sổ tay thường dân

Tưởng Năng Tiến

Chuyện Phiền Vào Lúc Cuối Năm

Khi bạn đứng tần ngần trước một quầy hàng bầy thiệp giáng sinh và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm thì mọi chuyện kể như là đã lỡ.  Chúng ta lại trễ tràng mất rồi.

Năm ngoái cũng vào khoảng thời gian này đây, nghĩa là vào lúc mà Noel đã đến sát lưng, và cái tết Dương Lịch đang đứng lù lù trước mặt thì hốt nhiên bạn nhận được dăm ba cánh thiệp muộn màng.

Thiệp có đặc tính chung là thường hay chuyên chở một thứ nội dung làm sẵn và đã nhẵn, đại loại như: “…một mùa giáng sinh tràn đầy ân sủng Chúa và một năm mới tràn đầy hạnh phúc...”

Ân sủng Chúa, nếu có, e cũng khó mà có thể phân phát tùm lum một cách “tràn đầy” cho nhân loại được. (Chúng ta đông qúa và mỗi lúc một thêm đông mà.  Sức Chúa, cũng như sức người, có hạn thôi chứ bộ). Còn hạnh phúc thì sợ rằng chưa ai biết nó ra sao.  Chúng ta chỉ đều mơ hồ hiểu rằng hễ nhắc đến hạnh phúc thì đừng bao giờ mong cho nó “tràn đầy”. Mọi thứ đầy đều dễ đổ.  Và hạnh phúc (thì ôi thôi) là thứ cứ đổ bể rầm rầm.

Bạn có thể không lưu tâm đến nội dung hàm hồ của những tấm thiệp nói trên nhưng tên người gửi ghi trên phong bì vẫn khiến bạn phải chú ý chứ. Có nhiều thằng cha lạ hoắc; sao chả lại gửi thiệp cho mình cà ? Có những con mẹ mà bạn tưởng rằng đã hoàn toàn và vĩnh viễn đi ra khỏi cuộc đời mình rồi thì bỗng dưng, chiều cuối năm, bạn nhận được một cánh thiệp muộn màng của cố nhân. (Cố nhân ơi biết chiều nay ta buồn!).

Mà không phải là loại thiệp cà chớn, mua hàng lố đâu nha.  Thiệp loại chiến, kích thước dềnh dàng, mắc tiền là cái chắc.  Cũng không phải chỉ có một chữ ký vội vàng lười biếng bên dưới hàng chữ “Merry Christmas and Happy New Year“, hay vài câu viết thêm vô nghĩa ngớ ngẩn thôi đâu.  Người ta tuy chỉ viết vài hàng ngắn ngủi, giản dị nhưng đọc là thấy tình nghĩa đầy đủ, chân thật, đàng hoàng, thấm thía.

Những cánh thiệp bất ngờ, muộn màng như thế – đôi khi – làm chúng ta bối rối. Nó là bằng chứng hùng hồn về cách cư xử hơi thiếu văn minh của bạn.  Nó khiến chúng ta lấy làm tiếc là tại sao mình lại vô tâm đến thế, sao không nhớ gửi thiệp cho thiên hạ như là thiên hạ đã gửi cho mình.  Vào một lúc yếu lòng hơn, nó còn “dám” làm cho bạn tự hứa là sang năm sẽ nhớ ghé qua cửa hàng bán thiệp cho phải chuyện; và ghé sơm sớm cho xong chuyện.

Nếu đến cái lúc gọi là “sang năm” đó mà chúng ta thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh đàng hoàng thì cuộc đời rõ ràng là ổn thỏa và dễ sống biết chừng nào;đằng này, khi mà bạn có đủ trí nhớ, và đủ can đảm để dừng xe, ghé vào một gian hàng thổ tả nào đó thì chuyện gửi thiệp e không còn kịp nữa.

Bạn lại đứng tần ngần trước một quầy hàng bán thiệp, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm. Bạn lại chậm chân y như năm ngoái hoặc năm kia vậy.  Và tình trạng này, không chừng, dám đã xẩy ra từ năm kỉa hay năm kìa lận.

Ôi, nếu duyên nợ của bạn đối với chuyện thiệp thiếc này nọ mà nó cứ nhì nhằng triền miên như thế từ năm này đến năm khác, hay từ thập niên nọ qua thập niên kia thì xin cũng đừng lấy đó làm phiền.  Như thế, không chừng, lại là một điều may đấy.

– May sao ?

– Dạ, đúng !

Nói tình ngay thì bạn cũng không may gì mấy; có điều, chắc chắn, là bạn vẫn may mắn hơn cả đống người Việt tha hương khác. Xin đơn cử một thí dụ, một trường hợp rất không may, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Có kẻ ngay sau khi thấy rằng chuyện gửi thiệp giáng sinh không còn kịp nữa thì họ quyết định ngay là mua thiệp xuân để gửi cho kịp  Tết. Họ thua keo này liền bầy keo khác.  Họ suy tính một cái “rẹt” ; hành động một cái “rột.” Thấy mà đã mắt, nghe mà sướng tai.  Trong sinh hoạt hàng ngày của họ không có những giờ phút vớ vẩn kiểu như “tần ngần,” do dự” hay “nuối tiếc”… Bạn thấy họ sống mà phát thèm, đúng không ?

Khoan, gượm một chút đi bạn vàng.  Có nhiều chuyện ngó tưởng vậy chớ không phải vậy đâu.  Từ từ bạn sẽ thấy là họ cũng khốn đốn thấy mẹ luôn.

Hãy hình dung ra chính bạn ngồi ngay ngắn ở bàn viết, với một đống thiệp xuân, mua dược trước Tết cả tháng trời, và với sổ địa chỉ điện thoại của tất cả những người quen trên “toàn thế giới”.  Cho nó cẩn thận, để khỏi xót ai – không chừng – bạn còn làm một danh sách chia làm hai phần: A và B.  Phần A dành cho những người ở Việt Nam hay còn đang ở trại tị nạn; phần B dành cho những kẻ ở Huê Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Ðại, Tiệp Khắc…

Rồi sao nữa ?  Không lẽ  ký tên cái ào bên dưới câu “Cung Chúc Tân Xuân” rồi gửi đi sao ?  Ðâu có được cha nội!  Làm như vậy thà đừng làm còn hơn.  Mỹ, Tây, Tầu, Ðại Hàn, Nhật Bổn, Miên, Lèo…thì sao không biết, chớ người Việt mà nhận được một cái thiệp ký tên xuông như vậy là họ mích lòng cấp kỳ à.

Bạn phải viết vô đó vài giòng cho nó đàng hoàng chớ.  Câu hỏi đặt ra là chúng ta viết cái gì đây ?

Với bố mẹ, anh chị, cô dì, chú bác…đang kẹt ở Việt Nam thì bạn tính làm sao ?  “Một mùa Xuân an bình” hay “con cầu chúc bố mẹ, anh  chị, và các em luôn được vui tuơi và khỏe mạnh trong năm mới...” ?

Nè, nói cho mà biết nha, dù thân nhân của bạn ở quê nhà có thương yêu bạn cách mấy và có xuề xòa dễ tính đến đâu chăng nữa thì họ cũng không chấp nhận được những lời cầu chúc vô tâm và vô trách nhiệm như vậy đâu. Nếu ở Việt Nam mà có “một mùa xuân an bình” hay một cuộc sống “vui tươi và khỏe mạnh” thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi; hoặc đã lỡ đi thì chúng ta cũng đã ùn ùn kéo về không sót một mống nào rồi chớ đâu đến nỗi để xẩy chuyện “hồi hương cưỡng bách.” (Nghe thấy ghê)!

Rồi bạn viết cái gì trên tấm thiệp gửi cho một người đang “nằm chờ” ở trại tị nạn đây ? “Một năm mới tràn đầy hy vọng” chắc ?  Hy vọng, cũng như hạnh phúc, kị nhứt là cái vụ “tràn đầy” à nha.  Một xíu xiu mảy may hy vọng họ cũng chưa chắc được, nhất là đối với những kẻ đến trại tị nạn sau ngày 19 tháng 6 nă 1988 vừa qua.  Cái khổ của chúng ta là không đủ giả dối để cầu chúc cho họ “sớm được định cư”; và không đủ nhẫn tâm để mong họ “trên đường hồi hương được nhiều may mắn”! Cái gì chớ may mắn là kể như miễn có ở Việt Nam.

Nếu nhờ Trời cứu, nghĩa là nhờ một phép lạ nào đó, bạn giải quyết xuông sẻ hết những người có tên danh sách ở phần A thì bạn vẫn còn bị kẹt ở phần B như thường.

Chúng ta – những kẻ đang sống an bình ở hải ngoại – nói năng làm sao với nhau, nhân dịp xuân về đây ?

NHững lời chúc tụng truyền thống, được ông bà cha mẹ chúng ta sài tới sài lui hồi giờ đâu còn dùng được nữa.  “Chúc ông bà, anh chị…làm ăn phát tài gấp năm, gấp mười năm ngoái” chăng ? Bạn có tính xúi thiên hạ đi ăn cướp nhà băng hay bán cocaine không vậy ?
Cũng chớ có quen miệng mà buông một câu kiểu như “đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái” nha.  Cái gì chớ phá thai là điều không mấy ai ưa. Nói năng lạng quạng gây thù chuốc oán như không.

Hay là bỏ mẹ những chuyện cá nhân lẻ tẻ đó đi.  Phang đại một lời cầu chúc cho đại cuộc, không chừng lại ngon lành.  Tới luôn bạng vàng, đâu có chết thằng Tây nào mà sợ.  “Mai này cùng về Việt Nam” chăng ?

Nghe thì vui nhưng nghĩ lại thì hơi khó. Ngó bộ mốt hay ngày kia cũng chưa chắc về được chớ đừng nói chi mai; trừ khi, bạn giả dạng làm du khách “chơi lén” một chuyến thì không kể.

Khó há!  Trong hoàn cảnh chúng ta, nghĩ cho cùng, thì chỉ còn có thể gửi vài ba cái thiệp cho những người bạn thật thân thôi.  Chỉ đối với những người này, may ra, mình mới có thể cởi bỏ được những hình thức xã giao nhảm nhí và gửi đến nhau đôi lời cầu chúc hay giễu cợt thân tình.  Mà đã thân cỡ đó thì cần chi tới thiệp.  Sao đêm ba mươi không bốc điện thoại đấu láo, đấu lếu một chập cho nó đã miệng và tiện việc sổ sách.

Tới đây thì hy vọng ít nhiều bạn cũng đồng ý rằng lờ tít chuyện thiệp xuân thiệp tết đi thì thiệt là kỳ, nhưng nhào vô cái vụ này thì phiền quá.  Ðời sống, tự nó, đã phiền bỏ mẹ đi rồi.  Bầy thêm chuyện để phiền mình và phiền lẫn nhau làm chi, phải không ?

Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò trang nhã, có tính cách truyền thống, rất đáng giữ gìn của những cái thiệp trao đi gửi lại đâu nha.  Ðúng là nó cũng đẹp đấy, cũng được đó, nhưng chỉ e nó không hợp mấy  trong lúc này thôi. Cái lúc mà chúng ta vẫn còn đang sống giữa nhũng mùa xuân ly loạn đó mà.

Tưởng Năng Tiến

26/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những Con Chim Se Sẻ

Tôi sinh ra và lớn lên trong một thành phố có rất nhiều chim se sẻ. Những khi hồi tưởng về tuổi thơ của mình tôi vẫn luôn luôn thấy thấp thoáng đâu đó trong ký ức hình bóng những con chim sẻ nhỏ và chiếc súng cao su ….

Đến chừng năm 10 tuổi tôi bắt đầu biết mơ mộng. Tôi thôi bắn chim từ đó và cũng từ đó tôi thấy mình gần gủi và thương yêu loài chim bé bỏng này. Có điều tôi yêu chim theo cái cách đặc biệt của mình; một cung cách mà theo tôi thì rất là khoáng đạt. Tôi rất ghét cái cảnh chim lồng cá chậu nên không bao giờ có ý nghĩ bắt giam một con chim. Không những vậy tôi còn vô cùng khó chịu khi phải ở gần một ông bạn suốt ngày cứ phải chăm chỉ và vất vả lo âu cho cái chuồng chim sơn ca hay hoàng yến của mình. Trông thật là tội nghiệp cho cả chim lẫn người.

Vào thời Sơ Đường có một thi sĩ đã mô tả một buổi sáng nhàn nhã như sau:

Xuân miên bất giác hiếu
Xứ xứ văn đề điểu

Mà có người dịch là:

Giấc xuân quên mất sáng
Đâu đó tiếng chim ca

Tôi thấy không cần gì phải sống lui lại mười mấy thế kỷ người ta mới có được một buổi sáng êm đềm và nhàn nhã như vậy. Nếu đừng phải sống dưới một chế độ quá hà khắc và tàn bạo thì ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời nào, mọi người cũng đều có thể có được những buổi sáng êm đềm và thú vị.

Trong đời tôi đã có rất nhiều lần dậy muộn. Lúc mở mắt nắng đã lẻn vào phòng, chiếu một vệt dài vàng sáng trên tường. Trong cái cảm giác lơ mơ đầu ngày này, tôi vẫn thường nằm nán, lắng nghe tiếng ríu rít nho nhỏ, trong trẽo dễ thương của những đàn chim se sẻ đậu trên nóc nhà. Với tôi những khoảng thời gian như vậy cũng mang lại niềm vui cho đời sống.

Niềm vui của tôi giản dị nhỏ bé chỉ có là vậy; thế mà cũng có lúc tôi bị người ta cướp đoạt. Sai cái biến cố 1975 xảy ra ở Việt Nam (cái biến cố bị một số người cố tình hiểu lầm là cách mạng) thì tôi chả bao giờ còn có một buổi sáng êm đềm nữa. Lý do: từ ngày người cộng sản vô được miền Nam thì những con se sẻ mà tôi yêu mến bỗng dưng biến mất dần dần. Từ khi cảm nhận được sự biến mất khủng khiếp này, tâm hồn tôi trở nên đau đớn và ray rứt mãi. Tôi cứ băn khoăn không hiểu là những con chim se sẻ đã biến đi đâu?

Hiểu tâm sự của tôi, có người bạn đã gợi ý: có thể chim se sẻ đã bay về vùng kinh tế mới !?

