưa, thầy phái viên?

– Ngủ chưa anh Tư?

– Chưa!

– Tơi nãy giờ cũng vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà không thấy mệt.

Im lặng một hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một tiếng thở dài:

– Biết lấy gì làm sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt tình nghe coi… Chắc thầy tới đây thâu tiền.

– Ðâu có! Ðâu có! Mình là bạn đời với nhau…

– Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong… nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi “đăng” là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ.

– Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tín không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hồi hồi cho tới số chót.
Chú Tư Có vô cùng cảm động…”

(sđd 111-116).

Tôi đọc truyện ngắn “Tình Nghĩa Gíao Khoa Thư” khi còn ở tuổi đôi mươi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nhiều lý. Tôi và bè bạn vẫn tâm nguyện rằng, sau cuộc chiến, thế hệ của mình sẽ cố góp hết sức để dựng xây những phần đất quê hương (bị lãng quên) như vùng U Minh Hạ.

Hòa bình, tiếc thay, đã không mang lại cuộc sống an bình như mọi người mong muốn. Không những thế, nó còn khiến cho hàng triệu kẻ đã phải liều mạng rời bỏ quê hương, để mưu cầu một cuộc sống khả kham hơn – nơi đất lạ quê người.

Tôi là một trong những kẻ đã (đành đoạn) bỏ đi như thế. Vài chục năm sau, khi tóc đã điểm sương, ở một góc trời xa, tình cờ đọc được bài báo (“Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ” của phóng viên Hoàng Trí Dũng) mà không khỏi băn khoăn nhớ về chốn cũ:

“Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tơi bị “sốc” như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…”

“Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.”

“Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện. ..”

“Ông chủ nhà Nguyễn Trung Liệt – một lão nông có uy tín trong vùng – vào chuyện: “Trên 60 tuổi rồi, hơn chục năm, ba thế hệ với hơn 30 người sinh ra và lớn lên tại khu rừng này, nhưng ngặt một nỗi nhà tui không ai có được tấm hộ khẩu, cũng chẳng hề có giấy chứng minh nhân dân. Người lớn còn đỡ chứ tội nghiệp sắp nhỏ, năm đứa cháu nội ngoại ra đời trong ruột rừng này hiện tại đều thất học như ông cha nó…
Chú Ba Vinh thì kêu: “Cả trăm gia đình bà con ở đây khổ lắm, không thua gì thời kỳ Pháp thuộc…

Chú Ba Vinh (nào đó) tuổi đời – ngó bộ – còn hơi ít nên không biết rõ cảnh sống của dân chúng ở U Minh Hạ vào thời Pháp thuộc. Chớ hồi đó, cứ theo như lời kể của ông già Nam Bộ Sơn Nam, nơi đây đã có người đặt mua dài hạn báo Chim Trời ở tận Sài Gòn, có kẻ giữa bữa giỗ (dám) bàn chuyện quốc sự và lớn tiếng chê bai tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang sa…

Những chuyện (tầm ruồng) cỡ đó, không tìm thấy trong bài phóng sự “Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ”. Cũng không nghe phóng viên báo Tuổi Trẻ kể lại chuyện ăn nhậu lai rai mấy con cá lóc nướng trui với người dân địa phương, và dùng chung với họ một bữa cơm chiều (“ngon làm sao”) như đặc phái viên của báo Chim Trời – hồi thời xa xưa cũ. Chuyện người ta ăn ở cư xử tử tế với nhau, theo kiểu “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”, tất nhiên, cũng miễn có luôn.

Ở U Minh Hạ bây giờ, theo như nguyên văn tường thuật nhà báo Hoàng Trí Dũng:“ 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất.” Có chăng chỉ là tiếng kêu gào ai oán, của những người dân khốn cùng và uất hận, vì bị cướp bóc trắng trợn mà thôi.

Sơn Nam, tiếc thay, đã không còn nghe được những tiếng kêu thương vô vọng như thế từ nơi sinh trưởng của ông – U Minh Hạ. Dường như, nhà văn của chúng ta không còn quan tâm và thiết tha gì đến phần đất này nữa, sau khi… cách mạng đã thành công!

“Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay.”

Lời nhận xét (vừa dẫn) của giáo sư Nguyễn Văn Lục, về giáo sư Lý Chánh Trung – chả hiểu sao – lại cứ khiến tôi trạnh lòng nhớ đến Sơn Nam, một nhà văn mà mình mến mộ vào lúc thiếu thời. Chúng tôi sẽ trở lại với Sơn Nam và nỗi lòng U Minh Hạ, trong một bài viết khác, cũng trên diễn đàn này.

Tưởng Năng Tiến

5/2006


(1) Sách được in lại (và in “lậu”) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.

01/02/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sếu Đầu Đỏ (Bắt Trẻ Đồng Xanh)

Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ cố hương.
(Sơn Nam)

Chú Horwitz à, có khi nào chú đi ngang cái hồ ở Central Park không vậy?

– Cái gì?

-Cái vũng nước bự thiệt bự, coi giống như cái hồ nhỏ đó mà. Không biết mấy con vịt rồi tụi nó đi đâu há?

– Vịt gì cà?

– Thì bầy vịt hay bơi lòng vòng trong đó chớ vịt gì? Mùa Xuân không nói làm chi chớ còn mùa Ðông kẹt dữ à nha? Lạnh ngắt như vậy sống gì nổi? Rồi tụi nó bỏ đi đâu ta?

– Mà cái gì bỏ đi đâu mới được chớ?

– Trời đất, mấy con vịt chớ cái gì. Ý tui muốn nói là có thằng cha nào mang xe chở tụi nó đi chỗ khác không? Hay tụi nó bay ênh về phía Nam vậy thôi?

Ông Horwitz quay người lại nhìn tui chằm chằm. Chả nóng tính dễ sợ:

– Ai mà biết. Làm sao tao biết được mấy cái chuyện mẹ rượt đó?

Chắc tui đã nói cái gì đó mích lòng ổng:

– Thì tui cũng hỏi chơi vậy thôi chớ có gì đâu mà chú nổi nóng..

– Ai nổi nóng? Có ai nổi nóng gì đâu?

Mẫu đối thoại đại khái như trên, tôi đọc trong cuốn The Catcher in the Rye của J.D. Salinger- cách đây chừng ba mươi năm. Thuở ấy, tôi còn sống ở Ðà Lạt. Nơi đây, chắc nhiều thành phố khác ở Việt Nam cũng vậy, chim chóc không có mấy. Quanh quẩn trong tuổi thơ của tôi chỉ có vài loại chim quen thuộc: se sẻ, bồ câu, chàng làng, chào mào, én, quạ, và – thỉnh thoảng – mới thấy thấp thoáng có vài đôi chim di, chim cu hay chim sáo.

Gà vịt thì thường chỉ thấy ở trên…bàn, khi mà chúng đã trở thành thực phẩm. Thảng hoặc, mới thấy một hai đôi ngỗng hay dăm bẩy con ngan cùng với gà vịt nuôi quanh quẩn trong sân – nếu có dịp đi ra ngoại ô thành phố. Và những dịp đó không nhiều.

Nói hơi quá một chút thì những ngày niên thiếu của tôi có phần hơi héo úa. Ðêm nào thành phố cũng giới nghiêm. Khuya nào tôi cũng nghe tiếng súng, đôi khi cùng với tiếng bom, từ những thôn ấp rất gần thành phố. Còn chuyện giật mìn, đắp mô những con đường dẫn ra ngoại ô hay liên tỉnh – đôi lúc – vẫn xẩy ra.

Bởi vậy khi thời thơ ấu đã qua đi, khi hồ Xuân Hương và những đồi thông quanh Ðà Lạt bắt đầu nhỏ lại, tôi thu hẹp những ngày vừa lớn của mình trong những quán cà phê quen thuộc của thành phố: Tùng, Phi Nhạn, Kiwini…Và đó là lý do tại sao hình ảnh của loài di điểu – những con vịt hay con ngỗng tầm thường vẫn sống quanh quẩn trong một công viên nào đó ở New York, đã có cơ hội vượt hàng ngàn dặm đường dài mỗi năm, đến những chân trời xa xăm …- đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu xa.

Ba mươi năm sau, có hôm, tôi đọc được một đoạn văn khác nữa về loài di điểu:”Ngỗng Gia Nã Ðại sinh nở tại những đầm những hồ ven các đồng lúa bát ngát miền Alberta và Saskatchewan, mùa thu rủ nhau cả ngàn bay về miền nam trốn cái lạnh khắc nghiệt… Nhưng không quên gốc nguồn, xuân tới chúng lại tập hợp thành đàn và qui cố hương. Cái ấm áp của miền Nam không thể cướp được luôn đàn ngỗng có tình. Ðiều kiện sinh sống chỉ cần bớt khắc nghiệt đôi chút là ngỗng lại bay về cố hương.” (Mai Kim Ngọc, “Câu Chuyện Bảo Tồn Văn Hóa,” Văn Học, tháng 10, 97).

Bây giờ thì tôi cũng đã xa Việt Nam không phải hàng ngàn mà là hàng vạn dặm. Nơi tôi tạm trú, khi thời tiết bắt đầu trở lạnh, mỗi ngày vẫn có cả ngàn con ngỗng xuôi Nam – làm vang vọng cả bầu trời mùa Ðông xám đục bằng những tiếng kêu buồn buồn thê thiết.

Cũng qua bài báo đã dẫn, nhà văn Mai Kim Ngọc còn đề cập đến một hiện tượng kỳ bí và ngoạn mục hơn nữa của thiên nhiên:” Ðó là chuyện bướm, một loại bướm nổi danh, cũng của Gia Nã Ðại. Tên bướm là Monarch Butterfly, tạm dịch là Vương Ðiệp. Mỗi mùa thu, bướm tụ họp hàng triêu con tại những nội cỏ miền Tây Gia Nã Ðại, nhởn nhơ vài ngày với những bông hoa dại cuối mùa, rồi theo một hiệu lệnh bí mật chỉ loài bướm biết, chúng đồng loạt cất cánh xuôi Nam. Mảnh dẻ thế mà chúng bay xấp xỉ ba ngàn cây số, dọc hết Hoa Kỳ, băng qua Trung Mỹ để xuống tận Nam Mỹ. Xuân tới, chúng lại tập họp cùng nhau bay trở lại Gia Nã Ðại. Trên dường hồi hương, chúng dừng lại nhiều trạm, mỗi trạm khá lâu, đủ để cặp đôi và đẻ trứng. Ðời bướm ngắn hạn, những con bướm khởi hành mùa thu năm trước từ Gia nã Ðại sẽ chết trên đường về, và không bao giờ được thấy lại cố hương. “

“Nhưng từ mớ trứng đẻ tại những đồng cỏ dọc đường, hoặc dưới Mễ Tây Cơ hoặc tại Mỹ, những con sâu róm nở ra, tham ăn chóng lớn như tầm ăn rỗi. Trưởng thành chúng dệt kén chui vào để biến thành nhộng. Ðủ ngày, nhộng thành bướm, cắn kén chui ra. Ðàn bướm hậu sinh mới nở tại những vùng đất gọi là tạm dung, vừa kịp cứng cáp đã họp nhau lại để bay tiếp chuyến bay qui cố hương mà cha mẹ đã bỏ dở. Chúng bay về một gốc nguồn không phải sinh quán. Chúng bay về một nguyên quán chúng chưa từng thấy. Thường thường phải ba bốn thế hệ nối tiếp, bướm với hoàn tất lộ trình hồi hương.” Theo tác giả, đó là “một vòng kín của sự sống. Vòng kín này bản chất liên tục, vô thủy vô chung.