Nhưng tôi biết chắc điều này không đúng. Sau năm 1975 tôi có một thời gian khá dài ở trong một trại cải tạo và cái trại tù trá hình này nằm cạnh một vùng kinh tế mới. Hàng ngày tôi vẫn đi làm khổ dịch qua ngôi làng khốn khổ này, tuyệt nhiên tôi không thấy một con chim se sẻ nào nơi đây cả. Loài chim se sẻ chỉ quen làm tổ nơi những ngôi nhà cao cửa rộng; hoặc ít nhất cũng phải là những căn nhà tôn vách ván. Ở vùng kinh tế mới không có những ngôi nhà như vậy. Nơi đây chỉ có những mái nhà tranh dột nát, trông thảm hại như những túp lều của loài người vào thuở du canh.

Thực phẩm chính của chim sẻ là ngũ cốc. Chúng hoàn toàn và tuyệt đối không thích ăn khoai lang hay khoai mì. Mà dân chúng nơi những phần đất đọa đày này thì chỉ sản xuất được khoai và củ. Nhà nước cũng có tổ chức và cưỡng bức người dân tham gia vào việc trồng những đông lúa tập thể. Tiếc thay, những cây lúa ở đây mọc lên chỉ để tiêu biểu cho sự thất bại thê thảm của một chính sách kinh tế hà khắc, ngu xuẩn và lạc hậu mà thôi. Cũng như người, chim sẻ không thể ăn lúa lép.

Chao ơi, ở một nơi đất không lành thì làm sao mà chim đậu.

Cũng có người nói với tôi, rất có thể chim sẻ đã bay vào rừng. Tiếc thay tôi không thể tin vào cái giả thuyết quá đẹp đẻ và lý tưởng này. Nó chỉ là sự phản ảnh tâm tư ước vọng của một khối đông quần chúng đang sôi xục vì bất mãn thế thôi. Tôi đã sống nửa mùa Xuân và gần hết một mùa mưa với những người nuôi mộng phục quốc ở trong rừng. Tôi chả thấy một con chim se sẻ nào cả. Cũng như người, se sẻ không thể nào hoàn toàn sống vào côn trùng. Còn lúa thì người thành phố chưa có đủ ăn, làm sao có gạo để mang vào rừng !?

Như vậy biết đâu là se sẻ đã rủ nhau tổ chức vượt biên.

Tôi thật lấy làm tiếc vì đã không thể tin như vậy. Mấy năm gần đây tôi vẫn nghe những đài phát thanh ngoại quốc loan tin mỗi tháng có hàng ngàn người Việt Nam trốn ra khỏi nước. Nhưng tôi chưa nghe ai nói đến việc chim sẻ đi tị nạn.

Hẳn là loài chim se sẻ cũng khao khát tự do và no ấm như bao nhiêu những sinh vật khác. Nhưng trong trường hợp nan giải này thì những con chim nhỏ bé và yếu đuối đành bất lực. Chúng chỉ có thể hướng nhìn về chân trời tự do với tất cả tuyệt vọng và u uất mà thôi.

Dù có bao nhiêu quyết tâm đi nữa thì những đôi cánh nhỏ bé mong manh của chúng cũng không thể nào đủ sức để vượt qua được những vùng biển khơi ngàn dặm. Nhữngcòn chim khốn khổ lại không thể nào có đủ tiền vòng vàng bạc để tạo phương tiện cho một chuyến đi quá là đắt giá.

Nói cho cùng rồi cũng chả ai biết những con chim se sẻ bỏ đi đâu? Và phần lớn con người đều khá vô tình chả mấy ai quan tâm gì đến cái chuyện tồn vong của một loài chim nhỏ bé.

Trong một cuốn tiểu thuyết Hoa Kỳ mà tôi đã được đọc, có một nhân vật tên Holden Caufield. Vào một đêm đông cậu nhỏ Caufield thuê xe taxi chạy khắp thành phố New York. Thằng bé muốn tìm một người nào đó để hỏi cho ra về dấu tích của những con vịt trời trong công viên thành phố. Cậu băn khoăn không hiểu những con vịt trời bỗng dưng lại biến đi đâu mất tích.

Tất nhiên không ai trả lời cho Caufield về câu hỏi kỳ cục này. Đâu có ai quan tâm đến điều mà cậu nhỏ muốn tìm biết. Đời sống có hàng trăm thứ chuyện bà rằn dằn vặt: áo cơm, danh lợi, nhà, xe, việc làm …. đâu có ai rảnh mà lưu tâm đến sự tồn vong của một loài vịt trong công viên thành phố.

Sự thờ ơ lạnh nhạt của mọi người làm Caufield phẫn uất. Theo ý thằng bé thì loài người thật vô tình và cái xã hội Hoa Kỳ đã làm cho tình người đông giá.

Còn theo tôi thì sự bất mãn của cậu nhỏ Caufield lãng nhách ! Vịt trời là một di điểu. Vào mùa đông loài vật lông vũ này thiên di đến một vùng ấm áp để định cư. Vấn đề giản dị chỉ có vậy thôi. Niềm băn khoăn day dứt của tôi khó giải đáp hơn và chính đáng hơn nhiều. Se sẻ không phải là loài di điểu: quê hương tôi không có mùa đông. Vậy mà những con chim sẻ vẫn cứ biến mất dần dần ….

Nếu có ai mang vấn đề này để chất vấn ông trưởng ty công an thành phố thì chắc chắn sẽ nhận được câu trả lời là: ông không biết. Đó là một câu trả lời thành thực. Bất cứ một giới chức nào của nhà nước cộng sản, dù có thẩm quyền đến đâu, cũng không thể biết được là loài chim sẻ đã biến đi đâu. Vì cái tìm biết vấn đề người ta không cần đến những bản báo cáo, những nhân viên điềm chỉ, những cặp mắt chó săn khát máu …. Mà điều cần là có một tâm hồn, một tâm hồn người chưa bị nhuộm đỏ vì chủ nghĩa và giáo điều.

Khi lòng người chưa bị khép chặt và đầu độc vì những tín điều độc ác thì tai của họ cũng thính hơn. Và lúc đó người ta sẽ dễ dàng nghe được những tiếng ríu rít thảm thương của những con chim kêu đói.

Những con chim sẻ khốn khổ chả bỏ đi đâu cả. Chúng đang chết và sẽ chết cho bằng hết vì đói, thế thôi !

Điều tôi vừa khẳng định có thể làm cho một số người ngộ nhận. Học có thể nghĩ rằng: Chế độ cũ ở miền Nam có quỹ cứu tế hay có ngân khoản dành cho chim se sẻ?

Thưa không, sự thực không có vậy. Sự thực thê thảm hơn nhiều: Chả cần phải đợi đến cái biến động 1975, loài chim se sẻ ở xứ tôi mới bị bỏ quên bạc đãi. Dưới chế nào thì những con chim bé bỏng khốn khổ cũng bị bỏ quên hất hủi. Lịch sử của quê hương tôi đã trải qua rất nhiều thể chế chính trị tệ hại thối nát nhưng – có điều khác là – sự tồi tệ của những thể chế này thường vẫn còn giữ được ở mức độ khả kham. Sự dư thừa rơi vãi của giai cấp bóc lột thường vẫn có thể nuôi sống được một số đông quần chúng hạ lưu bất hạnh.…

Điều bi thảm cho cả người lẫn chim sẻ ở Việt Nam bây giờ là: Sau cuộc cách mạng tháng 4 năm 1975 quê hương tôi không còn giai cấp bóc lột nữa. Cái thể chế chính tri, gọi là chủ nghĩa xã hội chỉ bao gồm một tập đoàn thống trị và toàn thể dân chúng bị bóc lột. Tất cả mọi người đều đói rách đến độ mà không còn ai có thừa ra một hạt gạo để đánh rơi. Đến thảm trạng này mà loài chim se sẻ còn sống được mới là chuyện lạ, chứ còn chuyện chúng phải chết đói thì cầm chắc rồi.

Sau ngày – được gọi là cách mạng – một chính sách mới về kinh tế được mang ra áp dụng: Kinh Tế Hoạch Định Cứng Rắn. Sáu chữ nghe ngắn gọn và không gây một ấn tượng nào đặc biệt; vậy mà chính nó đã đưa cả một loài chim vào con đường diệt chủng.
Thảm họa bắt đầu bằng chuyện thành phố mất hẳn đi những đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngược xuôi tấp nập. Và mỗi khi có một chiếc xe gạo dừng lại để nhập kho thì lại có cảnh gạo rơi trắng xóa một khúc đường. Ôi thực là thiên đường của loài chim se sẻ.
Nhưng có nhiều người lại thấy chướng mắt với cái cảnh thiên đường này. Họ chê nó là phồn vinh giả tạo. Thực là những tân hồn quả cảm. Đã có lúc tôi thực tình khâm phục những con người như vậy.

Rồi họ được người ta xúi dục đứng lên làm cách mạng. Vô cùng may mắn họ thành công. Chỉ tiếc là những mộng tưởng mà họ muốn thực hiện trong cuộc cách mạng này lại hoàn toàn thất bại. (Và bây giờ thì tôi đâm ra thương hại những con người quả cảm chất phác, dễ tin và dễ bị lợi dụng này).

Kinh tế thay đổi, đời sống cũng theo đó đổi thay. Bắt đầu từ đó hết còn cái cảnh ngựa xe. Hàng tháng, hoặc có khi đôi ba tháng, mới có một vài chiếc xe vận tải bí bùng, lầm lủi chạy vào thành phố giữa đêm khuya. Sáng hôm sau đường phố xôn xao, hầu hết dân chúng lũ lượt xếp hàng đi mua gạo. Họ phải chờ đợi chừng mười tiếng đồng hồ để chờ đến phiên mình len chân vào mua vài ký gạo. Số lượng gạo này để nuôi một con chim se sẻ trong nửa tháng thì dám đủ, nhưng cho một con người tiêu thụ thì e thiếu.

Những con chim se sẻ đậu trên nóc nhà theo dõi cảnh loài người chen lấn dành giựt mua gạo mà não lòng. Cái đầu nhỏ xíu của loài chim tiêu hóa không nổi những danh từ trừu tư ợng vĩ đại kiểu như: Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, Giàu Mạnh..v..v… Chúng chỉ cần một điều rất giản dị và thực tế thôi: đó là sự no ấm. Nhưng đó lại là điều duy nhất thiếu vắng trong xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách mạng 1975 đã thay đổi cảnh phồn vinh giả tạo của miền Nam bằng sự đói khổ thực sự và vĩnh viễn. Cái thiên đường cộng sản hay còn được gọi là paradis sovietique thực là khác xa với cái thiên đường ước mơ của loài chim cũng như của loài người.

Tôi viết những giòng chữ này vào mùa mưa năm 1978. Đúng ba năm kể từ ngày người cộng sản nắm được chính quyền bính ở Việt Nam. Thành phố tôi ở dễ bị ảnh hưởng của những cơn bão rớt. Nơi đây thường có những trận mưa rất lạ và vô cùng buồn. Trời suốt ngày âm u buồn xám. Mưa giăng giăng đan lưới, kéo lê thê từng đợt lướt qua những mái nhà của đường phố. Nhưng thỉnh thoảng cũng có lúc mưa tạnh hẳn. Khu phố sáng hẳn lên. Mặt trời lại hiện ra ở một nơi nào đó. Ngày xưa có những lúc như vậy, luôn luôn có hằng trăm con chim se sẻ vội vã rủ nhau bay lên nóc nhà tắm nắng. Chúng âu yếm rỉa lông, rỉa cánh cho nhau. Ríu rít đón mừng nắng ấm.

Ba năm qua, tôi không còn có dịp được nghe lại những tiếng ríu rít an bình đầm ấm của loài chim se sẻ nữa. Chao ôi chả hiểu còn có bao giờ tôi được nghe lại những âm thanh quen thuộc hạnh phúc này nữa hay không?

Còn bây giờ, thỉnh thoảng tôi mới thoáng nghe được một vài tiếng kêu thương lạc lỏng bơ vơ của một con chim sẻ trên mái ngói. Và đôi khi ở tận một mái nhà khác – thật xa – mới có tiếng nho nhỏ vọng lại của một con chim se sẻ khác; nghe cũng cô đơn và buồn thảm tương tự. Cả một dãy phố dài mà chỉ còn sống sót vài đôi chim se sẻ thì thật là sót xa cho số phận của loài chim bé bỏng hiền hậu này.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đã có lần tôi được nghe những giòng nhạc rất tiên tri về số phận của những con chim se sẻ như sau : Chiều qua đó rêu phong, bầy sẻ cũ hom hem …bầy sẻ cũ sẽ qua đời lặng lẽ … Chao ơi, những con chim năm cũ, hồn bây giờ ở đâu?

Mới gần đây trên một đài phát thanh ngoại quốc, tôi nghe một yếu nhân Hoa Kỳ kêu gọi cộng đồng quốc tế này quan tâm đến vấn đề nhân quyền nhiều hơn nữa. Ở vùng đất có tên gọi là Đông Dương này con người bị chà đạp kỹ quá khiến đồng loại của họ ở tận bên kia bờ đại dương phải xót ruột đau lòng. Có điều rằng chả hiểu rằng những lời kêu gọi ồn ào vu vơ ở tận đâu đâu như vậy có giúp đỡ được gì cho sự khốn cùng thê thảm ở đây không?

Thỉnh thoảng tôi vẫn cứ được nghe nhắc đến một cách loáng thoáng về Nhân Quyền, Cộng Đồng Quốc Tế, Tình Nhân Loại …là một người dân da màu cùng khổ dố tnát tôi thực không hiểu cộng đồng quốc tế là một cái tập thể như thế nào? Họ gồm những ai? Họ đã và đang làm gì được trong cái thế giới còn đầy dẫy những chuyện đau thương đẫm máu này? Tôi cũng không rõ nghĩa lắm về hai chữ nhân quyền: và thực tình tôi cũng không có cao vọng tìm hiểu những từ ngữ mơ hồ trừu tượng, xa xôi đó làm gì.

Thôi cứ xin để những danh từ Hoa Mỹ này dùng vào việc tô điểm cho kho tàng ngôn ngữ của loài người cho thêm phần phong phú. Hoặc để nói đi nói lại như những liều thuốc an thần trấn an lương tâm cho một phần nhân loại đang sống quá an bình sung túc ở những nơi xa xôi nào đó. Hay để dùng vào những bài diễn văn tranh cử nặng ký được đọc tới đọc lui ở những kinh đô ánh sáng hoa lệ.