Ðã lâu, tôi tình cờ đọc được một mẩu tin ngắn trên báo Nhân Dân – số ra ngày 3 tháng 10 năm 99, phát hành tại Hà Nội – như sau: “130 Chim Sếu Ðầu Ðỏ Về Khu Bảo Tồn Tràm Chim (Ðồng Tháp). Năm nay, thời gian chim sếu về khu bảo tồn Tràm Chim cũng giống như năm trước, nhưng số lượng chim sếu đã giảm đi một nửa. Nguyên nhân sự giảm sút trên chưa được xác định. Ðược biết, năm 1998 vào thời cao điểm có tới 510 chim sếu đầu đỏ đã về Tràm Chim.”

Cũng báo Nhân Dân, đúng mười ba tháng sau, số ra ngày 10 tháng 04 năm 2000, tiếp tục và thản nhiên loan tin: “Theo Ban Quản lý Vườn Quốc gia Tràm Chim, đến đầu tháng 4 năm 2000, đã có khoảng 300 con sếu đầu đỏ về kiếm ăn…, so với năm 1999 giảm 100 con

Tôi mường tượng đến hình ảnh của những đàn sếu đỏ đầu lượn vòng ngập ngừng đôi ba lần trên một vùng đất hoang vu rồi vỗ cánh …bay luôn mà thấy não lòng. Chúng đã quyết định không trở lại nơi chốn cũ. Những con sếu mỏng mảnh bất hạnh rồi sẽ tiếp tục xoải cánh đến tận đâu? Sang năm nữa, còn được bao nhiêu con chim sếu sẽ về Ðồng Tháp? Bao nhiêu con khác nữa sẽ rã cánh ở những chân trời vô định? Và bao lâu nữa thì quê hương tôi sẽ trở thành một nơi hoàn toàn hoang vắng vì không sinh vật nào có thể sống được ở Việt Nam?

Khi cái vòng sống liên tục vô thủy vô chung đó có một mắt xích bị hỏng, khi môi trường sinh thái ở một nơi nào đó bị mất quân bằng, có bao nhiêu sinh vật sẽ bị ảnh hưởng và bị ảnh hưởng tận cùng rốt ráo ra sao? Sự hiểu biết quá hạn chế của tôi về sinh vật học khiến cho những câu hỏi trên chỉ làm dài thêm cho những đêm khó ngủ.

Là con người tôi cũng chỉ là một sinh vật tầm thường nhỏ bé như con chim, con bướm. Có thể tôi cũng được thiên nhiên qui định làm tròn một cái vòng sống vĩ đại nào đó nhưng đã không chu toàn được điều này. Kiếp sống của tôi, không may, nằm trong một cái mắt xích bị hở .

Mùa Hè năm nay khí hậu ở California có vẻ bất thường, có nhiều đêm không dưng mà trời trở gió, lấm tấm mưa và bỗng se se lạnh. Hen suyễn khiến tôi thức giấc. Nằm thoi thóp thở ở một góc trời xa lạ, tôi bỗng nhớ đến những con sếu đỏ đầu đã thôi về Ðồng Tháp mà không dưng chợt thấy thương cho kiếp sống lao đao của những sinh vật kém may mắn hơn mình. Tôi cũng đã quyết định không về và vẫn còn một nơi để ở. Những con sếu đầu đỏ ở quê hương tôi bây giờ (chả hiểu) sẽ ra sao?

Tưởng Năng Tiến

28/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ðêm Cao Miên


Ðường đời muôn vạn nẻo
Ðâu nẻo về quê hương?

(Giao Chỉ)

Lời thưa đầu: cách đây đúng 13 năm, vào tháng 7 năm 88, người viết theo chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giưã vùng biên giới Thái – Miên. Mới đây, vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là Võ Hoàng) đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã «hy sinh» nhưng «vì hoàn cảnh» họ đã «không thể thông báo sớm hơn»! Bút ký ngắn ngủi này xin được phổ biến như một nén hương lòng (muộn màng) để gửi đến những người đã khuất. tnt

Khi chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng hạn này lạI là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.

Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của “mìn hộp gỗ” – một loại mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.

Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là “sân banh cộng sản”. Lý do: người ta ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất cũng phải có vài trăm cặp giò của “cầu thủ bộ đội” phải để lại nơi đây. Ðó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửI thấy ngay mùi tử khí.

Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít… Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị P.T.T.T. :”… vườn ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt nước…”

Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây ăn trái, với “những mương tôm đầy tăm mặt nước… – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không ?

Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Ðiều “kỳ diệu” là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer Ðỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc – tương phản với nhau rõ rệt.

Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Sô.

Thêm vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự “không thể nào tin nổi” của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà Hà Nội và Khmer Ðỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau đôi ba lần trong một ngày. Ðiểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Ðỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển hình.

Ðơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân quay lại nói nhỏ:

– Ðây là bộ chhỉ huy tiền phương của sư đoàn… thuộc lực lượng Para (Son Sann).

Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.

Ðọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:

– Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.

Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là trông vô cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có vỏ.

Ðể che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt “tỉnh như ruồi” cùng với thái độ “ai tới đâu tui tới đó” và “muốn tới đâu thì tới”. Hiện tại thì tôi đã “tới” Cao Miên và đây còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa ? Tôi vẫn giữ lập trường “ai tới đâu tui tới đó” nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng…

Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với hai kháng chiến quân Kampuchea có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:

– Ðêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.

Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắn chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.

Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột
miệng nói sung sướng như reo:

– Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.

Ðất Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện “bên chùa có chợ” được kìa ? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ “nước đá”. Tôi ngắm kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu lảng xẹc:

– Em sinh năm mấy ?

– 68.

– Như vậy là em vư;øa đúng hai mươi há ?

– Dạ, tháng tớ;i anh.

Em trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà ? Nó mới vừa còn loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai mươi năm trước.

Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như thế này ? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha. Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.

Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu vơ. Ði loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.

Bắt đầu là sân chùa lát đá với cái được gọi là “chợ trời” nằm chình ình trên đó. Thực tại vốn phong phú, da dạng và … lộn xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giớI hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ “chợ”, chỉ thêm được chữ “trời”, để mô tả một cách gắng gượng về cảnh ‘thị tứ’ nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và…chấm hết!

Câu “trăm người bán vạn người mua” xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ mini màtôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên. Tôi đếm được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng phần “tham quan” hơn là có ý định mua bán thật.

Sự xuất hiện bất ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá…đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.

Sau khi biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai “lemonade” với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:

– Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.

– Mắc là bao nhiêu ?

Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:

– Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai “baht” lận. Mắc gấp đôi bên kia.

Mười hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền “tical” mà chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em…tắm bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:

– Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.

– Ðể em xin phép đã.

Tôi chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tấ cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình. Hiểu như thế nên tôi nói vội:

– Ðể anh xin phép chho.

Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.

Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi già, một ông sư Cao Miên cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.

Bên cạnh ông là hai vị sãi con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã phát ngôn rằng “cửa thiền luôn rộng mở”.

Khi đi qua mặt ba vị sãi hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán, theo đúng như tập tục chào hỏi của người…Thái. Tôi không tin là người Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc làm theo y như mọi người cho nó…chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.

Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện “xâm nhập chùa chiền” khi bước vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã xập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây rậm rạp lạI có một ngôi chùa.

Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?

Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:

– Hồi 85 tụi nó mangg tăng vô tới tận đây đó anh.

– T 54 hả ?

– Dạ.

– Thứ này tôi có biết. Ðại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu. Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.

– Tụi nó pháo mà.

– Em nói ai ? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng ?

– Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.

Tôi gật đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao giờ thấy “vững lắm” kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.

– Ông vô trong này lễ Phật không ?

Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.

Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng … ái ngại. Vì nóc chùa đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang liêu cô tịch nơi đây tôi nghe rõ có tiếng …muỗi vo ve! Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản chuối… khiến Phật thêm buồn. Ðến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!

Chu đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được giải thích liền:

– Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.

Sự thực thì anh bạn không chỉ “tỏ ra” mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần… luôn luôn phải ở rất gần.

Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.

Ðược miễn gác nên tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Ðêm nhiệt đới dường như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.

Nếu có dịp làm cố vấn cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Ðỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực lượng Khmer Ðỏ đang cố tạo một bộ mặt “hiền hậu” và “dễ mến”, bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa – cho nó chắn ăn.

Còn muỗi mòng ở Kampuchea thì có thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Ðã vậy, trong lúc ngủ tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay…

Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ, tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lạI nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng “trời đất ơi” đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng nói của Thạch T.

Trong số những kháng chiến quân Khrom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, “những chuyện tình không may”, và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù giọng nói của Thạch T. có “accent”, tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.

Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:

– Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.

Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:

– Muỗi quá há!

Rõ ràng là không ai quan tâm đến chuyện “vu vơ” đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười thích thú nói:

– Em nói anh từ Mỹ tới đây.

Giọng Thạch T. hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ… một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu từng người:

– Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.

– Chào em.

Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:

– Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ thức thì.

Người thứ hai vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không ? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:

– Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.

Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim “The Killing Field” bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và…bóp cò cái bộp!

Tôi mở mắt thật lớn nhìn, thoáng một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và ngây thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà răng em trắng qúa, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn “âm thầm” gửi đến em một lời xin lỗi.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng…rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này hay phe nọ để cầm súng giết nhau.

Tình trạng ở quê hương tôi cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải, là Quốc…những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giớI thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi các em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn “không” là bộ đội.

Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:

– Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không ?

– Không.

Vậy chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả “đại diện” của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Ðỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía Heng Samrin trước:

– Em ở với Hengg Samrin bao lâu rồi ?

– Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.

– Sao bỏ đi ?

– Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là “tay sai” của Việt Nam mà.

– Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa ?

– Cực lắm, chịu không nổi.

– Rồi hai em có tínnh ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?

– Không, bên Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.

– Mấy em tính đi Mỹ hả ?

– Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.

– Vậy vô đó làm chi ?

– Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.

– Mấy em có biết là Việt Cộng đã rút quân không ?

– Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.

– Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không ?

– Làm sao biết được nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.

– Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không ?

– Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.

– Sao Khmer Ðỏ lại đánh giặc giỏi như vậy ?

– Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.

– Nếu bây giờ; được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?

– Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.

– Lấy vợ nữa chớ ?

– Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.

– Còn không về được thì sao ?

– Cũng chưa biết tính sao nữa ?

Tôi cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến tàn dần.
Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi người trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:

– Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi “hóc” lắm chứ không phải chơi đâu.

Ngọn nến tắt hẳn. Ðêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Ðỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:

– Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.

Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng “tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.” Lẫn trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.

Tưởng Năng Tiến

27/01/2010 Posted by | Tùy bút | %(count) bình luận

Ðường Vào Ðất Thái


Tôi ra phi trường Los Angeles để đi Thái Lan với một bộ quần áo xám nhatï mặc trên người và một cái va li Samsonite nhỏ xách ở tay. Nếu cuộc đời là một cuộc khiêu vũ giả trang và chúng ta, đôi lúc, vẫn phải “giả dạng” chút đỉnh vì lý do này hay lý do khác  thì  tôi là một thằng hoá trang quá tệ! Trông tôi vừa trịnh trọng, vừa lố bịch – cũng lố bịch và trịnh trọng như thái độ của tôi suốt chuyến đi, và như …tựa đề của cái bài viết luộm thuộm tả này.

Trước đó, cũng đã có một hai lần vì chuyện áo cơm nhiều người đã ân cần khuyên nhủ tôi
nên khoác một bộ đồ lớn vào người khi đi xin việc. Chiều đời, và chiều người tôi đã làm như thế nhưng chỉ được độ vài phút là tôi đã cởi vội nó ra (vứt ngay vào một xó) với ý nghĩ rằng không có việïc làm thì thôi chứ chả tội gì mà phải đóng khung khổ sở như thế – dù chỉ là giả vờ đóng khung chỉ độ nửa ngày.