Còn ở đây – nơi cái phần đất Đông Dương cực kỳ đen thui và bi thảm này – tôi chỉ muốn được góp một tiếng kêu thương tuyệt vọng nho nhỏ cho số phận của một loài chim. Một loài chim đang bị những con dã thú có hình nhân dồn vào con đường diệt chủng vì đói rét bom đạn, khủng bố kinh hoàng.

Tưởng Năng Tiến.
1978

26/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thằng Lính Bạc Tình

Nếu cấp số của đại đội là hai trăm thằng hoặc ít hơn thì bốn trung đội sẽ được chia gọn vào bốn phòng: I, II, III và IV. Vì một lý do không dễ hiểu, quân số đại đội của tôi có đến hai trăm mười mấy mạng, và theo danh sách thì tôi nằm cuối cùng; do đó, tôi và mười ba thằng kia bị đẩy vô phòng V.

Cái được gọi là phòng V, truớc kia, có lẽ được dùng làm nhà kho. Người ta kê đủ bẩy cái giường đôi trong đó rồi ấn đại chúng tôi vào. Tôi không ưa nơi cư trú bất đắc dĩ này và ghét thậm tệ những thằng ở chung phòng với mình.

Hai chữ “chúng tôi”, trong trường hợp này, có lẽ cũng cần có đôi điều minh định. Mười ba thằng kia dứt khoát không phải là những sinh viên sĩ quan đàng hoàng tử tế. Phần lớn tụi nó đều là giáo sư, kỹ sư, hay cán sự gì đó và tất cả đều đã có vợ con hay đào kép lang chạ tùm lum hết trơn rồi. Trong tương lai chúng sẽ trở thành những sĩ quan biệt phái, hoặc lính ngành lính nghề vớ vẩn gì đó thôi. Còn tôi, tôi mới là sinh viên sĩ quan thứ thiệt. Với học lực được ghi trong hồ sơ là “sinh viên văn khoa năm thứ hai” thì chắc chắn tôi sẽ ra trường với ám số tác chiến, và đương nhiên sẽ trở thành loại lính “bóp cò”.

Tất nhiên, tôi đủ khôn ngoan và lịch sự để không bao giờ nói ra những ý nghĩ “thầm kín” này. Tôi cũng cố không tỏ ra khó chịu hay bực bội gì cả. Nói cách khác là tôi ăn ở cư xử hết sức biết điều; thế mà, vẫn không xong, vẫn chưa vừa lòng người – những thằng người… khốn nạn! Tụi nó kỳ thị tuổi tác ra mặt.

Tất cả đồng lòng gọi tôi là “lính sữa”. Điều khổ tâm là tôi không thể nào chối cãi đuợc rằng mình không…”sữa”. Bảng tên cùng số quân bắt đầu bằng hai số “72” gắn chình ình trên đầu giường ngủ là bằng chứng hùng hồn về số tuổi đời hơi yếu của tôi. Có thằng còn tuyên bố khơi khơi là nó sẽ gả con gái út cho tôi, nếu như tôi “ăn ở và cư xử…người lớn hơn chút đỉnh!”

Cái trò chơi mất dậy làm tụi nó vô cùng thích thú là thỉnh thoảng lại có đứa nằm hát ông ổng cho cả phòng nghe:”…năm hai mươi mốt tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai.” Nó hát dở như cứt mà cả đám vẫn cứ nhao nhao vỗ tay, và thế nào cũng có một thằng chó chết nào đó xía miệng vào:

– Mà nó còn lâu mới tới hai mươi mốt tuổi. Thằng này vô “động” đâu có em nào dám tiếp.
– Ủa, sao vậy?
– Mấy em sợ lỡ bị bắt thì ngoài tội mãi dâm ra còn dám bị ghép thêm tội dụ dỗ trai vị thành niên lắm.
– Đ…mẹ, vậy mà bữa trước xuống câu lạc bộ tao thấy nó cũng bày đặt mua dao cạo râu.
– Chắc nó mua để cạo lông.
– Lông nó cũng cóc có.
– Có, tao xác nhận. Bữa trước tắm chung tao thấy rõ ràng nó có mấy sợi lông, lông măng!

Tụi chó đẻ cứ tung hứng như vậy hết chuyện này sang chuyện khác rồi cười rũ rượi với nhau. Thật ra, không ai bắt tôi phải nằm chịu trận mãi trong phòng với những thằng mất dậy này. Vào giờ nghỉ tôi có quyền đi xem phim, mướn truyện, hay la cà tán tỉnh mấy em bán cà phê ở khu gia binh…Điều phiền là cứ mười lần bước chân ra khỏi sân đại đội là có đến chín lần tôi… mắc nạn, những tai nạn lảng xẹt mà tôi vẫn cứ bị hoài hoài.

Tôi rất hay quên đội nón, quên gài nút áo, quên gôm ống quần. Toàn là những thứ quên lãng hợp lý nhưng lại không được chấp nhận ở đời sống quân trường. Tôi thích nhìn nắng chiều hay nắng sớm lao xao trên những hàng cây nên đôi khi còn quên luôn cả chào huynh truởng nữa.

Có lần tôi quên không chào một thằng huynh trưởng thuộc tiểu đoàn 6, đại đội 61, trung đội 612. Nó móc cái nón sắt trên cột hàng rào và bắt tôi phải chào cái nón thổ tả đó 612 lần trong khi nó ung dung ngồi hút thuốc chờ tôi thi hành lệnh phạt. Nó đúng là một thằng…chó đẻ!

Lần khác, vào lúc trời vừa chạng vạng tối, tôi lạng quạng sao đó nên nhìn lầm một thằng siêu huynh trưởng ra một thằng cùng khóa. Nó đang đi tôi gọi giật lại để xin mồi thuốc. Khi ánh lửa que diêm vừa lóe lên thì nó chợt nhìn ra màu khăn và màu bảng tên trên ngực áo của tôi, mộ thằng “siêu đàn em”. Nó gầm lên như một con hổ bị thương và bắt tôi phải “đột kích” xuống cái giao thông hào lõng bõng nước ngay trước mặt…bốn chục lần.

Sau những lần bị tai họa như trời giáng như thế tôi phải thu hết tàn lực mới lết được về phòng, nằm vật ra giường, trông thảm hại như một cái mền bông ngấm nuớc. Tụi mất dậy ở phòng V lại có dịp rú lên cười đùa châm chọc:

– Mẹ ơi, sao con khổ thế này!
– Đã bảo rồi, đi đâu phải có người lớn đi kèm, không bỏ được cái tật “dế mèn phiêu lưu ký” thì còn khổ nhiều con ạ.

Tôi thề có đất trời chứng giám là nếu còn sức tôi sẽ vùng dậy đấm vỡ mặt tất cả những thằng khốn nạn ở chung phòng nàỵ Tiếc thay, tôi lại mệt gần chết. Thể chất tôi không mạnh bằng người. Tôi phải đau buồn mà công nhận như vậy.

Tôi sinh ra trong một gia đình có đến chín anh chị em, và là đứa con ra đời ngoài dự liệu. Lúc tám tuổi, khi khổng khi không, thằng anh kế của tôi lăn đùng ra chết. Khi đó, dù đã ngoài năm mươi nhưng bố tôi vẫn còn muốn ráng có thêm một đứa con để nuôi chơi trong lúc tuổi già. Ổng “ráng” không tới mức. Nếu người ta cần phải có cỡ một muỗm tinh trùng để tạo ra một thai nhi bình thường khỏe mạnh thì bố tôi, có lẽ, chỉ còn sản xuất được cỡ chừng vài ba giọt gì thôi.

Tôi gầy yếu là phải. Tôi chịu không nổi mấy chục lần đột kích hay vài trăm cái chào taỵ Tôi buồn bố mẹ tôi và giận mấy thằng bạn ở chung phòng. Tôi hay hình dung ra những màn phục thù lâm li, gay cấn.

Tôi tưởng tượng khi mình vừa ra trường đã may mắn bắn trúng ngay đầu “đồng chí” Trần Văn Trà, hay Nguyễn Chí Thanh gì đó nên được đặc cách vinh thăng lên…đại úy – và được chỉ huy nguyên cả một tiểu doàn. Cùng lúc thế nào cũng có vài thằng, trong số mười ba thằng khốn nạn ở phòng V, bị xếp tụi nó “đì” đi tác chiến và vô phúc lọt ngay vào đơn vị của tôi.

Coi: tôi đang ngồi ở văn phòng tiểu đoàn, ve cổ áo thêu ba cái bông mai đen thui, miệng ngậm ống tẩu, mặt nghiêm và buồn. Tụi nó khép nép bước vô, kính cẩn đưa tay chào trình diện. Với tất cả uể oải và lơ đãng, tôi sẽ đưa tay lên chào lại, mắt hơi nheo nheo, và miệng thì hình như có vẻ mỉm cười …Chỉ một “show” này thôi cũng đủ làm tôi thích chết đi được và yên tâm đi vào giấc ngủ.
Tôi sẽ còn khổ lâu, không chừng là vĩnh viễn, nếu không lanh trí chụp lấy cơ hội “vùng lên làm cách mạng.” Có chiều mới đi phép vào, vừa bước vô phòng, tôi đã nghe tụi nó cười như một lũ điên. Một thằng chợt hỏi:

– Ê, bộ mày đăng báo tìm bạn bốn phương hả?
– Cái gì

Tôi giật thót người như bị điện giật. Tôi có thể làm hàng ngàn tỉ chuyện điên rồ nhưng “đăng báo tìm bạn bốn phương” thì không, không bao giờ, Giời ạ!

– Tao thấy có tên mày trên báo nè.

Nói rồi nó thản nhiên cầm tờ Văn Nghệ Tiền Phong đọc lớn cho cả phòng nghe:” Sinh viên sĩ quan Thủ Đức hai mươi mốt tuổi đời, một phần ba tuổi lính, yêu màu tím hoa sim, thích nhạc họ Trịnh và giọng ca Chế Linh, cần tìm một em gái tuổi đôi tám…Nếu hợp sẽ đi xa trong tương lai. Thư về…”

Tôi ước ao ngay lúc đó có một quả bom nguyên tử nổ hay ít nhất thì cũng có được một con rắn cực độc ở đâu đó nhào ra cắn một phát cho tôi toi mạng. Làm sao tôi có thể tiếp tục sống được nữa sau một chuyện lố bịch và nhục nhã đến thế nàỵ. Cách đùa giỡn ngu xuẩn của một thằng mả mẹ nào đó đã làm bầm dập quả tim vốn đã te tua tan nát của tôi từ mấy tháng nay.

Tôi hay quên cài nút quần, nút áo và hay quên chào huynh trưởng chỉ vì tôi đang… thất tình thế thôi! Tôi mới vào Thủ Đức có hai tháng thì nhận được thư của một thằng bạn. Nó long trọng buồn bã báo cho tôi biết là “tao thấy Ngọc Quế đi với một thằng sinh viên chính trị kinh doanh.” Trời đất, “tôi đi chinh chiến để nước yên vui”, đâu phải chuyện chơi, sao lại có một thằng sinh viên vô lương tâm nào đó bò ngay vô mùng của người yêu tôi như vậy.

Tôi cố nghĩ rằng thằng bạn tôi đã trông lầm một con “khốn nạn” nào đó chứ không phải là Ngọc Quế; hoặc “lỡ” phải thì thằng sinh viên thổ tả nào đó chắc chắn chỉ là một người bà con xa gần gì đó thôi. Thiệt tình, tôi muốn viết thư hỏi thăm nàng về “người bà con” đó hết sức nhưng chỉ muốn vậy thôi chớ nhứt định không làm. Tôi ghen, giận, hận, buồn và – tất nhiên – tự ái. Tôi chỉ làm hai câu thơ ngắn gửi về Đà Lạt thôi:

Ngày xưa chán ngấy giảng đường.
Bây giờ lê bước quân trường, chán hơn!

Thư hồi âm chưa thấy đâu thì đã có chuyện “tìm bạn bốn phương” vô cùng tai hại nàỵ Tôi có cái tên nghe “ba tầu” chết mẹ, tầu hơn bất cứ một anh Tầu lai hay Tàu thiệt nào đã từng hiện hữu trên cuộc đời này, không thể nhầm hay lộn với bất cứ ai; đã vậy, chị em Ngọc Quế lại chuyên môn đọc báo Văn Nghệ Tiền Phong. Trời ơi, nếu mà nàng hiểu lầm rằng tôi đang “cần tìm một người bạn gái tuổi đôi tám” và “nếu hợp có thể sẽ đi xa hơn trong tương lai” thì sự nghiệp ái tình của tôi coi như là…chấm hết!

Bất thần tôi chộp cây M16 gần nhất trên giá súng, rút lẹ một băng đạn trong ba lô, nạp đạn, lên đạn rồi dí súng vô đầu thằng đang cầm tờ báo:

– Mày xé nát tờ báo tao coi.

Thằng em còn hơi có vẻ do dự thì tôi tôi mở khóa an toàn nghe cái “cốp”:
– Chậm tay là óc mày sẽ biến thành đậu hũ tức thì…

Mặt nó đổi màu chàm, mồ hôi trán rịn ra thành giọt, nó run run xé tờ báo ra từng mảnh nhỏ. Tôi đảo mắt một vòng, mọi thằng đều lấm lét. Tôi bỏ súng trở lại giá, lững thừng trở lại giường nằm. Cả phòng im phăng phắc. Từ đó, mấy thằng em ngán tôi thấy rõ.

Cũng kể từ đó cho đến chiều nay, khi tôi ngồi viết nhừng giòng chữ « thổ tả» này, đã hơn hai chục năm qua. Hai mươi năm: biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước cống, nước rãnh…đã ào ào chẩy qua cầu qua cống rồi ? Thời gian chứng minh cho tôi thấy là “những thằng già khốn nạn” ở phòng V đều chịu chơi và chơi được. Chính tụi nó đã dậy cho tôi những bài học để đời về tình huynh đệ chi binh.