Tôi còn tin chắc chắn rằng điều cản trở lớn lao nhất cho chuyện tình duyên gia đạo của tôi không phải chỉ vì tôi luôn luôn rỗng túi mà còn vì số tử vi của mình “không có cung mặc đồ lớn”. Ít nhất thì cũng đã có một lần, tôi và một người con gái hăng hái bàn tính chuyện hôn nhân. Chúng tôi đã đi xa đến độ nghĩ đến bạn bè ai sẽ là phù dâu, ai sẽ là phù rể; hôn lễ sẽ cử hành ở chùa hay ở nhà thờ… Nhất nhất tôi đều chiều theo ý của nàng. Mọi chuyện ổn thoả tới cỡ mà tôi có cảm tưởng như là chỉ vài phút nữa thôi, chúng tôi có thể “động phòng hoa chúc” – ngay tại băng sau trong cái xe cà khổ của tôi thì nàng bỗng nhắc đến bộ complet mà tôi phải mặc vào ngày cưới, và điều này đã khiến tôi rẫy nẩy lên y như đỉa phải vôi… Chuyện tình thắm thiết của chúng tôi, tất nhiên, trở thành thảm thiết ngay sau đó.

Chúng ta đang sống trong một thời đại và một thế giới mà thỉnh thoảng vẫn còn sót lại vài ba cô gái chịu lấy chồng chỉ vì tình yêu nhưng chắn chắn không cô dâu nào (cùng ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, em út… của nàng) chấp nhận một chú rể mặc quần jean và áo pull over trong ngày cưới.

Tôi cứ khăng khăng đứng về phía những kẻ không được cuộc đời chấp nhân như thế, nhất
định không chịu làm hoà với cuộc đời thổ tả này và tin tưởng rằng mình cứ… bảnh như thế mãi. Tôi lầm, Giời ạ!

Ngày hôm ấy, trong restroom của phi trường Los Angeles, tôi nhìn vào gương và bắt gặp
rõ ràng mình đang mặc complet. Má ơi – tôi chết được vì ngượng, vì buồn và vì thất  vọng về mình. Tôi bẽn lẽn mỉm cười, cùng với ý nghĩ an ủi gượng gạo là tôi mặc veston coi … cũng được – ít nhất thì cũng đuợc hơn cả đống thằng, dù quên để ý coi đó là những thằng nào!

Coi, rõ ràng là tôi giả dối và lường gạt cả chính mình. Vấn đề thực sự không phải là tôi
mặc đồ lớn coi có được hay không mà là tại sao tôi phải làm như thế chứ?   Bộ Thái Lan là chỗ dữ dằn hung bạo tới cỡ mà khi tới đó người ta phải giả dạng hoá trang cho ra vẻ đàng hoàng lịch sự nếu không thì mất mạng hay sao? Nếu đúng như vậy thì tôi có lý do để tha thứ cho một lần lầm lỡ của mình, và để biện minh cho cái tựa đề (nghe rất có vẻ tiểu thuyết đường rừng) là Ðường Vào Ðất Thái này. Sự thực, tiếc thay, không hoàn toàn như vậy. Nó kỳ cục hơn nhiều.

Nói tình ngay thì người Việt chưa có ai mang tiền đến Thái Lan để dầu tư, cũng không
mấy ai đến đây như du khách. Dân tộc Việt không giàu và cũng không có cái diễm phúc đó. Tùy theo thời  gian, không gian (nghĩa là điểm khởi hành) mà người Việt tìm đến Thái Lan một cách gian nan và phiền toái khác nhau. Có lẽ vì vậy mà nguời Thái chưa bao giờ tiếp đón người Việt ghé qua nước họ một cách vui vẻ, đàng hoàng và tử tế.

Dù không có mặt trong đoàn tùy tùng của vua Gia Long, khi  ông chạy dạt vào Thái Lan
năm 1783, tôi vẫn tin chắc chắn rằng vị tiên vương của triều Nguyễn đã không hề được hoàng gia Thái tiếp đón bằng nghi lễ dành cho quốc khách.  Một trăm sáu mươi mốt năm sau, năm 1954, thêm một mớ người Việt tị nạn cộng sản chạy đến Thái Lan. Ðám người này cũng không có uy thế gì hơn vua chúa của mình để có thể được niềm nở đón chào.

Sau cái biến động nghiệt ngã 1975 thì “cả nước Việt Nam” ào ạt nhào qua nước Thái để
xin tị nạn. Tôi theo chân đợt người Việt đông đảo này đến Thái, lần đầu, vào năm 1980.

Tôi đến Thái Lan tả tơi, ủ dột như một cái mền bông ngấm nước. Ðây là một chuyến đi ê chề và buồn thảm… Sự  dã man, hung bạo của người Thái đối với dân tộc Việt đã khiến cho nhân loại phải chau mày ái ngại.

Tám năm sau, từ Hoa Kỳ, tôi trở lại Thái Lan.  Tôi đi tìm một người bạn đã tham gia vào
những hoạt động của một tổ chức chính trị hải ngoại và bị coi như là thất tung ở vùng tam biên Thái – Miên – Lào. Chỉ có thế thôi mà đã khiến cho tôi lo lắng đủ thứ trước lúc khởi hành. Và chỉ cần nghe một người xúi dại là nên mặc veston khi vào đất Thái (cho nó có vẻ là du khách) là tôi nghe lời ngay tức khắc.

Tôi sẽ xấu hổ về chuyện này cho tới chết. Chứ cái gì đã khiến cho những kẻ sinh sống lâu
năm ở hải ngoại như tôi trở nên bi quan và nhút nhát đến thế. Cùng là đường vào đất  Thái mà sao khi khởi hành từ Việt Nam thì người Việt lại lạc quan và can trường thế?  Họ ào ạt ra đi bằng mọi giá, bất chấp mọi hiểm nguy, không đếm xỉa gì đến cả một đại dương bao la hãi hùng trước mặt. Lúc đi hăm hở quyết liệt bao nhiêu thì khi trở lại rụt rè e ngại bấy nhiêu!

Chính thái độ này của tập thể người Việt hải ngoại đã biến Thái Lan thành một vùng đất
huyền thoại, một căn nhà …có ma – nơi mà “kháng chiến” hay “phục quốc” gì đó chỉ là chuyện riêng của vài nhúm người. Tất nhiên, họ không làm được việc. Và họ bị qui trách nhiều tội danh khác nhau. Có nhóm bị dư luận cho rằng đã lợi dụng lòng tin của dân chúng để lập “công ty kháng chiến ma” với mục đích trục lợi, có nhóm bị tình nghi là đã dựng nên những tổ chức kháng chiến  như những… cái bẫy để lùa những người yêu nước vào vòng lao lý. Những lời cáo buộc nghe tuy hơi hàm hồ và khôi hài nhưng không phải là hoàn toàn vô căn cớ.

May mắn là đường vào đất Thái  không phải là con đường duy nhất cần phải bước qua để
đi về. Chúng ta có thể trở về bằng nhiều con đường khác, giản tiện và ít hiểm nguy hơn. Vấn đề còn lại, từ đây, không còn phải là đi đường nào mà là đi ra sao.  Chính thái độ của chúng ta mới là yếu tố quyết định cho chuyện thành bại trong việc mở một lối về, để góp sức với những người còn ở lại, đưa quê hương dân tộc ra khỏi cảnh lầm than… Ðiều thực sự cần chỉ là sự quyết tâm và chính tâm. Và đó vẫn là điều chưa thấy có trong tập thể người Việt hải ngoại.

Tưởng Năng Tiến

26/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?