Khi mới ra trường tôi lãnh gần trọn một mùa mưa thối rừng thối đất. Có lúc thời tiết xấu đến độ đơn vị chúng tôi bị bỏ đói cả tháng trời chỉ vì chuyện tiếp vận vô phương thực hiện. Chúng tôi ăn rau bí và rau tầu bay chấm muối thay cơm. Cho đến khi muối cũng hết luôn thì tôi bắt đầu phát … sảng. Tôi chửi rủa lung tung qua hệ thống máy truyền tin. Bộ chỉ huy không đứa nào thèm trả lời tôi. Tụi nó còn dọa đưa tôi ra tòa án quân sự về tội phát ngôn bừa bãi. Tôi cóc sợ. Thỉnh thoảng tôi vẫn lên máy gào thét một cách vô vọng. Có hôm, bất chợt tôi nghe tiếng hỏi:

– Phải mày đang lải nhải như một con đĩ già ế khách đó không Lê Lai – Sơn Tây?

Lê Lai – Sơn Tây có nghĩa là “lính sữa” và đây là danh hiệu truyền tin không mấy dễ nghe mà tụi phòng V đã “gắn” cho tôi kể từ khi thực tập bài học truyền tin ở quân trường. Tôi mừng quýnh:

– Phải Lê Lai – Sơn Tây đây. Xin lỗi thẩm quyền nào đầu máy vậy?
– Thẩm quyền cái con…mả mẹ mày! Tango – Tư Tưởng phòng V đây, nghe rõ trả lời?

À ! thằng Tám Tàng, thằng mất dậy này sau khi ra trường về quân nhu hay quân vận gì đó. Nó thương tôi lắm. Nó “chuyên môn” lau súng giùm tôi mà.

– Ông đang ở đâu vậy Tango – Tư Tưởng?
– Tao mới về làm sĩ quan tiếp liệu cho đơn vị nè.
– Đ…mẹ, vậy thì ông phải cứu tôi tức khắc. Lính của tôi sắp chết đói hết rồi.
– Bộ mày không đói chắc?
– Ờ thì cũng đói thấy mẹ đây.
– Uống rượu được chưa con?

Thuở ấy, tôi uống rượu chưa được mấy nhưng vẫn cứ nói bừa:

– Được, dư được, nhưng lúc này nếu có cái gì để ăn thì có lý hơn.

Nó cười sằng sặc chế giễu:

– Nằm im đó đi, cỡ chiều là tao vô tới.
– Thiệt không?
– Sao không ! Tao chơi chưa để thằng nào nói mà, tin đi.

Thiệt tình tôi “không tin” gì mấỵ Tôi biết rõ hoàn cảnh của mình hơn bất cứ ai. Chỉ có trời mới gỡ được cho tôi cú này thôi. Con đường duy nhất xe có thể chạy đến nơi tôi đóng quân được làm dở dang kể từ hồi còn Pháp, và đã bị bỏ hoang mấy chục năm rồi. Tụi công binh mới “clear” đâu chừng được một phần ba và chưa đổ đá. Mưa khiến con đường hóa lầy và có những đoạn nước từ triền núi đổ xuống y như thác vậy. Xe nào mà vô nổi, trừ khi Tám Tàng kiếm được một cái xe …tăng!

Tôi lại chui vào túi ngủ, lòng buồn, dạ đói, bụng hoang mang. Tôi ngủ với nhiều giấc mơ ngắn và đều có liên quan đến chuyện ăn. Tôi mơ thấy mình đi ăn với Ngọc Quế ở tiệm Tân Khánh Hoàn. Nắng chiều Đà Lạt vàng ươm, rực rỡ. Tôi gọi bao tử xào dầu hào với rau bố xôi, cơm bò xào bông cải, và chim mía rô ti …

Rồi tôi thấy mình cùng với những thằng bạn ấu thời đi bắt dế ở phi trường Cam Lỵ Trên đường về chúng tôi bị mắc mưa nên chạy vào buôn Thượng. Bà mẹ người Thượng già cà răng móm mém chỉ chúng tôi ngồi quanh bếp lửa rồi lấy thật nhiều khoai lùi vào tro. Khoai chín thơm lừng và thật ngọt.

Có lúc tôi lại mơ thấy một bầy heo rừng vướng mìn Claymore bị nổ thịt văng khắp nơi. Cả đơn vị hớn hở vội vàng chụm lửa. Thịt heo nướng chẩy mỡ xèo xèo bốc khói làm cay mắt và ứa nước bọt đến tận răng…

Rồi tôi bỗng nghe tiếng máy truyền tin rè rè cùng với tiếng Tám Tàng yếu ớt:

– Lê Lai – Sơn Tây, Lê Lai – Sơn Tây … đây Tango – Tư Tưởng …

Tôi và người lính truyền tin cùng chồm dậy, anh ta vội vàng chuyền ống liên hợp cho tôi:

– Lê Lai – Sơn Tây nghe, ông đang ở đâu vậy?
– Tao thua rồi!

Lần này thì giọng nói của nó nghe rõ vẻ thì thào. Tôi hoảng:

– Cái gì? Ông đang ở đâu mới được chớ?
– Mày đi theo con rắn lớn (con đường), qua giây ba chạc (ngã ba) một khúc xa, có thể cũng gần tới …Tao không biết chắc …Tao lên bộ trưởng (bị thương) rồi.
– Cái gì ? Đ… mẹ, đừng có giễu dở chớ Tango…
– ….
– Tango, Tango …nghe không, trả lời?
– Nghe ..mà đ…mẹ tao mệt quá rồi. Mày lẹ lên…
– Tango …Tango …

Nó im luôn. Tức tốc tôi khều thêm mấy thằng em lầm lũi đi ngược trở ra. Tôi cắm cúi lầm lũi dưới mưa mà lòng dạ rối bời. Chừng ba tiếng đồng hồ sau, theo vết trượt của bánh xe, tôi thấy một cái Dodge nằm lật nhào dưới lũng. Thực phẩm rơi đổ tung tóe theo sườn núi.

Chúng tôi chạy vội xuống nhưng đã muộn. Tám Tàng bò được ra khỏi xe, nằm nghoẹo đầu trên máy, xác đã lạnh từ lâu. Tài xế và binh sĩ đi cùng chết kẹt trong ca bin. Chúng tôi cố mang xác họ ra cùng với cà phê, thuốc lá và cả can rượu đế.

Trời vẫn tầm tã mưa và lẫn trong nước mưa tôi biết có nước mắt của mình. Tôi thật sự bắt đầu uống rượu từ chiều hôm đó và uống luôn cho đến chiều nay. Đã một phần tư thế kỷ qua mà mỗi lần thoáng thấy hơi men tôi vẫn nhớ đến Tám Tàng. Tôi uống rượu hoài hoài, phần lỗi, không chừng là do …nó. Tôi muốn hành xác tôi chơi để Tám Tàng …vui lòng nơi chín suối.

Sau Tám Tàng, tôi gặp lại một nhân vật nữa của phòng V – ở trại tù binh. Ngày xưa, nó chính là thằng đã tuyên bố sẽ gả con gái út của nó cho tôi nếu như tôi “ăn ở và cư xử người lớn hơn chút đỉnh.”

Thằng này ra trường về làm sĩ quan thảo chương viên cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nói cách khác nó chỉ là một thứ chuyên viên xử dụng máy vi tính cho quân đội. Chỉ có vậy thôi mà đảng và nhà nước phải đẩy nó tuốt ra miền Bắc mới yên tâm.

Lúc chia tay nó dấm dúi hết cho tôi những thứ qùa vừa nhận được của gia đình, kể cả chút tiền và ít thuốc tây. Tất nhiên, tôi từ chối:

– Ông cần mấy thứ này hơn tôi chớ.

Nó cầm tay tôi, nghiêm nghị y như là cảnh Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi ở Ải Nam Quan vậy:

– Tao cần mẹ gì nữa. Chuyến này kể như là tao đi đứt rồi.
– Mày còn trẻ, lại không bị tụi nó đì ra Bắc. Thủ mấy thứ này cho ấm thân và cố giữ lấy mạng để còn có lúc trở về. Phải về lo lấy lại đất nước và trả thù cho tụi tao, nhớ chưa?
– Nhớ!

Xui cho nó, tôi không thuộc tip người Nguyễn Trãi. Tôi chỉ nói đại mẹ là “nhớ” để nó yên tâm đi vào chỗ chết. Thiệt tình thì tôi không nhớ gì hết ráo. Sau vài năm tù, tôi được thả về y như nó dự đoán. Có điều tôi tuyệt nhiên không hề lo chuyện “lấy lại đất nước” như đồng đội đã dặn dò; đã vậy, tôi còn bỏ nước để chạy tháo thân và lập tâm chuyến này là …dông tuốt!

Cái thứ người như tôi cứ mỗi lần nhậu xỉn mới chợt nhớ ra mình đã từng là lính, mới ba hoa về những năm tháng tù đầy, mới khề khà luận bàn về tình chiến hữu, về chuyện đấu tranh…này nọ. Tỉnh ra tôi lại lút cút đi làm, lại sống như mình chưa hề là lính, chưa từng có thằng vì tôi mà bỏ mạng, chưa có đứa đã chí tình dặn dò tôi lo chuyện quang phục quê hương. Lính có năm bẩy đường, năm bẩy thứ. Cái thứ như tôi ngó bộ có hơi kỳ và cũng hơi nhiều.

Tưởng Năng Tiến



26/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sài Gòn Ngày Trở Lại

1978 ….

Những năm sau này, thỉnh thoảng, tôi vẫn hát nho nhỏ một bản nhạc quần hành mà ngày xưa tôi rất là … không thích:

Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương vừa chiếm lại đêm qua bằng máu . Cờ bay, cờ bay oai hùng ta về với quê hương vừa chiếm lại, quân ta kéo về . Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quỳ hôn đất quê hương, Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng . Hồi sinh rồi, này mẹ, này em, vui đêm nay, qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời . Ði lên, đi lên, trên hoang tàn, ta xây dựng ngày mai …

Có thời gian bản nhạc đã làm tôi khó chịu vì tôi vốn không ưa những bài hát đồng ca, không khoái cái cảnh cầm súng đi trong hàng, vừa hát vừa đếm nhịp, và vì tôi đâu đã biết thế nào là cái thân phận của một người chiến bại, cái tâm cảm của một kẻ mất quê hương ! Tôi nghe tin tái chiếm được Quảng Trị với một vẻ thờ ơ và hờ hững cũng thờ ơ và hờ hững y như lúc được tin thất thủ Phước Long .(Chao ơi, tôi thực lấy làm tiếc vì một phần đời ti tiểu, khốn nạn của mình) . Mãi cho đến khi nửa phần quê hương còn lại mất luôn vào tay của một lũ người khát máu, tôi mới ngẩn mặt ra, mới thất thía nỗi đau đớn sót xa của đồng bào mình ở Phước Long, Quảng Trị vào những thời điểm cũ . Quảng Trị ơi, Phước Long ơi, quê hương yêu dấu ơi, xin nhận nơi đây một lời tạ tội chân thành và niềm thống hối vô biên của một kẻ – đã có lần – sống như một tên vô loại !

Tôi vừa ngồi nắn nót viết lại cả bản nhạc ngày xưa mình ghét mà bùi ngùi xúc cảm, mà thấy ngẩn ngơ thương sót cho từng con sâu, ngọn cỏ đang bị dày xéo trên đất nước của mình; và thấy nhớ Sài Gòn đớn đau, quay quắt . Nhiều đêm, tôi cứ nghĩ đến những gót chân thô bạo đang dẫm nát Sài Gòn mà thấy se lòng . Nhiều chiều, tôi cứ đứng chống cuốc nơi một trại tù heo hút, nhìn về hướng Sài Gòn mà thương tiếc đến đứt ruột một buổi chiều nào khác đã xa xăm – nơi thành phố cũ .

Sài Gòn, đã bao lâu rồi tôi không trở lại nơi đó ? Dẫu biết rằng Sài Gòn đang rên xiết, đang quằn quại, rẫy rụa; tôi vẫn thiết tha mong mỏi nhìn lại được Thủ Đô trong những giây phúr kinh hoàng và bi thảm ấy .

*

*     *

Niềm mơ ước thê thiết của tôi rồi cũng có lúc trở thành sự thực . Tôi được tạm tha . Chuyến xe đưa tôi trở lại Sài Gòn khởi hành từ Bảo Lộc, một tỉnh lỵ cao nguyên, nơi tôi đã bị giam giữ nhiều năm . Tôi quá mệt và quá đói nên cứ gục người mà ngủ, trên một chiếc xe đò bẩn thỉu và chật chội .

Khi tôi tỉnh giấc, xe đã vào đến Hố Nai . Ngay từ khi còn bé, trên những chuyến xe đi từ Đà Lạt xuống Sài Gòn . Vẫn những hình ảnh quen thuộc lại hiện ra trước mắt . Từng căn nhà nho nhỏ nối tiếp nhau, với vài ba cây ăn trái và khoảng sân rào dậu chung quanh . Qua một con đường lỗ chỗ ổ gà, xe chạy thật chậm . Tôi nhìn kỹ hơn vào từng căn nhà và suýt kêu lên vì thảng thốt . Trên mọi bức tường chính diện đều có vẽ một lá cờ đỏ sao vàng nho nhỏ . Bên trong, cạnh ảnh Chúa lồng khung kính còn có thêm tấm ảnh chân dung của Hồ Chí Minh . 1954-1975: hai mươi mốt năm, thời gian tuy có dài nhưng vẫn chưa đủ an toàn cho một lần chạy chết . Hố Nai, Gia Kiệm, Giốc Mơ, Phước Tỉnh …và bao nhiêu địa danh nữa không còn là nơi nương náu an bình cho những người dân miền Bắc di cư . Họ đã bị cộng sản bắt lại ngay giữa miền Nam . Tôi chưa kịp tìm hiểu về những đòn thù mà họ đã và sẽ phải chịu đựng, nhưng chỉ cần nhìn cảnh tượng những giáo dân ngoan đạo phải treo cờ và chưng hình của kẻ thù không đội trời chung bên ảnh Chúa, cũng đủ cho tôi cảm nhận được thấm thía nỗi uất hận trong lòng những người không may đó .

Từng ngôi nhà thờ xưa cũ vẫn còn nằm cách quãng dọc theo quốc lộ . Tháp chuông rêu phong, buồn tủi . Sân cỏ vắng vẻ đìu hiu . Hình tượng Chúa trông vẫn nhân từ nhưng không dấu được nỗi ưu phiền, trên thập tự . Lậy Chúa con là người ngoại đạo nhưng tin có Chúa ở trên Trời . Kính xin ngài sót thương cho hàng chục triệu tín đồ đang bị vùi dập khốn đốn trên  phần đất quê hương tù ngục này, cũng xin ngài đoái thương cho cả dân tộc bất hạnh của con . Nếu thực đây là thánh ý thì nhiều năm qua đã là một thời gian thử thách đủ dài cho một kiếp nhân sinh ngắn ngủi rồi !

Đức Tu vắng lặng, thưa người . Đường phố chỉ phơi bày một nếp sống cầm hơi . Tôi chạnh nhớ đến những ngày cả tỉnh Biên Hoà đông vui náo nhiệt mà thấy não lòng . Rồi xe bắt đầu đi vào xa lộ . Đường rộng thênh thang . Không còn những đoàn xe vận tải, du lịch ngược xuôi tấp nập . Cũng hết rồi hình ảnh của những cô cậu choai choai chở nhau bằng xe Honda chạy những đường lả lướt: ghé Thủ Đức ăn nem, lên Biên Hòa ăn bưởi, rồi về hồ tắm Thiên Nga ngồi nhìn đùi nhìn ngực nhau chơi . Hết giờ chơi lâu rồi thì phải ?

Thảng hoặc, cũng có vài cái xe đò chạy ngược chạy xuôi chiều, chất chứa đầy nhóc khách hàng, quang gánh và khoai củ . Những chiếc xe cũ nát, ì ạch, nặng nề chuyển bánh được nhờ vào thùng nhiên liệu tròn, cao hai ba mét. gắn ở phía sau .

–         Đi mấy cái xe chạy bằng than kiểu này đỡ hao tốn xăng dầu cho Nhà Nước và …ấm lắm đó nha !

Có hành khách buột miệng thốt lên một nhận xét mỉa mai . Nhiều nụ cười nửa miệng, nở vội trên những gương mặt xanh xao, mệt mỏi . Mùa Đông ở một nơi có tuyết mà được chen chúc nhau trên xe đò với hùng than rực lửa như vậy thì ấm cúng và hạnh phúc thật . Tiếc thay, Sài Gòn không có mùa đông !

Cách Mạng Về, thật sự, đã có lúc là niềm ước mơ làm ấm lòng không ít những người dân miền Nam cùng khổ . Bây giờ thì Cách Mạng Về đến nơi lâu rồi . Chắc chắn đâu có ai viễn vông đến độ nghĩ rằng Đảng sẽ gắn máy lạnh trên xe đò quốc doanh, nhưng cũng chả người nào ngờ được rằng Nhà Nước lại nỡ đặt nguyên cả cái thùng than rực lửa vào sau những chiếc xe  luôn luôn chật ních người như thế . Đến nông nỗi này thì e rằng ấm quá . Giá Cách Mạng đừng về thì hay hơn .

Xe đến Thủ Đức . Thủ Đức – Sài Gòn 12 KM . Cái bảng xanh nho nhỏ với giòng chữ trắng đã úa màu vẫn còn nằm nguyên ở vị trí cũ . Tôi cúi mặt tránh ánh mắt soi mói của một tên công an lưu thông đang đứng ở ngã tư . Không dưng mà thấy nhớ và thương quá một thằngquân cảnh !

Bên phải là đường dẫn vào chợ Thủ Đức, bên trái là đường dẫn vào trường Bộ Binh . Tôi nhìn mãi vào con đường nhỏ vắng lặng đó và tưởng như tim mình đập hụt liền mấy nhịp . Khi còn là sinh viên sĩ quan, tôi rất sợ và chán ngán những ngày tháng sống ở quân trường . Trời ơi, lúc hớn hỡ vác ba lô về đơn vị làm sao tôi ngờ được rằng lại có một buổi trưa mình cúi mặt đi qua trường cũ với cái tâm cảm bùi ngùi đến thế !

Đã có lúc tôi vô cùng thành thực khi nghĩ rằng: Chiến tranh là một hình thức sinh hoạt tồi tệ nhất của loài người ! Sự hà khắc, bạo ngược của chủ nghĩa cộng sản đã dậy cho tôi một quan niệm mới: trong nhiều trường hợp người ta bắt buộc phải cầm súng để chiến đấu đến giọt máu cuối cùng: nếu đây không phải là điều vinh dự thì vẫn là bổn phận cần thiết . Chao ôi, có phải tôi đã biết đến điều này muộn màng quá rồi không ? Bây giờ tôi mới thấy khát khao được cầm súng chiến đấu chống cộng sản dưới một lá cờ !

Xe chầm chậm chạy qua cầu Rạch Chiếc . Giòng sông đục vẫn hiền hòa chuyển mình dưới nắng . Hai bên bờ ô rô, dừa nước vẫn xanh um . Tôi đã có lần ngâm mình dưới giòng nước đó khi thực tập bài học Đại Đội Vượt Sông . Tự nhiên mà nhớ đến ông già Heraclite: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong cùng một giòng sông” . Thời gian qua đã bao nhiêu là nước chảy qua cầu rồi ? Như mới hôm nào tôi còn là một cậu sinh viên sĩ quan vừa tròn hai mươi tuổi . Bây giờ tôi đã sắp ba mươi . Gần ba mươi năm cằn cỗi, tang thương, thảm hại dù chỉ mới sau ba năm phải cắn răng để chịu lãnh những trận đòn thù .

Có cái cảm giác hoa mắt và choáng váng đến bất chợt . Tôi nhắm vội và gục đầu vào ghế xe . Thời gian gần đây – thỉnh thoảng – tôi vẫn phải đứng gục đầu vào cán cuốc vài giây khi bị choáng váng và hoa mắt như vậy . Rồi tôi lại vội ngẩng đầu lên, tiếp tục mở lớn mắt

Nhìn cảnh vật hai bên đường . Bỗng dưng tôi sợ rằng mình gục xuống thình lình rồi không bao giờ còn trỗi dậy được nữa . Tôi không thể và không có quyền gục ngã vào lúc này, khi mà quê hương còn đầy bón giặc . Bằng mọi giá tôi phải sống chứ . Mạng sống bây giờ là vũ khi duy nhất mà tôi còn có được để đối phó với kẻ thù . Dù thế nào chăng nữa tôi nhất định không câm nín, chấp nhận thân phận của một kẻ chiến bại cho đến hết đời .

Xa đến Nghĩa Trang Quân Đội . Pho tượng Tiếc Thương không còn đặt ngay trước cổng . Điều này làm tôi hài lòng . Chỉ mong kiệt tác này đã được vùi chôn ở một nơi nào đó . Nghệ thuật là sản phẩm của con người . Ngợm không thể và không có quyền thưởng thức . Hai chữ tiếc thương cũng không còn đủ ý nghĩa trước mộ phần của những chiến hữu đã hy sinh . Bây giờ ngoài sự tiếc thương, những người sống sót còn có bổn phận phải căm thù, và hận thù này phải được trả bằng máu mới cam lòng những người đã khuất .

Tôi nhìn sâu vào phía trong . Khoảng cách khá xa nên tôi không thấy gì được rõ ràng, ngoài một vùng um tùm cỏ dại . Chắc tất cả các mộ bia rồi cũng đều phải ngả nghiêng dưới những gót chân dầy xéo . Trời ơi, làm sao em biết bia đá không đau . Tôi thốt nhớ đến lời nhạc của Trịnh Công Sơn mà muốn rơi nước mắt . Tôi thương cho những kẻ đã thẳng lưng chiến đấu cho đến chết, và xót cho người nhạc sĩ tài hoa đã phải gập lưng để còn sống sót dưới một chế độ bạo tàn, mọi rợ !

Cuối cùng xe đi vào trung tâm thành phố . Đường Đinh Tiên Hoàng, rạp chiếu bóng Đakao – may quá – vẫn còn . Chỉ mất đi những khung vải quảng cáo quen mắt thật to và đẹp . Thay vào đó là những khung hình nhỏ xíu, sơn phết lem nhem, trông bẩn thỉu và bần tiện, với những tên tài tử vô danh, xa lạ: A-li-cốp, Bô-nhi-sô-lốp và gì gì đó …. Không dưng mà tôi thèm được nhìn lại những khuôn mặt mà đã có lúc mình vốn không ưa : Lý Tiểu Long, Vương Vũ, AlaiDelon, Hùng Cường, Út Bạch Lan hoặc bất cứ ai !

Tiếp đến là đường Hiền Vương . Những tiệm phở đều đóng cửa dù bảng hiệu vẫn còn nguyên hình những con gà vàng với chấm mắt đen . Trông chúng cũng có vẻ ngơ ngác như chưa kịp hiểu hết cái cảnh đời tang thương dâu bể .

Xe dừng lại ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ . Tôi chợt để ý có sự thay đổi . Đường Hiền Vương đã trở thành Võ Thị Sáu; và Pasteur có tên mới là Nguyễn Thị Minh Khai . Dẫy xe phở bò ở cuối con đư ờng này cũng không còn nữa . Có lẽ chị Sáu không thích ăn phở gà và chị Khai thì kiêng cữ thịt gà; hoặc giả, phở – nói chung – là một món ăn có quá nhiều thịt mỡ và thiếu mùi vị cách mạng nên cả hai chị đều không ưa . Vì vậy tôi đoán từ ngày mang tên hai chị thì tất cả những hàng phở trên hai con đường này đều sụp tiệm !

Cái gọi là cách mạng tháng 04 năm 1975 kể ra cũng mang lại cho nhân dân lao động ít nhiều bình đẳng . Lịch sử bây giờ không còn là nơi dành riêng cho vua chúa hay một giai cấp đặc quyền, đặc lợi nào nữa . Hiền Vương, Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực …. đều đã bị đẩy xê ra chỗ khác cho anh Trổi, anh Phong, chị Khai, chị Thối …. nào đó nhào vào lịch sử !

Sau khi chống Pháp, chống Mỹ, chống Nước Bạn Trung Quốc Vĩ Đại và bè lũ phản động quốc tế, chương trình được tiếp nối bởi những công cuộc xâm lăng những nước xã hội chủ nghĩa anh em nho nhỏ nằm kề . Đảng và Nhà Nước đã và đang luôn luôn tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân đi vào lịch sử . Chả biết bao giờ thì trên mới quyết định cho mọi người được nghỉ xả hơi để hưởng Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc ? Và nếu thực sự có một lúc như vậy thì e rằng số liệt sĩ xếp hàng đi vào lịch sử sẽ đông hơn thường dân . Thế mà chả có cảnh xô đẩy, chen lấn, dành giật đánh nhau đến vỡ đầu chảy máu, hoặc lại xẩy ra chuyện chợ đen, chợ đỏ, rất có phương hại đến tinh thần và đạo đức cách mạng . Nếu nhờ vào hên mà Đảng chưa đẩy toàn dân đến bước đường diệt chủng, thì rồi lại cũng đến tội cho lũ sử gia con cháu – sau này . Tụi nhỏ – chắc chắn – chả thế nào viết lại được những trang sử dễ coi .

Xe vẫn vào bến Pétrus Ký, với cái tên mới là Lê Hồng Phong . Sự hỗn loạn xẩy ra trước khi xe kịp ngừng bánh . Chừng hai mươi người đàn bà, lôi thôi, lam lũ vừa chạy theo xe vừa nhao nhao hỏi:

–         Có cái gì bán không ? Có mang trà, cà phê, gạo hay lê-ghim không cậu ?

Tôi lắc đầu, cười bối rối khi phải đối diện với những khuôn mặt đỏ gay đang thò sát vào thành xe . Tôi chưa hiểu ra câu hỏi của họ . Những hành khách khác cũng lắc đầu cười; họ cười mà như mếu:

–         Không, không có gì đâu . Ở nhà mãi sốt ruột không chịu được thì đi thử, vậy thôi . Chúng nó làm kinh bỏ mẹ, còn ai mà dám bán mua gì nữa . Có mà sạch vốn và rũ tù ấy chứ, chả chơi đâu .

Chiếc xe gần như đứng khựng lại giữa một hàng rào xích lô đạp, xích lô máy, Honda ôm ở vòng ngoài; và một vòng những người đàn bà lếch thếch, nhễ nhại sát xung quanh . Sau một hồi xoay trở khó khăn, vô hiệu; người tài xế bất lực, đưa tay quệt mồ hôi trán, thở dài:

–         Trời, đã nói là không có trà, cà phê, gạo bắp gì đâu mà . Tụi nó xét đột  xuất ghê thấy mẹ cả tuần nay rồi, bộ mấy bà không biết sao mà hỏi hoài vậy ? Buôn bán cái con khỉ gì nữa ở cái thời buổi chó má này !

Câu nói có vẻ thấm . Những bà bán hàng dãn dần ra . Giữa cái vẻ im lặng bất chợt của họ, tôi thấy rõ trong ánh mắt từng người nỗi chán chường và tuyệt vọng . Tôi mủi lòng nghĩ đến những người thân yêu: mẹ và chị của mình . Ôi, những người mẹ và người chị Việt Nam một đời tảo tần, đôn đáo, chịu thương chịu khó trăm chiều để giữ cho dân tộc tôi khỏi bị diệt vong . Họ đã âm thầm chịu đựng hy sinh qua biết bao nhiêu là biến cố đau thương dồn dập xảy ra trên cái phần quê hương bất hạnh này rồi ? Lịch sử khang trang vẫn thường không có chỗ để dành cho những người đàn bà Việt Nam anh dũng và vô danh đó .

Rồi đến lượt những khuôn mặt đàn ông đen đủi, gầy gò thò hẳn vào khung cửa, ngay khi xe dừng bánh:

–         Xích lô đạp, xích lô máy, xe ôm …. Nè thầy Hai ơi . Xe tui chạy bằng xăng đàng hoàng, không có chết máy giữa đường đâu …. Có cái gì trên mui không ? Tui đỡ xuống nha ?

Sau cái biến cố nghiệt ngã tháng tư năm 1975, chả hiểu Đảng đã bố trí cho bao nhiêu đồng chí công nhân lao động xe xích lô và xe ba gác nhẩy bổ vào guồng máy lãnh đạo để …mị dân ? Nhưng riêng ở bến xe Sài Gòn chiều hôm ấy thì số lượng những người phu xe muôn đời khốn khổ có vẻ đông gấp ba lần ngày chưa cách mạng . Và giai cấp công nhân vô sản bây giờ trông rách rưới, gầy ốm hơn xưa nhiều quá . Cách họ chào đón khách hàng nghe cũng ân cần và khẩn thiết hơn . Đời sống hiển nhiên là khó khăn và vô vọng cho mọi giới người . Vậy mà hiện tại ở nhiều nơi, ngoài Việt Nam, vẫn có người cứ tưởng đây là cuộc cách mạng của giai cấp công nông !

Xích lô, xe ôm bây giờ không còn là những phương tiện vận chuyển phổ thông nữa . Chả mấy ai còn đủ khả năng tài chính để phiêu lưu trên một chiếc xích lô đạp từ bến xe về đến tận nhà . Hầu hết hành khách đều khệ nệ ôm hành lý đi bộ vài trăm mét ra ngã Bảy hoặc đường Trần Quốc Toản để đón xe lam hay xe buýt .

*

*     *

Và đây là Sài Gòn . Sài Gòn là Sài Gòn chứ hoàn toàn và tuyệt đối không có dính dáng đến cái tên Hồ Chí Minh thối tha chết tiệt nào cả . Sài Gòn trong một thời gian ngắn tôi đ ược cho phép tạm để chờ ngày đi Kinh Tế Mới .

Tôi đạp xa đi loanh quanh giữa trung tâm của Thủ Đô . Tôi đi, nhìn, và sống trong nỗi bàng hoàng đau đớn của một kẻ chỉ còn quyền tạm trú trên quê hương đang rẫy chết của mình .

Dưới mắt tôi mấy năm đốt đuốc soi rừng, Sài Gòn vẫn còn phồn thịnh lắm . Tôi ghé vào cà phê Mai Hương . Cà phê pha vợi lạt lẽo vô duyên . Tôi “cắn răng” mua thêm hai điếu thuốc Lucky . Qua khói thuốc tôi chợt có cảm tưởng rằng bây giờ rất có thể là một buổi chiều nào đó của những năm 1973, hay 74 … Mấy năm tù đầy chỉ tựa như là một giấc ngủ trưa ngắn ngủi . Tôi chỉ vừa thức giấc, sau một cơn … ác mộng !

Ở mặt tiền của những con phố chính, không có gì đổi thay rõ nét lắm . Đường phố chỉ thiếu đi những loại xe có động cơ, và thiếu những người lính với đủ mọi quân phục, sắc phục khác nhau . Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy những tà áo dài thướt tha, một vài cái jupe ngắn, hai ống quần jean bó sát một cặp đùi thon . Vẫn có những chiếc sơ mi soie Pháp, quần serge-Anglais cắt khéo, và những bộ mặt nhởn nhơ, vô tư y như những con cá đang bơi lội trong chậu kính .

Chả hiểu bây giờ ở Đài Bắc, ở Vọng Các, ở Hồng Kông …các cô các cậu choai choai ăn diện ra sao ? Riêng ở Sài Gòn thời trang không có gì thay đổi . Cách ăn mặc của người dân Sài Gòn (một-số-rất-ít-những-người-dân-Sài-Gòn), sau 1975 không bao giờ có thể bị coi như là old-fashion hoặc out-of-date . Trong bức màn sắt, thời gian và thời trang đều có khuynh hứng chuyển động lùi . Nhờ Đảng vận dụng sáng tạo ra nền kinh tế quà biếu nên đã đổi bức màn sắt thành bức màn tre, và giữ cho thời trang đứng mãi được một chỗ . Thường, người ta đi theo thời trang y như là người mù đi theo con chó . Vì vậy, khi chó cũng đã bị cột chân bởi những thứ xiềng xích cách mạng, như sổ đi lại, giấy thông hành …thì thời trang – tất nhiên – cũng phải đứng yên một chỗ !

Và trong khi toàn quốc đang rẫy chết dưới sức đè nặng của búa liềm cộng sản thì một số rất ít những con người may mắn vừa kể đã mang lại cho đường phố ở trung tâm Sài Gòn một chút sinh khí . Cái sinh khí tuy thảm thương nhưng cuồng nhiệt của những con người đang sống vội . Họ sống như sợ rằng ngày mai sẽ không còn được sống . Ngày mai có thể họ sẽ vào tù . Ngày mai sẽ phải có lệnh đổi tiền và kiểm kê tài sản . Ngày mai sẽ ngưng chế độ gửi quà . Họ sống như không có ngày mai !

Mặc dù đã rơi xuống gần đến đáy của sự tuyệt vọng và khốn khổ người dân Việt còn nỗi lo sợ và ám ảnh khủng khiếp: họ vẫn cứ sợ rằng đường lối và chính sách của cộng sản còn nhiều thay đổi, và mỗi lúc sẽ một thêm hà khắc, tàn độc hơn . Tất nhiên những kẻ cư ngụ ở Sài Gòn đeo nặng nỗi ám ảnh và lo sợ này hơn bất cứ ai . So sánh một cách tương đối, Sài Gòn vẫn được coi như là … thiên đường của Việt Nam; hay nói đúng hơn trong cái ngục tù bao la có tên gọi là Đông Dương . Sài Gòn mới chỉ là tầng đầu địa ngục !

Bây giờ thì tôi hiểu, hiểu thấm thía bốn chữ phồn vinh giả tạo mà cộng sản Hà Nội vẫn thường dùng để mai mỉa nền kinh tế của miền Nam, Việt Nam trước ngày họ đến được đây . Còn gì giả tạo hơn cái sinh khí mong manh mà người cộng sản bắt buộc phải hà hơi tiếp sức để Sài Gòn chưa lăn đùng ra chết ?  Đúng là Sài Gòn của tôi vẫn sống . Cái vẻ tươi sáng của một con cá nằm trong tủ lạnh . Cái vẻ giả sống như khuôn mặt ướp của con cáo Hồ Chí Minh đặt trong lồng kính .

Sài Gòn chỉ còn là biểu hiệu cho cái nền kinh tế chưa kịp tàn lụi của cả miền Nam . Sài Gòn vẫn thoi thóp với những điểm sống hổn hển hội tụ nơi những con phố chính, để che đậy cho số phận của mấy chục triệu người dân đang ngoắc ngoải chết dần mòn ở những công trường hay nông trường heo hút . Dầu vậy, cái vẻ hào nhoáng bề ngoài của Sài Gòn vẫn đủ sức để lòa mắt được những ký giả ngoại quốc mới vào nghề, ít kinh nghiệm nhưng lại nhiều thiên kiến !

Dù sao hai lần đổi tiền và mấy lượt kiểm kê tài sản, người cộng sản chưa vét được ráo nạo hầu bao của người dân Sài Gòn . Đảng và Nhà Nước vội vàng cho lệnh hồi sinh Thanh Thế, Givral, Majestic … dưới hình thức những cửa hàng ăn uống quốc doanh, với mục đích tạo cho Sài Gòn còn có vẻ là một nơi sống được, và để móc túi những kẻ có tiền .

Một bữa ăn đàng hoàng, gần đủ no, tính theo giá chính thức khoảng chừng nửa số tiền lãnh được hàng tháng của một công nhân viên có tiền lương trung bình, và gấp năm lần tiền phụ cấp mà một anh bộ đội được phục vụ hàng tháng . Đối tượng phục vụ của nhà nước chuyên chính vô sản vẫn chỉ là những kẻ có hay còn tài sản . Cái định luật khắt khe này – dù ở thiên đường vô sản – cũng miễn có loại trừ !

Tôi tiếp tục đạp xe đi chỗ này, chỗ nọ ….

Công trường Quách Thị Trang, bây giờ mới đúng là ghế đá công viên dời ra đường phố, người già ho hen nằm thiu thiu ngủ và em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi . So sánh với những lời nhạc “tiên tri” đó, chỉ có điều khác là còn thêm cái cảnh của ba ông công an áo vàng, tay lăm lăm tiểu liên Tiệp Khắc, lui tới đi tuần; dù vậy, trên tất cả mọi băng ghế đều chật người nằm hay ngồi ngiêng ngửa . Mặt họ hốc hác, tóc cháy vàng hoe, mắt lờ đờ mệt mỏi . Quần họ mặc trên người thì rách tả tơi và hôi hám .

Cuộc thi đua để tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa – coi bộ – có nhiều người bỏ cuộc hoặc cương quyết không tham dự . Chắc chắn những phần tử chống đối tiêu cực, lừng khừng, lười biếng này rồi sẽ có lúc bị “nhân dân” trừng trị đích đáng . Nhưng bây giờ thì …. chưa . Bởi lẽ, họ đông quá . Hơn nữa Nhà Nước cũng chưa rảnh để triệu tập những toà án nhân dân lên án giới người này .

Đảng đang còn bận thanh toán cho kỳ hết tụi tàn dư ngoan cố của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và thanh trừng nội bộ, cùng với hàng ngàn thứ chuyện rắc rối nhức đầu khó gỡ khác ở miền Nam .

Lãn vào giữa những khuôn mặt chẩy dài của người dân miền Nam là những khuôn mặt tỉnh táo đến độ ngơ ngác của người dân miền Bắc, mà phần lớn là bộ đội . Họ đến miền Nam bằng nhà ga Sài Gòn; xuống khỏi xe lửa họ đi thẳng ra công trường Quách Thị Trang . Có thể là họ phân vân không biết là sẽ phải đi đâu và về đâu ? Cũng có thể là họ còn quá bỡ ngỡ và nhức đầu bởi cái sinh hoạt náo nhiệt của một rừng xe … đạp hay xe gắn máy ở Sài Gòn . Mới có ba năm, chứ không phải là ba chục năm Đảng trị nên Sài Gòn vẫn còn vui vẻphồn thịnh hơn Hà Nội nhiều lắm .

Đầu đường Hàm Nghi: Chợ trời quần áo . Không hàng quán, không kiosque, chỉ có những chiếc poncho trải vội với đủ thứ y phục của nam, phụ, lão, ấu … Tất nhiên, toàn là đồ cũ ! Bảnh nhất là những chiếc áo chemise hay quần tây được treo trên móc và cầm chắc trên tay người bán . Dù chắc chắn là đã trải qua hai ba đời chủ, những bộ quần áo này sau khi được giặt ủi lại vẫn còn có giá và được coi như bộ đồ ăn nói của nhiều người dân Sài Gòn .

Huyền thoại về nhà máy dệt Nam Định, sau bao nhiêu năm được đài phát thanh Hà Nội, báo Nhân Dân và nhiều tờ báo phản chiến khác ở miền Nam thêu dệt đã khiến cho người dân Sài Gòn ngỡ ngàng khi nhìn thấy y phục rách rưới, và vá víu của người dân Hà Nội . Và cái huyền thoại này chết không kịp ngáp ngay trên một hè phố, bầy bán quần áo cũ, ở miền Nam . Nhân dân cả hai miền, có thể vẫn còn bất đồng ý kiến với nhau về vài chuyện lẩm cẩm, nhưng tất cả đều cùng nhau lùng sục tìm mua cho bằng được áo quần cũ may bằng vải  … ngụy !

Giữa đường Hàm Nghi: Chợ trời đồ sắt và đồ điện . Người ta bầy bán mọi thứ vật dụng cần thiết: từ cái căm xe đạp cũ cho đến piston của máy chạy dầu, có khả năng dùng để …. vượt biên ! Mỏ lết, kềm bấm, bạc đạn, bù lon …đủ  kiểu đủ cỡ được bầy biện nơi đây đều phải theo tiêu chuẩn kỳ lạ là tuyệt đối cũ . Vật liệu do những công ty quốc doanh sản xuất là coi như miễn có khách hàng . Người ta mua dụng cụ về để dùng chứ không phải để …vứt đi !

Nếu không tìm được những phụ tùng origin của Nhật hay của Mỹ thì đành sài đồ made in Cholon . Còn cái gì làm tại Hà Nội hay Hồ Chí Minh City thì xin để nhà nước xuất khẩu cho nhân dân tiến bộ thế giới mua sài . Con dân Việt Nam “chúng em” thì chả dại . Đã ở mấy năm trong chăn, chả lẽ lại chưa biết rằng chăn có rận ! Có một hiện tượng cần phải được ghi nhận: vài tháng sau khi vồ được miền Nam thì báo chí và đài phát thanh Hà Nội bớt hẳn cái chuyện ba lô, khoe khoang khoát lác về những hoạt động rầm rộ của nhà máy thép Thái Nguyên . Chả hiểu rằng cũng có lúc vẹm biết ngượng mồm hay vì trước một thực tế quá phũ phàng như vừa mô tả thì ngay cả những con vẹt cũng biết rằng tốt hơn là nên khép mỏ lại .

Sôi nổi, hồi hộp và bi đát nhất là cảnh những chợ trời thuốc tây, ở cuối đường Nguyễn Huệ hay đầu đường Trương Công Định . Không đâu mà chuyện mua bán lại diễn ra với nhiều gian nguy và bất trắc như ở nơi đây . Chỉ cần một chút sơ xẩy, hoặc thiếu may mắn khi có chiến dịch bố ráp là cả người bán lẫn người mua đều có thể bị bắt đi cải tạo, với tội danh là: mua và bán hàng quốc cấm !

Xin đừng ai hiểu lầm rằng Đảng và Nhà Nước ngăn cấm nhân dân uống thuốc . Không hề có chuyện vô lý đó . Trên chỉ muốn rằng tất cả mọi chuyện – kể cả chuyện đau bệnh thuốc thang – phải được diễn ra trong vòng trật tự và kiểm soát được, thế thôi . Nếu ai mắc bệnh thì cứ mang sổ gia đình (có tên mình trong đó) đến phường khóm để ủy viên y tế định bệnh rồi bán thuốc . Vì tiêu chuẩn lương thực giống nhau nên sau khi ăn vào người dân chả có lý do gì phát bệnh khác nhau được . Bởi thế, bệnh gì rồi cũng được phát chung một vài loại thuốc giống y như nhau thôi . Sau chừng mười lần như vậy mà bệnh không thuyên giảm và nếu bệnh nhần vẫn còn sống, họ sẽ được cấp giấy giới thiệu để khám bệnh tại nhà thương . Nơi đây, sau nửa ngày chờ đợi bệnh nhân sẽ được gặp bác sĩ . May thì gặp một ông bác sĩ tốt nghiệp ở đại học y khoa Sài Gòn, không may thì gặp phải một ông bác sĩ tốt nghiệp ở đại học y khoa Mát-Cơ-Va hay Hà Nội . Vô phước hơn nữa thì có thể vồ nhầm một ông bác sĩ tốt nghiệp ở  …cục R . Họ cũng chẩn bệnh, cho toa và muốn sống thì khôn hồn cầm ngay toa thuốc chạy ra  … chợ trời ! Những tiệm thuốc tây quốc doanh, nếu có mở cửa thì cũng để cho vui, chứ ít khi có thuốc bán lắm . Và lỡ mà có bán thiệt thì chưa chắc đã có người dám mua . Nước ngọt do Nhà Nước làm đã khiến cho vô số người vong mạng . Bệnh chứ bộ điên sao mà đi uống thuốc tây quốc doanh !

Suy tính hơn thiệt chán rồi cũng phải đưa ra chợ trời thôi . Tất nhiên là tốn bộn tiền . Trong trường hợp không có tiền thì chắc chết, chết chắc ! Có ở nơi đâu trên cuộc đời này mà những kẻ không tiền vẫn còn sống được ?

Và đây là chợ sách . Cả kho tàng văn hoá miền Nam bây giờ còn được xếp nằm thoi thóp ở hai bên lề đường Bùi Quang Chiêu, dài đâu chừng trăm mét . Bán sách cũ ở đây có môn bài và phải nộp thuế đàng hoàng . Đảng và Nhà Nước có giao trước là chỉ được bán những loại sách khoa học, kỹ thuật, thể dục thể thao hay thuần túy nội trợ đó nha . Sách khoa học – tất nhiên – là có khách, kể cả khách ngoại quốc như Nga Sô, Hung, Bảo, Ba Lan …. Ai mà không biết khoa học của khối cộng đi sau tụi tư bản đâu cỡ  chừng hơn một thập niên ! Chỉ cần lật vài trang cuốn sách Đường Vào Khoa Học, hay xem qua tuần báo Khoa Học Phổ Thông của “thầy” Phạm Hoàng Hộ là người ta có ngay một khái niệm rõ ràng về hai chữ … lạc hậu !

Chỉ thị của Nhà Nước về việc buôn bán sách cũ – tất nhiên – là không được chấp hành . Đảng bảo sao mà nghe vậy thì có mà chết đói . Bên cạnh những cuốn sách giáo khoa vớ vẩn, những tác phẩm vô thưởng vô phạt; người ta vẫn dễ dàng tìm được Arthur Koesler, Solzhenitsin, Remarque, Georghiu …. Nguyên bản hay bản dịch . Những nhà văn chống cộng của miền Nam như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Phan Nhật Nam …rõ ràng được ái mộ và tìm đọc một cách cẩn thận hơn xưa . Nhà Nước càng chi tiền nhiều cho bộ Thông Tin thì tinh thần kháng cộng của nhân dân càng mãnh liệt . Đã đến lúc mà mọi công tác thông tin, tuyên truyền của người cộng sản đều đã mang lại những tác dụng rất phản tuyên truyền . Người dân miền Nam không ngu dốt và dễ gạt như Đảng mong đợi . Sự bịp bợm, khoác lác của Nhà Nước chỉ làm cho lòng người thêm uất hận và căm thù mà thôi .

Loại sách Học Làm Ng ời đã dần mất khách vào những năm cuối của Nền Đệ II Cộng Hòa, nay lại được phục hưng . Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần và Hoàng Xuân Việt lại tiếp tục là những soạn giả được giới trẻ yêu chuộng . Cái mệnh danh là “Đạo Đức Cách Mạng” chỉ làm lóa mắt được một thiểu số người trong một thời gian ngắn, những ngày sau đó thì người ta nhờm tởm . Không có một chủ thuyết nào cảm được lòng người và đủ sức biện minh cho những hành động dã man, tàn độc diễn ra hàng ngày dưới mắt dân chúng . Thế hệ trẻ Việt Nam, dầu sinh ra trong thời gian ly loạn, và trưởng thành trong thời buổi nhiễu nhương, khi còn điều kiện lựa chọn, họ phân biệt được ngay đâu là chân và đâu là ngụy ! Thà là phải dành dụm tiền bạc hàng nửa tháng, phải tìm kiếm cả tuần lễ mới mua được một bản dịch của André Maurois, Luiser Rinser hay Lâm Ngữ Đường …., viết về một nghệ thuật sống nhân bản, chứ không ai chịu nổi cái lối sống theo “Năm Điều Bác Dạy” hoặc bước vào tiệm quốc doanh để mua những “tác phẩm” của nhà xuất bản Thanh Niên hay Phụ Nữ bán với giá rẻ mạt là vài chục xu .

Thêm một hiện tượng nữa về sách vở cần được ghi nhận là tất cả những sách viết về phép Tân Dưỡng Sinh của Ohsawa đều trở nên hiếm hoi và cao giá . Lý do thì vô cùng giản dị . Sống ở một xã hội mà vài tháng người ta mới có dịp nhìn thấy thịt cá một lần, và gạo thóc là một loại thực phẩm xa xỉ thì ăn cơm với gạo lức muối mè, hay tuyệt thực đúng là một phương cách dinh dưỡng rất đáng được mọi người lưu tâm .

Điều vô cùng an ủi là chợ sách Bùi Quang Chiêu – Calmette đông đúc hơn bất cứ loại chợ trời nào khác . Cái thứ tình cảm ngược xu ôi theo đúng luật đi đ ờng của Nhà Nước phơi bầy ở những tiệm sách quốc doanh bị khinh bỉ, coi thường một cách không dấu diếm . Khách hàng của loại này chỉ là những ngư ời buôn bán hàng rong . Họ cần giấy tờ gói xôi hay gói bánh mì . Sách vở của người cộng sản dùng để đọc chơi vài phút cho biết, trong cầu tiêu, rồi dùng luôn vào việc chùi đít thì còn khả dĩ, chứ đọc hoài cũng bị buồn nôn hay táo bón .

Dù vậy, có một sự thực mà không ai có thể phủ nhận được: dưới chiêu bài “Bài Trừ Văn Hoá Mỹ Ngụy”, người cộng sản đang tận dụng bạo lực để cố bóp cho chết văn học và văn hoá Việt . Những cuốn sách cũ – dù được trân trọng cất dấu, giữ gìn bởi một số người – vẫn cứ rách nát và thất lạc dần dần theo ngày tháng ! Trong vòng vây khốn của bạo quyền, tính mạng con người cũng hoá mỏng manh . Ước vọng cố bảo vệ văn hoá dân tộc qua sách vở – gần như – đã trở thành một điều không tưởng . Có trông mong vư ợt thoát khỏi vòng tù ngục . Chắc chắn là dù ở chân trời góc bể nào đi nữa, những kẻ ra đi thế nào cũng có cái quyền tự do tối thiểu để có thể tiếp tục nuôi dưỡng và khai mở một nguồn mạch cho cái giòng sinh mệnh của nền văn hoá Việt đang bị bóp nghẹt, nơi chính quê hương của nó . Cầu mong cho những kẻ ra đi sẽ làm được công việc cần thiết tối thiểu này . Thì cũng cứ cầu mong vậy, chứ sao tự thâm tâm tôi vẫn cứ thấy  …lo lo !

*

*    *

Tôi rời bỏ những con phố chật chội đông người . Tôi thèm nhìn lại được một mảng trời có lãng đãng mây trắng, qua những tàn lá me xanh . Tôi đạp xe ngược đường Trương Công Định, qua Nguyễn Du rồi đi mãi đến tận Tú Xương . Có những ngôi biệt thự mở tan hoang cửa . Ở cổng vào, người ta đọc được trên một cái bảng nhỏ vài giòng phấn trắng, nắn nót những chữ đại khái như: Cà phê, Chè, Thạch, Trà đá … giá bình dân ! Bên trong kê bầy mấy chiếc bàn con cùng vài chiếc ghế cọc cạch . Khi nhìn vào bên trong, thỉnh thoảng tôi bắt gặp một vài tiểu thư đang ngồi  …ngáp gió !

Trong những ngày niên thiếu hoa mộng, tôi vẫn có những buổi chiều đạp xe qua những con đường vắng lặng này . Tôi nhớ rõ là lúc dó mình đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư, luôn luôn khuất rất vội sau cổng cao, tường kín . Bây giờ cách mạng đã phá đổ tường, mở bung cửa sắt; tuy vậy, tôi vẫn chỉ đạp xe ngang qua chứ không hề có ý dừng lại để bước vào bên trong . Tôi sợ, sợ phải nhìn thấy cảnh những tiểu thư khuê các …chạy bàn ! Sự thực là lòng tôi cũng còn đôi chút bâng khuâng, vương vấn; nhưng thôi, xin đành hẹn nhau một kiếp xa xôi nào khác vậy . Còn trong kiếp này thì nhìn lại nhau làm chi cho nó thêm đau . Sau chuyện đổi thay tang thương dâu bể này thì cuộc đời của mấy nàng, cũng như cuộc đời của chính tôi, kể như là … chấm hết !

Thảm thương hơn nữa là những cái biệt thự người vào kẻ ra tấp nập . Soong chảo móc đầy tường chính diện . Áo thun, quần lót giăng mắc khắp mọi nơi . Nhìn qua là một thằng điên cũng phải hiểu rằng ngôi nhà đã được tập thể hiện quyền làm chủ tập thể mất rồi . Cứ bỏ chừng năm sáu ông bà cán bộ cộng sản vào bất cứ nơi đâu chừng hai tuần lễ, nơi đó sẽ biến thành một cái  …nhà thổ ngay tức khắc !

Tôi lại băn khoăn tự hỏi, chả hiểu là những tiểu thư khuê các chủ nhà giờ đã phiêu bạt nơi nào ? Có thể là nàng đã trở thành tổ viên của một cái hợp tác xã nào đó ở những vùng kinh tế mới; có thể là nàng đã vùi thây trong lòng biển trên đường đào thoát khỏi thiên đường; cũng có thể là nàng đã trở thành một “waitress”, hoặc đang lo nhuộm tóc và đổi tên cho hợp với phong tục và thủy thổ nơi những vùng xa lạ !

Thảng hoặc, trên những đại lộ quí phái đó tôi lại bắt gặp một giàn hoa giấy đỏ tươi màu xác pháo . Màu hoa thắm quá nên dù không phải là thi sĩ, tôi vẫn không tránh được cái thương cảm bâng khuâng:

Đình thụ bất tri nhân tận khứ
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa

Thương ơi:

Cây có biết đâu người đã vắng
Xuân về vẫn nở cánh hoa xưa .

Gió đã gây gây lạnh . Tôi thốt nhớ bây giờ đã là tháng Mười Hai . Thảo nào, hoa giấy nở . Lại thêm một mùa Giáng Sinh nữa đến, ở một nơi mà Chúa đã khước từ . Tôi thấy đói nên theo đường Công Lý về lại trung tâm thành phố . Chiều đã xuống chạng vạng . Phải nhìn thấy “Saigon by Night” mới hiểu được thấm thía thế nào là đổi đời thế nào là tàn tạ !

Quốc Tế, Bồng Lai đều đóng cửa . Queen Bee , Đêm Màu Hồng, Hòa Bình, Paramount, Tour D’Ivoire đều cũng chả còn . Sao bỗng nhớ cái màu ánh đèn vàng ấm của phòng trà, tỏa nhẹ trên một tấm khăn bàn thật trắng, trên đó khép nép một bình hoa tươi nho nhã, và sóng sánh một ly rượu màu hổ phách . Tôi công nhận là mình khá ham chơi và hơi phù phiếm . Đã vậy, có lúc tôi còn thành thực tin rằng đời sống – đôi lúc – cũng cần có những giây phút phù phiếm cần thiết chứ ? Khổ ỗi, quê hương tôi nghèo khốn quá . Người cộng sản đã dẹp bỏ những nơi giải trí tốn kém này . Tôi cũng đành đồng ý vì họ có lý khi làm như vậy . Nhưng sau đó thì chuyện gì xảy ra và Sài Gòn về đêm còn gì ?

Xin thưa, chả còn gì cả ngoại trừ vô số những kẻ ngủ đường . Bên cạnh những ông anh bà chị ngủ đường chuyên nghiệp, còn có vô số những người “bụi đời bất đắc dĩ” . Họ vừa mới bị nhà nước mượn nhà với cả trăm lý do khác nhau . Những người này sống bằng cách nào – đối với tôi – thực là một chuyện khó hiểu . Tôi hài lòng khi thấy họ nằm chờ chết ở lề đường . Như vậy vẫn còn hơn là đi tìm những cái chết chóng vánh ở vùng kinh tế mới !

Một hình ảnh lạ đập vào mắt khiến tôi thắng vội xe . Dưới gầm một chiếc Molotovav, hai ba chú bộ đội đang lui cui chụm lửa nấu cơm . Dù bây giờ . Dù bây giờ Sài Gòn đã tối tăm u buồn đi nhiều lắm, nhưng hình ảnh một đống lửa lập lòe, soi sáng một nồi cơm độn bắp vẫn là điều coi rất là không ổn . Tưởng sau Đại Thắng Mùa Xuân 1975 thì cuộc đời của các đồng chí bộ đội có gì thay đổi chứ ? Còn nếu vẫn cứ lui cui với củi lửa ngô khoai ngay giữa phố Sài Gòn thì thà là ở luôn trong rừng Trường Sơn, mặc cho muỗi đốt, mà đời lính – may ra – còn có đôi chút ảo tưởng về lý tưởng hay chính nghĩa !

Sau khi kiếm chuyện để đổi tiền và kiểm kê tài sản năm bẩy lượt ở miền Nam, một thằng đui cũng thấy rằng cái được người cộng sản mệnh danh là cách mạng – thực chất – cũng chỉ là một vụ kinh doanh mà Đảng đã mượn vốn là máu xương của mọi tầng lớp nhân dân . Tưởng đâu là sau khi làm ăn trót lọt rồi thì những kẻ sống sốt cũng phải được chia chác chút đỉnh cả vốn lẫn lời chứ . Đâu có ai ngờ sự thể lại thê thảm đến là như vậy . Từ bé đến giờ tôi đã xem ít nhất là một trăm chuyện và phim ăn cướp . Tôi chưa hề thấy cái đảng cướp nào ăn dơ ở bẩn và đối xử với đàn em khốn nạn như Đảng Lao Động Việt Nam .

Tôi tiếp tục chầm chậm đạp xe về . Lòng mỗi lúc một thêm não nề và uất hận . Lại thấy nhớ, thương và phục cụ Nguyễn Du quá sức . Thảm cảnh của Sài Gòn hôm nay, chỉ có hai câu Kiều này là diễn tả được trọn vẹn và chính xác:

Lạ gì một thói sai nha
Làm cho khốc hại chả qua vì tiền


Tưởng Năng Tiến


Mời nghe: Saigon ngày trở lại – Tưởng Năng Tiến – Cát Bụi đọc


25/01/2010 Posted by | Tùy bút | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cuối Năm Nghe Chơi Một Băng Nhạc Tết

Xuân về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn …

Nếu thực sự có mùa xuân êm đềm và tươi thắm quá cỡ như vậy mà bạn vẫn chưa hài lòng thì xin nghe thêm vài câu nhạc nữa:

Có một chàng thi sĩ miền quê
Hái bông hoa trao người xuân thì
Có một bầy em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón xuân về …

Tôi dám cá là suốt Thời Trung Cổ, không nơi nào trên trái đất này, có một mùa xuân tươi thắm và êm đềm hơn là Phạm Duy vừa mô tả – qua bản nhạc Hoa Xuân, như vừa dẫn. Nhưng Phạm Duy không phải là người thuộc Thời Trung Cổ. Ổng cùng thời với tôi và bạn. Vậy chớ ông ta viết về mùa xuân nào ( vào thời đại chúng ta ) mà thái hòa an lạc dữ vậy kìa ?

Thiệt nó đẹp như mơ vậy đó nha. Và sao tui nghi là ổng đã nằm mơ quá hà. Chớ giữa chúng ta, nhất là những kẻ sinh trưởng ở miền Nam Việt Nam, có mấy ai đã từng nhìn thấy một bờ đê. Cái đê trần trụi vắng hoe cũng khỏi có luôn, nói chi đến ” một bầy em bé … hát câu i tờ đón xuân về “, vào một buổi chiều xuân nào đó, đã xa lắc xa lơ, trên bờ đê lộng gió.

Còn chuyện ” có một chàng thi sĩ miền quê, ngắt bông hoa trao người xuân thì ” ( thì … ôi thôi ) nhắc làm chi cho nó thêm buồn. Tui nói vậy bạn dám cãi lắm à nha, dám bạn sẽ đưa Nguyễn Bính ra làm bia đỡ đạn, với lý do ” ổng là thi sĩ miền quê cuối cùng ” của thời đại chúng ta. Tệ hơn nữa, bạn còn dám mang Nguyễn Duy ra để hù tui, bằng những bài thơ lục bát làm ” phóng ảnh treo tường ” ( để bán ) của ổng.

Xin lỗi bạn chớ, cỡ Tú Xương đây mà cũng đã có lúc phải ứa lệ – rấm rứt khóc thầm ( dám bằng tiếng Pháp ) vì nạn đô thị hóa, đây nè :

Sông kia giờ đã nên đồng
Chỗ lam nhà cửa, chỗ giồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng ai gọi đò …

Xá gì Nguyễn Bính, nói chi đến cỡ Nguyễn Duy. Nói gọn lại, tui tin rằng chỉ có Nguyễn Khuyến mới là nhà thơ cuối cùng của dân tộc Việt Nam :

Tháng Giêng hai mươi mốt chợ Đồng
Năm nay chợ họp có đông không
giở giời mưa bụi còn hơi rét …

Chớ còn mấy trự thi sĩ lóc nhóc sau này đều đã bị đô thị hóa và đã ” phong sương mấy độ qua đường phố ” hết trơn rồi – theo như cách nói của Sơn Nam. Và tôi ngại nhất là cái kiểu bụi đời ướt át của ông Thế Lữ :

Rũ áo phong sương trên gác trọ
Ngắm nhìn thiên hạ đón xuân sang

Cái gác trọ này – tôi bảo đảm – nằm ở Hà Thành, vào cuối thập niên ba mươi hay đầu bốn mươi gì đó. Thêm cái kiểu cách ” rũ áo phong sương ” đủ khiến chúng ta hình dung ra được cả đám Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Xuân Diệu, Huy Cận … đã sống cải lương chết mẹ đi rồi. Đâu còn ” thi sĩ miền quê ” nào nữa.

Đô thị hóa, tất nhiên, không phải chỉ xảy ra ở Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Không tin, cứ đọc Nguyễn Bính mà xem :

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Đã mấy mùa xuân én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa phượng nở
Riêng ta với người buồn lắm thay

Bạn thấy chưa : lại thêm hai ông nhô con bỏ nhà ” dzô ” Nam, thuê gác trọ, sống giữa Sài Thành Hoa Lệ. Mà đi giang hồ chút đỉnh vậy là phải chớ. Chính quê hương của Nguyễn Bính cũng đã nhiễm bụi thị thành từ lâu rồi, còn nấn ná ở đó làm chi cho mụ người ra :

Hoa chanh mọc ở vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình dân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hoa đồng cỏ nội bay đi ít nhiều …

Coi : nàng mới ra tỉnh có chút xíu hà mà hoa đồng cỏ nội đã bay đi mất liền một mớ. Lỡ mà ” ẻm ” ghé chơi Hà Nội hay Hải Phòng ( chậm lắm ) ba đêm kể như rồi, còn gì là ” người xuân thì ” theo tiêu chuẩn ” chân quê ” nữa ?

Bạn hết cãi chưa ? Dù bạn đã tắt đài, tôi biết bạn vẫn còn ấm ức vì cái giọng điệu hoài cổ cực đoan và quá khích của tui từ khi đặt bút xuống cho tới bây giờ – đúng không ?

Đừng có nghĩ bậy bạ như vậy, mang tội chết à nha. Coi : cuộc tình dấm dớ của một anh thi sĩ miền quê với một người con gái xuân thì, hay một hình ảnh bờ đê lộng gió – với một bầy em bé tung tăng, hát câu i tờ, vào một chiều xuân mà nắng vàng hanh … – hoàn toàn và tuyệt đối có liên quan, dính dáng gì tới tui đâu. Cớ sao tôi lại hoài cổ chớ ? Đây là chuyện riêng của … Bà Huyện Thanh Quan hay ( cùng lắm ) là của ông nội hay của ông già tôi thôi à.

Mà hoài cổ, theo tôi, là thứ tình cảm hơi khó hiểu. Làm sao chúng ta có thể yêu mến hay ngưỡng mộ một thời đại mà mình tuyệt đối không có dính dáng gì tới nó ? Hoài vọng hay hoài cảm, có lẽ, dễ hiểu và phổ biến hơn. Mọi người, khi bắt đầu luống tuổi, hẳn đều thấy tiếc nuối ít nhiều khoảng ấu thơ hay niên thiếu của mình – dù chúng ta sinh ra và trưởng thành ở bất cứ đâu.

Dù vậy, tôi vẫn lậy Trời cho bạn đừng xui tới cỡ là sinh ra ở miền Bắc – vào khoảng thập niên 1940, 50 hay 60 … – và cứ phải sống mãi ở nơi đó cho đến bây giờ. Tuổi thơ và tuổi trẻ của bạn – tất nhiên – cũng đẹp, cũng thơ mộng vậy ; tuy nhhiên, tôi tin là nó sẽ đẹp hơn, mộng mơ hơn chút đỉnh nếu Bác và Đảng đừng xía vô cuộc đời bạn quá nhiều – như họ đã và vẫn thuờng làm, từ nửa thế kỷ qua.

Còn nếu bạn sinh trưởng ở miền Nam thì đỡ mệt biết chừng nào. Sẽ không ai bắt bạn phải đeo khăn quàng đỏ và đi nhặt rác để hoàn thành kế hoạch nhỏ. Bạn cũng được miễn cái vụ ” thay trời làm mưa ” hay ” nghiêng đồng cho nước chảy ra ngoài “, và bạn được tự do đi biểu tình ” đả đảo ” bất cứ thằnng cha hay con mẹ nào mình không thích.

Trong một hoàn cảnh sống tương đối dễ thở như thế ( và nếu bạn lại sinh trưởng ở một thành phố cao nguyên ) thì nhìn thấy mùa ” xuân về trên bãi cỏ non ” là chuyện thường thôi. Điều đáng tiếc là những ngày tháng an lành, phẳng lặng đó không kéo dài lâu. Đến khoảng cuối thập niên năm mươi, theo trí nhớ của tôi, trong không khí an bình của miền Nam thoang thoảng có mùi vị chiến tranh – qua những bản nhạc tâm lý chiến ( thường được hát ở phòng trà và nghe hơi diễu cợt ), của những ông nhạc sĩ quân đội, như bản Phiên Gác Đêm Xuân của Nguyễn Văn Đông :

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chờ xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Nào ngờ đâu hoa lá rơi …

Trời đất, đơn vị bạn đụng địch, ” súng xa vang rền ” mà đại tá Nguyễn văn Đông vẫn đang mơ ngủ. Không hề nghe ổng ban lệnh ứng chiến hay kế hoạch cứu viện gì hết trơn hết trọi ; đã vậy, sau khi tỉnh giấc, ổng bắt đầu … mơ mộng :

Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Và ước chiếc bánh ngày xuân

Thiệt tình, ổng làm đảo ngược binh pháp hết trơn. Người ta thì cư an tư nguy còn ổng thì cư nguy tư an. Những sĩ quan cao cấp trong quân đôi miền Nam, như đại tá Nguyễn văn Đông, chắc có hơi nhiều ; bởi vậy – chỉ chừng mười năm sau – năm 1968 thì súng AK của Trung Cộng và Tiệp Khắc nổ thiệt, và nổ khắp bốn mươi tỉnh lị và thành phố của miền Nam ( kể luôn thủ đô Sài Gòn ).

Cũng từ đây, chiến tranh lan vô thành phố. Nay, ” plastic ” đặt nổ chỗ này ; mai, hỏa tiễn 122 ly rơi ” lộn ” vô chỗ khác. Và dù vậy, xã hội miền Nam vẫn cứ vui như tết – khi Tết đến. Nếu so với miền Bắc – nơi mà vì ” hoàn cảnh đất nước khó khăn ” nên chỉ có quí vị ủy viên trung ương đảng CSVN uống rượu mừng xuân thay cho cả nước – người dân miền Nam hoàn toàn bình đẳng trong chuyện đón xuân. Cứ nghe bản Ly rượu mừng của Phạm Đình Chương là đủ biết :

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Á … a … a … a
Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Á … a … a … a
Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Á … a … a … a
Muôn lòng xao xuyến duyên đời
Rót thêm tràn đây chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đường
Chiến đấu công thành
Sống cuộc đời lành
Mừng người vì nước quên thân mình

Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương
Á … a … a …
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính
Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Nào cạn ly mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca chấm phá tô nên đời mới
Bạn hỡi vang lên lời hứa thiêng liêng
Chúc non sông hào bình hòa bình
Ngày máu sương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
Đợi anh về trong chén tình đầy vơi
Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hòa

Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình dâng phơi phới

Nẫy giờ đâu mới chừng mười phút mà mỗi người đâu đã uống cỡ chục ly : ly tặng anh nông phu, ly chào anh công nhân, ly mừng ông thương gia, ly mừng người nghệ sĩ … Chưa đã, còn thêm vài ” chén quan san ” để ” chúc người binh sĩ lên đường ” nữa. Vui còn hơn tết và cả nước, chắc chắn, ” xỉn ” thấy mẹ luôn !

Cũng có những chiến sĩ, say mê chiến đấu ( hay đãng trí ) đến độ quên luôn cả nhậu :

Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở
Anh đâu biết xuân về hay chưa

Nghe thiệt khó tin. Lính miền Nam tháng tháng được lãnh lương đàng hoàng mà, nhìn sổ lương là biết năm cùng tháng tận chớ cần gì tới hoa mai với hoa đào – như ông nhạc sĩ lính kiểng Trần Thiện Thanh, qua bản Đồn Vắng Chiều Xuân.

Lâu lâu mới thấy những người lính nhất định Xuân Này Con Không Về :

Con biết không về mẹ chờ em trông
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lớp trai hùng chào xuân chiến trường
Không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này không về …

Những chàng trai hùng cỡ này, tiếc thay, thường không giữ những chức vụ cao trong quân đội. Điều đáng tiếc hơn nữa, trong cuộc chiến tự vệ vừa qua, quân dân miền Nam đã áp dụng một chiến lược sai lầm. Thay vì ” vui nhiệm vụ không quên xuân ” thì họ đã làm ngược lại là ” vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ “. Nói cách khác ” vui xuân ” mới là chuyện chính, còn ” nhiệm vụ ” chỉ là chuyện phụ ( và là chuyện nhỏ thôi ) !

Cùng lúc – ở miền Bắc Việt Nam – khi Tết đến ( sau khi nghe bác Hồ, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, tổng bí thư, thủ trưởng ban ngành, đơn vị … chúc tết xong ) là mọi người đâm bổ đi ” tranh thủ làm việc gấp hai ” để ” thi đua lập chiến công dân đảng “. ( Đ … mẹ chơi vậy ai chơi cho lại ! )

Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt ra sao, vào mùa Xuân năm 1975, mọi người đều biết ( và đều tiên đoán được ). Từ đó, nhân dân hai miền đều chỉ còn được nghe một bản nhạc xuân duy nhất : Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh, ôi đẹp biết bao, biết mấy tự hào. Sài Gòn ơi cả nước vẫy tay chào …

Cũng như bạn, tôi chịu không nổi cái loại nhạc thổ tả này nên đã vẫy tay chào ” thành phố Hồ Chí Minh quang vinh ” để … ra đi – và đi hơi sớm. Từ đó đến nay đã gần một phần tư thế kỷ. Hai mươi lăm năm qua – Trời đất ( thiên địa, quỉ thần, mèn đét ) ơi – biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước mương, nước rãnh … đã ào ào chảy qua cầu ( và qua cống ) ?

Chiều nay, chiều cuối năm, ở một góc trời xa, tôi ngồi ghi lại những ý nghĩ lan man vụn vặt để gửi bạn đọc chơi -sau khi nghe hết một băng nhạc trong quán vắng, bắt đầu từ bản Hoa Xuân của Phạm Duy, đến bản cuối cùng ( Xuân Này Con Không Về ) của Trịnh Lâm Ngân.

Nhạc xuân gì nghe buồn quá má ơi !

Tưởng Năng Tiến

25/01/2010 Posted by | Tùy bút | %(count) bình luận

    Bài kế »